Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Quyển Thứ 330: Hội thứ nhất Phẩm Xảo Phương Tiện thứ 50-3

18/04/201311:27(Xem: 15225)
Quyển Thứ 330: Hội thứ nhất Phẩm Xảo Phương Tiện thứ 50-3

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 14

Quyển Thứ 330: Hội thứ nhất Phẩm Xảo Phương Tiện thứ 50-3

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

Nguồn: Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

Phật nói: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Nghĩa chẳng thể nói không tăng không giảm, bố thí Ba la mật đa cũng không tăng không giảm; tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa cũng không tăng không giảm. Bốn niệm trụ cũng không tăng không giảm; bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi cũng không tăng không giảm. Bốn tĩnh lự cũng không tăng không giảm; bốn vô lượng, bốn vô sắc định cũng không tăng không giảm. Tám giải thoát cũng không tăng không giảm; tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ cũng không tăng không giảm. Không giải thoát môn cũng không tăng không giảm; vô tướng, vô nguyện giải thoát môn cũng không tăng không giảm.

Cực hỷ địa cũng không tăng không giảm; Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa cũng không tăng không giảm. Năm nhãn cũng không tăng không giảm, sáu thần thông cũng không tăng không giảm.tam ma địa môn cũng không tăng không giảm, đà la ni môn cũng không tăng không giảm.

Phật mười lực cũng không tăng không giảm; bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng cũng không tăng không giảm. Pháp vô vong thất cũng không tăng không giảm, tánh hằng trụ xả cũng không tăng không giảm. Nhất thiết trí cũng không tăng không giảm; đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí cũng không tăng không giảm.

Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát tu hành Bát nhã Ba la mật đa, an trụ Bát nhã Ba la mật đa phương tiện khéo léo, chẳng tác nghĩ này: Ta đối Bát nhã Ba la mật đa hoặc tăng hoặc giảm. Chẳng tác nghĩ này: Ta đối tĩnh lự, tinh tiến, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba la mật đa hoặc tăng hoặc giảm. Chỉ tác nghĩ này: Duy có danh tưởng rằng là bát nhã Ba la mật đa. Chỉ tác nghĩ này: Duy có danh tưởng rằng là tĩnh lự, tinh tiến, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba la mật đa.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành bố thí Ba la mật đa, đem bố thí câu hành tác ý này và nương đây khởi tâm cùng tất cả căn lành, cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, như Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nhiệm mầu sâu thẳm mà khởi hồi hướng.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành tịnh giới Ba la mật đa, đem tịnh giới câu hành tác ý này và nương đây khởi tâm cùng căn lành, cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, như Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nhiệm mầu sâu thẳm mà khởi hồi hướng.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành an nhẫn Ba la mật đa, đem an nhẫn câu hành tác ý này và nương đây khởi tâm cùng căn lành, cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, như Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nhiệm mầu sâu thẳm mà khởi hồi hướng.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành tinh tiến Ba la mật đa, đem tinh tiến câu hành tác ý này và nương đây khởi tâm cùng căn lành, cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, như Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nhiệm mầu sâu thẳm mà khởi hồi hướng.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành tĩnh lự Ba la mật đa, đem tĩnh lự câu hành tác ý này và nương đây khởi tâm cùng căn lành, cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, như Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nhiệm mầu sâu thẳm mà khởi hồi hướng.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành bát nhã Ba la mật đa, đem bát nhã câu hành tác ý này và nương đây khởi tâm cùng căn lành, cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, như Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề nhiệm mầu sâu thẳm mà khởi hồi hướng.

Do sức phương tiện khéo léo hồi hướng đây, mới chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Sao gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề? Phật nói: Thiện Hiện! Các pháp chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Sao gọi các pháp chơn như, mà nói các pháp chơn như đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề?

Phật nói: Thiện Hiện! Các sắc chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; thọ tưởng hành thức chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Nhãn xứ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Sắc xứ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; thanh hương vị xúc pháp xứ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Nhãn giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; nhĩ tỷ thiệt thân ý giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Sắc giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; thanh hương vị xúc pháp giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Nhãn thức giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Nhãn xúc chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Địa giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; thủy hỏa phong không thức giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Tánh nhân duyên chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; tánh đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Vô minh chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Bố thí Ba la mật đa chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Nội không chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Chơn như chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Bốn niệm trụ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Khổ thánh đế chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; tập diệt đạo thánh đế chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Bốn tĩnh lự chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; bốn vô lượng, bốn vô sắc định chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Tám giải thoát chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Không giải thoát môn chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; vô tướng, vô nguyện giải thoát môn chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Cực hỷ địa chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Năm nhãn chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; sáu thần thông chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Tam ma địa môn chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; đà la ni môn chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Phật mười lực chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Pháp vô vong thất chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; tánh hằng trụ xả chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Quả Dự lưu chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Độc giác Bồ đề chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thiện Hiện! Nhất thiết trí chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Sanh tử chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề; Niết bàn chơn như, đấy gọi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Các pháp chơn như không tăng không giảm, nên chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề cũng không tăng không giảm.

Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát chẳng lìa Bát nhã Ba la mật đa, thường ưa an trụ các pháp chơn như, đều chẳng thấy pháp có tăng có giảm. Do nhân duyên đây, nghĩa chẳng khá nói không tăng không giảm. Bố thí Ba la mật đa cũng không tăng không giảm; tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa cũng không tăng không giảm. Bốn niệm trụ cũng không tăng không giảm; bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi cũng không tăng không giảm.

Bốn tĩnh lự cũng không tăng không giảm; bốn vô lượng, bốn vô sắc định cũng không tăng không giảm. Tám giải thoát cũng không tăng không giảm; tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ cũng không tăng không giảm. Không giải thoát môn cũng không tăng không giảm; vô tướng, vô nguyện giải thoát môn cũng không tăng không giảm.

Cực hỷ địa cũng không tăng không giảm; Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa cũng không tăng không giảm. Năm nhãn cũng không tăng không giảm, sáu thần thông cũng không tăng không giảm. Tam ma địa môn cũng không tăng không giảm, đà la ni môn cũng không tăng không giảm.

Phật mười lực cũng không tăng không giảm; bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng cũng không tăng không giảm. Pháp vô vong thất cũng không tăng không giảm, tánh hằng trụ xả cũng không tăng không giảm. Nhất thiết trí cũng không tăng không giảm; đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí cũng không tăng không giảm.

Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát nương dựa không tăng không giảm, phương tiện tu hành Bát nhã Ba la mật đa, do đây làm cửa nhóm các công đức, bèn chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát Ma ha tát nương dựa không tăng không giảm mới bèn tu hành Bát nhã Ba la mật đa, do đây làm cửa chứa nhóm tất cả công đức, bèn chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề ấy. Bồ tát Ma ha tát này vì dùng sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hay là dùng hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề? Bạch Thế Tôn! Bồ tát Ma ha tát này nếu dùng sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, khi sơ tâm khởi lên thì hậu tâm chưa khởi, không có nghĩa hòa hợp. Nếu dùng hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, khi hậu tâm khởi lên thì tiền tâm đã diệt, không có nghĩa hòa hợp. Như vậy pháp tâm và tâm sở trước sau tìm gạn tới lui không có nghĩa hòa hợp, thì làm sao có thể chứa nhóm các căn lành được. Nếu các căn lành chẳng thể chứa nhóm, thì Bồ tát làm sao chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề?

Phật nói: Thiện Hiện! Ta vì ngươi lược nói thí dụ, khiến kẻ có trí với nghĩa đã nói để được dễ hiểu. Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Như khi đốt đèn, vì ngọn lửa ban đầu năng đốt cái tim hay là ngọn lửa sau năng đốt cái tim? Bạch Thế Tôn! Như ý tôi hiểu. Chẳng phải ngọn lửa ban đầu năng đốt tim, cũng chẳng rời ngọn lửa ban đầu năng đốt tim; chẳng phải ngọn lửa sau năng đốt tim, cũng chẳng rời ngọn lửa sau năng đốt tim. Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Cái tim bị đốt chăng? Bạch Thế Tôn! Thế gian hiện thấy cái tim bị đốt thật. Phật nói: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát cũng lại như vậy, chẳng phải dùng sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, cũng chẳng rời sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chẳng phải dùng hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, cũng chẳng rời hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, mà các Bồ tát Ma ha tát chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát từ sơ phát tâm tu hành Bát nhã Ba la mật đa viên mãn mười địa, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Các Bồ tát Ma ha tát tu học những gì là mười địa viên mãn chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề? Phật nói: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát tu hành Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa khiến cho viên mãn chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Cũng học Tịnh quán địa, Chủng tánh địa, Đệ bát địa, Kiến địa, Bạc địa, Ly dục địa, Dĩ biện địa, Độc giác địa, Bồ tát đia, Như Lai địa khiến cho viên mãn chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Các Bồ tát Ma ha tát đối mười địa này ròng siêng tu học, khi được viên mãn, chẳng phải dùng sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, cũng chẳng rời sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chẳng phải dùng hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, cũng chẳng rời hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, mà các Bồ tát Ma ha tát chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Duyên khởi như thế rất thẳm sâu, rất mầu nhiệm. Nghĩa là các Bồ tát Ma ha tát chẳng phải dùng sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, chẳng phải rời sơ tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chẳng phải dùng hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, chẳng phải rời hậu tâm chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, mà các Bồ tát Ma ha tát vẫn chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Nếu tâm đã diệt, sanh lại được chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Nếu tâm đã sinh, có pháp diệt chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Như vậy. Bạch Thiện Thệ! Như vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Tâm có pháp diệt, phi đương diệt chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy.

Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Tâm trụ là như, tâm ấy là chơn như chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Như vậy. Bạch Thiện Thệ! Như vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Tâm như chơn như mà trụ, hay như thật tế chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Chơn như, thật tế là thẳm sâu chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Như vậy. Bạch Thiện Thệ! Như vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Tức chơn như là tâm chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Rời chơn như có tâm chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Tức tâm là chơn như chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Rời tâm có chơn như chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Chơn như thấy chơn như chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy.

Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Nếu Bồ tát Ma ha tát năng hành như thế, là hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát năng hành như thế là hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Nếu Bồ tát Ma ha tát năng hành như thế là hành chỗ nào? Thiện Hiện đáp rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát năng hành như thế đều không chỗ hành. Sở dĩ vì sao? Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát Ma ha tát hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu không tâm hiện hành, không chỗ hiện hành. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn! Vì trụ trong chơn như đều không hiện hành và chỗ hiện hành vậy.

Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Nếu Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu là hành ở chỗ nào? Thiện Hiện đáp rằng: Nếu Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu hành ở trong thắng nghĩa đế, trong đây hiện hành và chỗ hiện hành đều vô sở hữu, vì năng lấy bị lấy chẳng thể được vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Nếu Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, hành trong thắng nghĩa đế, tuy chẳng lấy tướng mà hành tướng chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, hành trong thắng nghĩa đế vì hoại tướng chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy. Phật bảo: Thiện Hiện! Nơi ý hiểu sao? Bồ tát Ma ha tát này khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, hành trong thắng nghĩa đế vì hoại tướng tưởng chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy.

Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, vì sao chẳng hoại tướng, cũng chẳng hoại tướng tưởng. Thiện Hiện đáp rằng: Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, chẳng tác nghĩ này: Ta sẽ hoại tướng tưởng. Cũng chẳng tác nghĩ này: Ta sẽ hoại tướng và hoại tướng tưởng. Cũng chẳng tác nghĩ này: Ta sẽ hoại vô tướng và hoại vô tướng tưởng. Vì đối tâ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn