Tuần 2

11/06/201521:32(Xem: 20165)
Tuần 2
                                         TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI
                                         ( TUẦN THỨ 2  THÁNG 10, 2014)
 
                                                   Diệu Âm lược dịch

 

 

HOA KỲ: Giải thưởng Sách Toshihide Numata về Phật giáo năm 2014

 

Vào ngày 19-9-2014, Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo tại trường Đại học California, Berkeley, đã công bố những người đoạt Giải thưởng Sách Toshihide Numata năm nay là: Erik Braun, giáo sư Nghiên cứu Tôn giáo tại trường Đại học Oklahoma, và John K. Nelson, giáo sư Thần học và Nghiên cứu Tôn giáo tại Đại học San Francisco.

Cuốn ‘Tuệ Sanh: Thiền định, Phật giáo Hiện đại, và Tăng sĩ Miến Điện Ledi Sayadaw’ của Erik Braun khám phá, trình bày và phân tích những đóng góp cho Phật giáo của nhà sư Miến Điện Ledi Sayadaw. Sách xuất bản năm 2013 bởi Nhà xuất bản Đại học Chicago

Và cuốn ‘Phật giáo Thực nghiệm: Đổi mới và Hoạt động tại Nhật Bản đương thời’ của John K. Nelson (do Nhà xuất bản Đại học Hawaii xuất bản năm 2013) nêu bật sự tương tác phức tạp giữa các truyền thống tôn giáo lâu đời và những thay đổi nhanh chóng về xã hội, văn hóa và kinh tế trong xẫ hội Nhật Bản.

Với trị giá 10,000 usd, Giải thưởng Sách Toshihide Numata được trao tặng cho các nhà văn của những cuốn sách bằng tiếng Anh trong bất cứ lĩnh vực nào của Nghiên cứu Phật giáo.

Những người đoạt giải năm nay sẽ nhận giải thưởng tại Trung tâm Tịnh độ Chân tông ở Berkeley vào ngày 14-11-2014. Sau đó, sẽ có 2 bài phát biểu và một hội nghị chuyên đề về các chủ đề được thảo luận trong các cuốn sách này.

(Buddhist Door – October 10, 2014)

 

blank

blankHai cuốn sách đoạt Giải thưởng Sách Toshihide Numata 2014:

Ảnh trên: Tuệ Sanh của Erik Braun

Ảnh dưới: Phật giáo Thực nghiệm của John K. Nelson

Photos: Amazon

 

 

NHẬT BẢN: Phát hiện những mảnh ngói có liên quan đến nhà sư Trung Hoa Giám Chân

 

Nara, Nhật Bản – Các nhà khảo cổ học đã khai quật được những mảnh ngói có thể đã được trang trí cho một đài tưởng niệm Giám Chân, tu sĩ kiên cường đến từ Trung Hoa, là người đã giúp truyền bá Phật giáo tại Nhật Bản trong thế kỷ thứ 8.

Những mảnh ngói này có mẫu hình sóng độc đáo thuộc về Chùa Toshodaiji, vốn được Giám Chân thành lập vào năm 759, Viện Khảo cổ Kashihara của tỉnh Nara và chùa này cho biết vào ngày 9-10-2014.

Viện Kashihara nói rằng 65 mảnh ngói đã được tìm thấy tại một điểm khai quật trong khuôn viên chùa Toshodaiji, nằm giữa Giảng đường Kodo và khu trú phòng trước đây của chư tăng.

Viện trưởng Fuminori Sugaya nói: “Có thể là chư tăng đã lập một đền thờ nhỏ tôn trí chân dung của Giám Chân bên trong khu trú phòng, nơi họ trang trí ngói có hình sóng để tưởng niệm nhà sư nước ngoài đã vượt biển đến đây”.

Mảnh ngói lớn nhất dài 22.5 cm, cao 75 cm và dày 4.5 cm. Các mảnh ngói, có khả năng được sản xuất vào thế kỷ thứ 8, có lớp men màu xanh lục, trắng và nâu theo phong cách gốm Nara Sansai (Nara 3 màu).

Từ ngày 11 đến 13-10-2014, Giảng đường Kodo trưng bày những mảnh ngói mới được phát hiện này.

(Asahi Shimbun – October 10, 2014)

 

blank

Các mảnh ngói kiểu Nara 3 màu được phát hiện tại chùa Toshodaiji ở Nara, Nhật Bản

Photo: Toshiyuki Hayashi

 

 

HOA KỲ: Triển lãm ‘Con đường của Bồ đề Đạt ma’

 

Pasadena, California – Cuộc triển lãm “Tuệ trí: Con đường của Bồ đề Đạt ma” đang được tổ chức tại Phòng Trưng bày Tiêu điểm ở Bảo tàng Thái Bình Dương Châu Á của USC (Đại học Nam California) cho đến ngày 15-2-2015.

Triển lãm khám phá chân dung của nhà sư Phật giáo Bồ đề Đạt ma (được gọi là Daruma tại Nhật Bản) và tìm hiểu làm thế nào mà nhân vật tôn giáo này đã trở thành một biểu tượng phổ biến – thông qua một loạt hiện vật, từ những tranh và tác phẩm điêu khắc cho đến những vật trang trí và đồ chơi.

Đươc ghi nhận với việc du nhập Thiền Phật vào Trung Hoa trong thế kỷ thứ 6, nhà sư Ấn Độ Bồ đề Đạt ma đã trở thành một chủ đề nổi tiếng trong nghệ thuật Phật giáo. Khi Thiền Phật trở nên phổ biến, người ta đã phát triển nhiều truyền thuyết khác nhau liên quan đến vị Thiền sư này, và các nghệ sĩ đã bắt đầu mô tả những truyền thuyết ấy cùng với những bức chân dung của ngài.

Những mô tả truyền thống về Bồ đề Đạt ma được thể hiện bằng mực đơn sắc với những nét cọ phóng túng đầy ấn tượng, ám chỉ việc giảng dạy của ngài vốn tập trung vào bản chất của việc đạt ngộ qua thiền định.

Ngày nay, những mô tả của Bồ đề Đạt ma vẫn còn được tìm thấy rộng rãi trong cả mỹ thuật lẫn văn hóa phổ thông.

(rafu.com – October 10, 2014)

 

blank

Tranh miêu tả Bồ đề Đạt ma qua sông bằng một cành cây gãy

Photo: Wikipedia.org

 

 

ẤN ĐỘ: Phật tử tham gia lễ dâng y lần thứ 13

 

Ngày 12-10-2014, hàng trăm tín đồ Phật giáo đã tập trung tại Chùa Đại Giác ngộ ở Bồ đề Đạo tràng để tham dự lễ ‘Maha Kathina Civara Dana’ lần thứ 13.

Kathina Civara Dana, hay là lễ dâng y, là một lễ hội trong đó Phật tử cúng dường những vật phẩm khác nhau, bao gồm y dành cho chư tăng.

Một tín đồ đến từ Thái Lan nói: “Sau mùa mưa, y của chư tăng bị sờn mòn. Vì vậy, nhiệm vụ của Phật tử chúng tôi là cúng dường y mới cho họ, và dâng những vật phẩm mới để họ có thể được thuận lợi trong cuộc sống và khi thiền định”.

“Động cơ của dự án này nhấn mạnh nhiệm vụ của một Phật tử là làm theo những truyền thống cổ xưa và thiêng liêng. Đây là phương pháp hỗ trợ và duy trì tôn giáo của chúng tôi. Nơi này là thánh địa của sự giác ngộ, được xem là linh thiêng nhất của tôn giáo chúng tôi”, ông nói thêm.

Y mà chư tăng đắp được gọi là Civara, và người ta tin rằng việc dâng y cho chư tăng là sự cúng dường cao nhất theo Phật giáo.

(ANI – October 12, 2014)

 

blank

Chùa Đại Giác ngộ ở Bồ đề Đạo tràng, Ấn Độ

Photo: shunya.net

 

 

ẤN ĐỘ: Đức Đạt lai Lạt ma chúc mừng 2 người đoạt giải Nobel Hòa bình 2014

 

Ngày 11-10-2014, Đức Đạt lai Lạt ma đã gửi thư chúc mừng 2 người đoạt giải Nobel Hòa bình là Malala Yousafzai và Kailash Satyar. Ngài nói rằng giải thưởng này sẽ như là một lời nhắc nhở về tầm quan trọng cơ bản của giáo dục.

Ngài bảy tỏ cảm tưởng của mình đối với cả hai người đoạt giải rằng “quyết định trao tặng Giải Nobel Hòa bình chung cho một nam và một nữ, một người Ấn Độ và một người Pakistan, nhấn mạnh rằng chỉ khi con người như anh chị em của nhau thì chúng ta mới tạo ra một thế giới yên bình, hạnh phúc hơn”.

Đức Đạt lai Lạt ma khen ngợi cả 2 người vì đã “làm việc để giúp đỡ trẻ em, là nhóm thuộc những người vô tội và dễ bị tổn thương nhất, nhưng cũng là những hạt giống của tương lai, mà tương lai sẽ chỉ có thể được bảo đảm nếu chúng ta bảo đảm rằng trẻ em nhận được một sự giáo dục đầy đủ và bình đẳng”.

(Big News Network – October 12, 2014)

 

 

 

blank 
Trở về Mục Lục 
Tin Tức Phật Giáo Thế Giới 

quadiacau_thegioi
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/07/2011(Xem: 13020)
Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật tồn tại đến ngày nay là do sự truyền thừa từ đức Phật đến chư tổ. Tổ lại truyền cho tổ, ‘Tổ tổ tương truyền’ tiếp diễn từ đời nầy sang đời khác. Sự truyền thừa được thể hiện qua hai phương diện giáo lý và thật hành. Về phần giáo lý thì mỗi tông phái đều sáng lập giáo nghĩa, tông chỉ riêng biệt và đều lấy kinh điển của Phật làm nền tảng. Về phần thật hành hay phần sự có khác biệt là tùy theo giáo nghĩa và tư tưởng của mỗi tông. Mỗi tông phái đều truyền bá và xiển dương pháp môn của mình trong tông môn và quần chúng Phật tử. Mỗi tông phái của đạo Phật được ví như mỗi loại hoa của vườn hoa Phật pháp. Mỗi loại hoa có nét đẹp và hương thơm riêng biệt, để khoe sắc hương, nhưng tất cả đều ở trong vườn tịnh của Phật pháp. Cũng như vậy, mỗi tông phái đều là của đạo Phật và đều cùng mang một vị, đó là vị ‘giải thoát’. Trong phần sưu tập về tông phái Thiên thai, chúng tôi chia thành hai giai đoạn chính. Đó là sự sáng lập tông phái ở Trung Quốc, sau nhiều thế kỷ
24/06/2011(Xem: 4151)
Theo kết quả điều tra dân số năm 2001, Ấn Độ quê hương của Đức Phật, hiện là quê hương của 3.881.056 nữ Phật tử (1). Hiện ước chừng có khoảng 300 triệu nữ Phật tử trên thế giới, trong đó 130.000 vị Ni. Cộng đồng ngày càng lớn mạnh này có một vị trí rất đáng tự hào trong một truyền thống mà ở đó Ni giới và nữ Phật tử từ rất lâu đã là một bộ phận không thể tách rời của Tăng già, gần như ngay khi Tăng già được thành lập. Tuy vậy, ngoài những câu chuyện cảm động được kể lại trong Trưởng lão Ni kệ (2), một cuốn sách trong đó các vị Tỳ kheo Ni tiền bối kể lại quá trình nỗ lực cố gắng và những thành quả mà các vị đã đạt được trên bước đường tới quả vị A La Hán, không có một chứng cứ lịch sử nào được chứng minh. Kết quả là, ghi chép về những đóng góp của nữ giới Phật giáo giờ chỉ còn lại trong những nhân vật văn học của Trưởng lão Ni kệ.
24/06/2011(Xem: 4023)
Phong trào phát triển một đường lối Phật Giáo mới, về sau nầy được gọi là Mahayana (Đại thừa), bắt đầu thành hình trong thời gian 250 năm, từ năm 150 TCN đến 100 CN, là kết quả tích tụ của nhiều phát triển vốn có từ trước. Nguồn gốc của nó không liên hệ với một cá nhân nào, và cũng không đặc biệt liên kết với một tông phái nào của thời kỳ Phật Giáo sơ khai. Có thể phong trào đó khởi dậy từ nhiều nơi trong xứ Ấn Độ, tại miền nam, miền tây bắc và miền đông.
23/06/2011(Xem: 3862)
Quảng Hoằng Minh Tập là bộ sử liệu về tư tưởng Phật giáo do danh tăng Thích Đạo Tuyên (596-667) đời Đường biên soạn. Sách gồm những bài viết Phật học từ đời Ngụy Tấn đến sơ Đường của hơn 130 tác giả.
20/06/2011(Xem: 11825)
Vào năm 1949, tôi đã cùng thầy Trí Hữu, một vị Thượng tọa từ Đà Nẵng thành lập nên Phật Học Đường Ấn Quang ở Sài Gòn. Tôi dạy lớp sơ cấp đầu cho các vị Sadi. Hồi đó tên chùa là Ứng Quang. Chùa vách tre lợp lá rất đơn sơ. Khi đó chiến tranh đang diễn ra giữa quân đội Pháp và lực lượng kháng chiến Việt Minh.
20/06/2011(Xem: 3927)
Thông thường ai cũng nghĩ rằng đạo Phật chỉ mới được truyền sang tây phương trong các thế kỷ gần đây mà thôi, mà quên rằng trong nhiều thế kỷ trước tây lịch PG đã thấm nhuần vùng Tiểu Á và tây bắc Ấn, rồi ảnh hưởng trên cả nền triết học Hy-lạp và giáo lý của vài tôn giáo lớn có nguồn gốc tây phương. Phật tử Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo pháp truyền từ Trung quốc nên ít biết đến sự giao hòa của hai nền văn hóa Hy-lạp và PG khởi đầu rất sớm ở vùng đất này.
18/06/2011(Xem: 7445)
Ký giả được xem công văn này trước nhất, liền cho mời Ông Viên Quang là Tổng thư ký của Hội Việt Nam Phật giáo đến bàn việc triệu tập Hội đồng để thảo luận việc quan trọng đó. Nhưng đến buổi họp thì ký giả chẳng may vừa bị cảm nặng, nhân có Cụ BÙI THIỆN CƠ, Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo đến thăm, bèn dặn với Cụ rằng: “Nếu Hội đồng có cử đến tôi, thì nhờ Cụ cố từ chối cho, vì tôi mới bị bệnh, hơn nữa còn bận nhiều công việc”. Sau buổi họp đó, Cụ BÙI THIỆN CƠ và Cụ TRẦN VĂN ĐẠI lại đến phòng bệnh cho biết rằng: “Hội đồng đã đề cử một vài vị Thượng toạ, nhưng các Ngài đều viện cớ rằng: Thượng toạ là Hội trưởng Hội Tăng Ni Bắc Việt lại là Phó Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo, phải lấy tư cách ấy mà ứng phó với thơ mời của Chính phủ để gia nhập Phái đoàn Phật giáo Việt Nam thì đối với cả trong Thuyền gia lẫn người ngoài Thiện tín mới được danh chính ngôn thuận.
10/06/2011(Xem: 9446)
Cách đây hơn hai nghìn năm, Việt Nam là trung tâm mậu dịch buôn bán, rất nhiều thương thuyền của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước Nam hải khác đến miền bắc Việt Nam. Các Tăng lữ Ấn thường đi cùng các thuyền buôn trên đường đến Trung Quốc, dừng lại Việt Nam trong một thời gian ngắn. Vì vậy có thể nói, Việt Nam tiếp xúc Phật giáo Ấn Độ sớm hơn Trung Quốc. Tuyến đường biển là tuyến đường Phật giáo tiểu thừa Ấn Độ truyền vào Trung Quốc và cũng là con đường Tây vực truyền vào Trung Quốc; mặt khác, Phật giáo Việt Nam lại được truyền đến từ Trung Quốc (Thiền Nam tông), chính ở đây diễn ra sự giao hội, dung hợp hết sức thú vị của hai dòng phái Phật giáo này diễn ra trên đất Giao Chỉ. Một là Phật giáo Nam tông hai là Phật giáo Bắc tông.
26/05/2011(Xem: 3862)
Trong lịch sử hình thành Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo châu Á nói chung, Luy Lâu được coi là chiếc nôi của Phật giáo. Nó được coi là Trung tâm Phật giáo xuất hiện sớm nhất trong ba trung tâm Phật giáo thời kỳ khởi thuỷ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á: Trung tâm Phật giáo Luy Lâu; Trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành (thuộc Trung Hoa).
14/05/2011(Xem: 10399)
Trước khi tìm hiểu kỹ về Thiền tông, chúng ta nên có một quan niệm tổng quát về tông phái này thì khi đi sâu vào chi tiết sẽ bớt bỡ ngỡ. Ngay đối với số đông các Phật tử Việt Nam, Thiền tông cũng là một tông phái được ít người hiểu đến vì tính cách kỳ đặc của pháp tu này, vì vậy nên có những xét đoán, phê bình không đúng. Chúng ta nên tránh việc phê bình, chỉ trích các tông phái khác tông phái mình đang tu, vì tông phái nào cũng đòi hỏi một sự học hỏi sâu xa, nên thường khi chỉ trích các tông phái khác thì chỉ căn cứ theo một số hiểu biết hời hợt về tông phái đó, vì vậy những lời chỉ trích thường không đúng được, và chỉ gây thêm những tranh luận vô ích, mất thì giờ. Chúng ta nên tìm học kỹ để phân biệt rõ ràng và thực hành đúng lời Phật dạy, chứ không phải để tranh luận, chỉ trích.