Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

75. Phẩm “Thắng Nghĩa Du Già” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

03/08/202012:10(Xem: 8439)
75. Phẩm “Thắng Nghĩa Du Già” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***

75. Thắng nghĩa du già

PHẨM “THẮNG NGHĨA DU GIÀ”(1)



Phần sau quyển 396 cho đến phần đầu quyển 397, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Bình Đẳng” quyển thứ 29, MHBNBLM)



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le



 

 

 

Gợi ý:

Trước khi chấm dứt Hội thứ I, với 400 quyển, chiếm 2/3 trong số 600 quyển Đại Bát Nhã, Phật nói các giáo lý tương ứng với cơ, cảnh, hành, lý, quả…của Kinh này với tên phẩm là “Thắng Nghĩa Du Già”. Đây là giáo pháp thậm thâm,“tháo đinh gở chốt” cho chúng ta. Cái gì chúng ta thắc mắc nghi ngờ thì phẩm này trả lời tất cả. Vậy phải tụng đọc tư duy và ghi nhớ kỹ.

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Những cái thấy là thật không nhiễm, không tịnh, những cái thấy là chẳng thật cũng không nhiễm, không tịnh. Vì sao? Vì tất cả pháp đều dùng vô tánh làm tự tánh.

- Bạch Thế Tôn! Các pháp vô tánh không nhiễm, không tịnh, các pháp có tánh cũng không nhiễm, không tịnh. Các pháp có tánh vô tánh cũng không nhiễm, không tịnh.

- Bạch Thế Tôn! Pháp vô tự tánh không nhiễm, không tịnh, pháp có tự tánh cũng không nhiễm, không tịnh; pháp có tự tánh, vô tự tánh cũng không nhiễm, không tịnh. Vì tất cả pháp đều dùng vô tánh làm tự tánh.

Nếu vậy tại sao Thế Tôn nói có pháp thanh tịnh?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ta nói tánh bình đẳng của tất cả pháp là pháp thanh tịnh.

 

(Pháp nào là pháp bình đẳng?)

 

- Bạch Thế Tôn! Vậy tất cả pháp nào được coi là bình đẳng?

- Này Thiện Hiện! Các pháp chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì, dù Như Lai xuất thế hay chẳng xuất thế, tánh tướng thường trụ, đó gọi là tánh bình đẳng của tất cả pháp; tánh bình đẳng này gọi là pháp thanh tịnh; đây chỉ nương vào thế tục mà nói là thanh tịnh, chứ chẳng y cứ vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì trong thắng nghĩa đế, không có sự phân biệt, không có hý luận, tất cả ngôn ngữ danh tự đều dứt.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp như thấy trong mộng, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng nắng, như bóng sáng, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành, tuy hiện ra giống như có mà không thật có thì tại sao đại Bồ Tát nương vào pháp phi chân như thế mà phát tâm cầu quả vị Giác ngộ tối cao, và phát nguyện: Ta sẽ viên mãn bố thí Ba la mật, ta sẽ viên mãn tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba la mật; ta sẽ viên mãn bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; ta sẽ viên mãn 37 pháp trợ đạo; ta sẽ viên mãn Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; ta sẽ viên mãn pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; ta sẽ viên mãn Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí; ta sẽ viên 32 hai tướng Đại sĩ, 80 vẻ đẹp phụ thuộc; ta sẽ phát khởi Vô lượng quang minh chiếu khắp vô biên thế giới trong mười phương; ta sẽ phát khởi một loại âm thanh vi diệu khắp vô biên thế giới mười phương, tùy theo tâm, tâm sở, ý thích sai khác của các hữu tình mà vì họ nói các loại pháp môn vi diệu, khiến họ siêng tu học, chứng đắc lợi ích an lạc thù thắng?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao: Những điều mà ông đã thuyết đâu chẳng khác như mộng được thấy, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng nắng, như bóng sáng, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành?

Thiện Hiện đáp:

- Đúng vậy! Bạch Thế Tôn! Đúng vậy! Bạch Thiện Thệ! Nếu tất cả pháp như điều thấy trong mộng, nói đủ cho đến như ảo thành, đều không thật, thì tại sao đại Bồ Tát khi tu hành Bát Nhã, phát lời chắc thật: Ta sẽ viên mãn tất cả công đức lợi ích an lạc vô lượng hữu tình?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải điều thấy trong mộng… cho đến những vật loại hiện ra như ảo thành, có thể hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba la mật, huống là có thể viên mãn tất cả pháp như tứ thiền, tứ vô lượng , tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… hay tất cả pháp Phật khác?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải điều thấy trong mộng... cho đến những vật loại hiện ra trong ảo thành, có thể thành tựu tất cả việc làm theo ước nguyện. Tất cả pháp khác cũng giống như thế, đều chẳng phải thật?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Pháp chẳng phải thật có, chẳng có thể hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba la mật, huống là có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật có, nói chi đến việc hành bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, huống là có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật có, nói chi đến việc hành 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí huống có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật có, nói chi đến việc hành ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc, huống có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật, chẳng thể thành tựu việc làm theo nguyện ước, pháp chẳng phải thật có, chẳng thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ tối cao.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Vì bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba la mật chẳng phải thật có, nên chẳng thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ. Vì tất cả pháp Phật nói chung chẳng phải thật có, nên chẳng thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ.

- Này Thiện Hiện! Các pháp như thế, tất cả đều do tư duy tạo tác. Các pháp do tư duy tạo tác đều chẳng thể đắc Nhất thiết trí trí. Các pháp như thế đối với đạo Bồ đề, tuy có thể dẫn phát nhưng đối với kết quả không thể giúp ích gì. Do vì các pháp này không sanh, không khởi, không có thật tướng, nên các đại Bồ Tát từ khi mới phát tâm, tuy khởi các pháp thiện của thân, ngữ, ý, đó là tu hành các pháp Phật nói chung, nhưng biết tất cả đều như mộng, như bóng, như vang, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành, đều chẳng phải thật.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Các pháp như thế tuy chẳng phải thật, nhưng nếu chẳng viên mãn thì nhất định chẳng có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, chứng đắc quả vị Giác ngộ. Các đại Bồ Tát nếu chẳng viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã và tất cả các thiện pháp khác thì quyết định chẳng có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy khi tu hành Bát nhã Ba la mật, hành tất cả thiện pháp đều như thật biết như mộng, như tượng, như vang, như ảnh, như bóng, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành. Nếu các đại Bồ Tát hành được như vậy, thì đối với tất cả pháp chẳng chấp thủ Có, chẳng chấp thủ Không. Vì sao? Vì bố thí Ba la mật chẳng thể nắm bắt, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã cũng chẳng thể nắm bắt; tất cả thiện pháp cũng chẳng có thể nắm bắt. Vì sao? Vì tất cả pháp đều chẳng thể nắm bắt, hoàn toàn không phải thật, giống như mộng, như thành bằng hương khói… chẳng thể nắm bắt mà cũng chẳng thể chứng đắc. Nhưng các hữu tình đối với các pháp như thế, chẳng biết chẳng thấy, đại Bồ Tát, vì độ thoát các hữu tình nên cầu đạt đến quả vị Giác ngộ tối cao để hóa độ họ.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy, khi tu hành Bát nhã Ba la mật, thấy các phàm phu ngu si ở trong cái chẳng phải ngã mà chấp tưởng là ngã; ở trong cái chẳng phải hữu tình, mạng giả, sanh giả, dưỡng giả, sĩ phu, bổ đặc già la, ý sanh, nho đồng, tác giả, khiến tác giả, khởi giả, khiến khởi giả, thọ giả, khiến thọ giả, tri giả, khiến tri giả, kiến giả, khiến kiến giả(2) mà tưởng chấp là hữu tình, mạng giả v.v… Đại Bồ Tát ấy, thấy như vậy vô cùng thương xót, phương tiện giáo hóa, khiến lìa điên đảo, vọng tưởng, chấp trước, an để trong cảnh giới cam lồ vô tướng; trụ trong cảnh giới ấy, chẳng khởi tưởng là ngã, cũng chẳng khởi tưởng chấp trước hữu tình, mạng giả v.v… Khi ấy, tất cả trạo cử, tán loạn, phân biệt, hý luận chẳng còn hiện hành, tâm thể an trụ cảnh giới an nhiên tịch lặng, vô hý luận.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy, do phương tiện này tu hành Bát nhã Ba la mật, tự mình đối với các pháp không còn chấp trước, sạch các lậu hoặc, các tập khí tương tục, chỉ trong sát na tương ưng với diệu huệ thì “đắc” Vô Thượng Giác ngộ. Đây là nương vào thế tục mà nói, chẳng y vào thắng nghĩa. Trong thắng nghĩa năng đắc, sở đắc, đều bất khả đắc. Vì sao? Vì nếu bảo đắc pháp tức rơi vào hữu sở đắc. Kẻ hữu sở đắc bèn chấp có hai. Kẻ chấp hai chẳng năng đắc quả, cũng chẳng hiện quán, kẻ chấp không hai cũng lại như thế. Nếu không hai, không chẳng hai tức gọi đắc quả, cũng gọi là hiện quán. Vì sao? Vì chấp đây chấp kia đều là hý luận. Lìa hý luận mới gọi là bình đẳng.

Cụ thọ Thiện Hiện Bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều vô tánh, thì cái gì gọi là tánh bình đẳng của pháp?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Nếu ở nơi nào không nói hữu tánh, cũng không nói vô tánh, cũng chẳng nói là tánh bình đẳng, thì như thế mới gọi là tánh bình đẳng của pháp. Nên biết, tánh bình đẳng của pháp đã bất khả thuyết, cũng bất khả tri, trừ tánh bình đẳng không có pháp nào có thể đắc, lìa tất cả pháp không có tánh bình đẳng.

Thiện Hiện phải biết: Đối với Tánh bình đẳng này hàng phàm phu kể cả Thánhgiới đều chẳng thể hành, vì chẳng phải cảnh giới sở hành của họ.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Tánh bình đẳng cũng chẳng phải cảnh sở hành của Phật chăng?

Phật bảo Thiện Hiện!

- Tánh bình đẳng của pháp chẳng phải cảnh sở hành của các Hiền Thánh. Nghĩa là kẻ tùy tín hành, hoặc kẻ tùy pháp hành, hoặc kẻ Đệ bát, hoặc Dự lưu, hoặc Nhất lai, hoặc Bất hoàn, hoặc A la hán, hoặc Độc giác, hoặc Bồ Tát, hoặc các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều chẳng thể đem tánh bình đẳng làm cảnh sở hành.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối tất cả pháp đều được tự tại, vì sao lại nói tánh bình đẳng chẳng phải cảnh sở hành của chư Phật?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối tất cả pháp tuy được tự tại, nếu tánh bình đẳng cùng Phật có khác, thì có thể nói là cảnh sở hành của Phật. Nhưng tánh bình đẳng cùng Phật không khác, làm sao có thể nói là cảnh sở hành của chư Phật.

Này Thiện Hiện! Nên biết, hoặc pháp tánh bình đẳng của các phàm phu, hoặc pháp tánh bình đẳng của tùy tín hành, hoặc pháp tánh bình đẳng của tùy pháp hành, hoặc pháp tánh bình đẳng của Đệ bát… cho đến hoặc pháp tánh bình đẳng của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả pháp tánh bình đẳng như thế đều đồng nhất tướng, chỗ gọi vô tướng. Nhất tướng bình đẳng này không có hai, không khác, cho nên chẳng thể nói: Đây là pháp tánh bình đẳng của phàm phu, nói rộng cho đến đây là pháp tánh bình đẳng của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Ở trong tánh bình đẳng nhất tướng đây, các tánh bình đẳng đã chẳng thể nắm bắt được, trong đó, tướng sai biệt của phàm phu và Thánh giả cũng chẳng thể nắm bắt được.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu trong tánh bình đẳng của tất cả pháp, các tướng sai biệt đều chẳng thể nắm bắt được thì các phàm phu, hoặc tùy tín hành, hoặc tùy pháp hành, hoặc các Đệ bát, hoặc các Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, hoặc các Độc giác, hoặc các đại Bồ Tát, hoặc chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả pháp như thế và hữu tình đáng lẽ không sai biệt?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng như ông đã nói, ở trong tánh bình đẳng của tất cả pháp, hoặc các phàm phu, hoặc các bậc Thánh cho đến Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, pháp và hữu tình đều không sai biệt.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu trong tánh bình đẳng của tất cả pháp phàm phu, Thánh giả, pháp và hữu tình đều không sai khác, thì tại sao có Tam Bảo xuất hiện ở thế gian, đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Phật, Pháp, Tăng bảo cùng với tánh bình đẳng có khác nhau chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Như con hiểu nghĩa Phật nói thì Phật, Pháp, Tăng bảo cùng với tánh bình đẳng đều không có sai khác.

- Bạch Thế Tôn! Hoặc Phật bảo, hoặc Pháp bảo, hoặc Tăng bảo, hoặc tánh bình đẳng, tất cả như thế đều chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng đó là vô tướng. Nhưng Phật Thế Tôn ở trong vô tướng, phương tiện thiện xảo, kiến lập các pháp v.v... có sự sai khác, gọi đây là phàm phu, đây là tùy tín hành, đây là tùy pháp hành, đây là Đệ bát, đây là Dự lưu, đây là Nhất lai v.v...cho đến đây là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng như ông đã nói. Như Lai đối với pháp phương tiện thiện xảo, có thể đối với vô tướng kiến lập các pháp v.v... sai biệt.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Nếu Như Lai chẳng chứng quả vị Giác ngộ tối cao vì hữu tình kiến lập các pháp sai khác thì liệu hữu tình có thể tự biết: Đây là địa ngục, đây là bàng sanh, đây là quỷ giới, đây là người, đây là chúng trời; đây là sắc, đây là thọ, tưởng, hành, thức; đây là 12 xứ, 18 giới; đây là tứ thiền, tứ vô luợng, tứ định vô sắc; đây là Tứ đế, đây là 37 trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến đây là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, các loại hữu tình đối với các tướng sai biệt như thế có thể tự biết chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Bạch Thế Tôn! Không! Bạch Thiện Thệ! Không! Nếu Phật chẳng vì hữu tình an lập tướng sai biệt như thế thì các hữu tình chẳng có thể tự biết các tướng sai biệt như thế.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Vì vậy Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối với pháp vô tướng phương tiện thiện xảo tuy vì hữu tình an lập các thứ tướng sai khác, nhưng đối với pháp tánh bình đẳng của các pháp hoàn toàn vô động.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Có phải Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối với pháp tánh bình đẳng của tất cả pháp hoàn toàn không có lay động? Như vậy thì tất cả phàm phu ngu si đối với pháp tánh bình đẳng của các pháp không có lay động chăng? Như vậy thì tùy tín hành, hoặc tùy pháp hành, hoặc Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hánv.v… đối với pháp tánh bình đẳng của các pháp cũng không lay động chăng?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Vì tất cả pháp và các hữu tình đều chẳng vượt(3) pháp tánh bình đẳng, đối các pháp tánh bình đẳng cũng đều không chỗ động.

- Này Thiện Hiện! Nên biết, chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác tức là chơn như, pháp giới, pháp tánh v.v…của phàm phu ngu si, cũng là chơn như, pháp giới, pháp tánh v.v… của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát v.v… Vì sao? Vì tất cả pháp và các hữu tình đều chẳng vượt qua chơn như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh… cho đến cảnh giới bất tư nghì.

- Này Thiện Hiện! Nên biết, chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì tánh không sai khác.

- Này Thiện Hiện! Vì tướng của sắc khác nhau nên tánh cũng phải khác nhau, vì tướng của thọ, tưởng, hành, thức khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; vì tướng của 12 xứ, 18 giới khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; nói rộng cho đến vì tướng của Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; vì tướng của phàm phu ngu si khác nên tánh cũng phải khác, vì tướng của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát v.v… khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; vì tướng của các pháp thế gian, pháp xuất thế gian khác nên tánh cũng phải khác, vì tướng của các pháp hữu lậu, vô lậu, pháp hữu vi, vô vi khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau.

Thiện Hiện bạch Phật:

- Bach thế Tôn! Làm sao đối với các pháp tướng sai khác mà có thể an lập được pháp tánh nhất tướng? Làm sao đại Bồ Tát khi tu hành Bát Nhã, chẳng phân biệt pháp và các hữu tình có các loại tánh?

 

(Tất cả pháp đều rỗng không).

 

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Pháp tánh của sắc là rỗng không. Pháp tánh của thọ, tưởng, hành, thức là rỗng không. Pháp tánh của 12 xứ, 18 giới cũng rỗng không. Pháp tánh của tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cũng rỗng không. Pháp tánh của phàm phu ngu si là rỗng không. Pháp tánh của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát, v.v… là rỗng không. Pháp tánh của pháp thế gian, xuất thế gian là rỗng không. Pháp tánh của pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi cũng rỗng không. Nói chung, tất cả pháp tánh đều là rỗng không.

Vì vậy, Cụ thọ Thiện Hiện mới hỏi Phật:

-“Làm sao đối với các pháp tướng sai khác mà có thể an lập được pháp tánh nhất tướng”?

Phật hỏi lại Cụ thọ:

- Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Pháp tánh của sắc là rỗng không chăng? Pháp tánh của thọ, tưởng, hành, thức là rỗng không chăng? Nói rộng, pháp tánh của tất cả pháp là rỗng không chăng?

Cụ thọ bạch Phật:

- Bạch Thiện Thệ! Đúng vậy! Tất cả pháp tánh đều là rỗng không.

Phật lại hỏi:

- Trong rỗng không, tướng sai khác của pháp thảy có thể nắm bắt được chăng? Nghĩa là tướng sai khác của sắc có thể nắm bắt được chăng? Tướng sai khác của thọ, tưởng, hành, thức có thể nắm bắt được chăng? Tướng sai khác của pháp thế gian, xuất thế gian có thể nắm bắt được chăng? Tướng sai khác của pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi có thể nắm bắt được chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Bạch Thế Tôn! Không! Trong rỗng không, tất cả tướng sai khác đều chẳng thể nắm bắt được”.

Do đó nên biết, pháp tánh bình đẳng chẳng phải sắc, chẳng lìa sắc; chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức, chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức; pháp tánh bình đẳng chẳng phải 12 xứ, 18 giới, chẳng lìa 12 xứ, 18 giới; pháp tánh bình đẳng chẳng phải tứ thiền, tứ vô lương, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí…, cũng chẳng lìa tất cả các pháp ấy; pháp tánh bình đẳng chẳng phải phàm phu ngu si, cũng chẳng lìa phàm phu ngu si; chẳng phải tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán…cho đến Như Lai Chánh đẳng Chánh giác, cũng chẳng lìa tùy tín hành cho đến Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác; chẳng phải pháp thế gian xuất thế gian, chẳng lìa pháp thế gian xuất thế gian; chẳng phải pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi, chẳng lìa pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi.

Cụ thọThiện Hiệnbạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Pháp tánh bình đẳng có phải là hữu vi, có phải là vô vi?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Pháp tánh bình đẳng chẳng phải là hữu vi, chẳng phải là vô vi; nhưng lìa pháp hữu vi, pháp vô vi chẳng thể nắm bắt được; lìa pháp vô vi, pháp hữu vi cũng chẳng thể nắm bắt được.

Này Thiện Hiện! Hoặc cảnh giới hữu vi, hoặc cảnh giới vô vi, hai cảnh giới như thế, chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng đó là vô tướng. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nương vào thế tục mà nói, chứ chẳng y cứ vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì chẳng phải trong thắng nghĩa có thể có thân hành, ngữ hành, ý hành, chẳng phải lìa thân hành, ngữ hành, ý hành mà có thể nắm bắt được thắng nghĩa.

Này Thiện Hiện! Nên biết, chính pháp tánh bình đẳng của hữu vi, vô vi gọi là thắng nghĩa, cho nên đại Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật, chẳng động thắng nghĩa mà hành hạnh đại Bồ Tát, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, có thể chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao.

 

Thích nghĩa:

(1). Thắng nghĩa du già: Thắng nghĩa có nghĩa là cao tột, vi diệu hay thực tại tối hậu cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa. Du già có nghĩa là tương ứng, tức là tương ứng với cơ, cảnh, hành, lý, quả…Thắng nghĩa du già: Tu hành như thế nào để (nghĩa là đã được quả tròn đầy, lợi sanh cứu vật, tùy cơ duyên mà cảm ứng, thuốc và bệnh tương ứng với nhau), cảnh (không trái với tự tánh của tất cả pháp), hành (tương ứng với hành các định, tuệ v.v…), ( lý hai đế: an lập, phi an lập), quả (có thể chứng đắc Vô Thượng Bồ đề cùng tột)tương ưng với “đạo lí chân thực tối thắng”.

 (2). Ngã, chúng sanh, thọ giả, mạng giả, sanh giả, dưỡng dục giả, tác giả, sử tác giả, khởi giả, sử khởi giả, thọ giả, sử thọ giả, tri giả, kiến giả. Đây là 14 khoa danh tướng trong Bát thập nhất khoa (Tám mươi mốt khoa): Đã được thích nghĩa rồi, xin xem lại các phẩm trước!

(3). Vượt qua: Chân như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì, còn gọi là “thập nhị Chân như” của Kinh Bát Đại Nhã. Tánh Bình đẳng như trên đã thuyết là bất khả thuyết, bất khả tư nghì, là một trong thập nhị Chân như, cũng chính là Phật tánh, cũng chính là Tánh Không, cũng gọi Tất cánh tịnh hay Niết bàn… Vậy thì tất cả pháp và tất cả hữu tình làm sao có thể vượt qua (To overcome—To outdo) được.

 

Lược giải:

 

Đây là một phẩm đặc biệt được Phật thuyết trước khi chấm dứt Hội thứ I, ĐBN. Tại sao phẩm này gọi là đặc biệt? Điểm thứ nhất: Vì phẩm này trả lời được những thắc mắc của chúng ta: Tại sao tất cả pháp kể cả pháp Phật đều như huyễn như mộng không giúp ích gì, không thể thành tựu sở cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà lại phải học phải tu, và còn được ca tụng là thắng nghĩa? Điểm thứ hai là nói về tánh tất cả pháp đều rỗng không?

 

1. Nhất tánh Bình đẳng hay Thắng nghĩa Du già:

 

Có một điều làm cho chúng ta ngạc nhiên (tôi không muốn nói là ngỡ ngàng hay lẫn lộn) là Kinh thường nói tất cả pháp (kể cả pháp Phật) đều như mộng ảo, như trăng trong nước, như ảnh trong gương hay như thành bằng hương khói… chẳng thật có (vì những lý do như không có tự tánh hòa hợp, do duyên hội, nên nói là giả có v.v...) Nếu như vậy không riêng gì Thiện Hiện mà kể cả chúng ta cũng tự nghĩ là không thể thành tựu những việc làm như nguyện ước, thì nhất định chẳng có thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ tối cao?

Để trả lời Phật bảo Thiện Hiện: “Các pháp như thế tuy chẳng phải thật (đều do tư duy tạo tác), nhưng nếu chẳng viên mãn thì nhất định chẳng có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao”.

Câu trả lời có vẻ như mâu thuẫn với cái hiểu biết thông thường của chúng ta. Các pháp không thật như huyễn đều do tư duy tạo tác, nhưng nếu không viên mãn tất cả pháp nhất định sẽ không thể chứng đắc sở cầu? Để trả lời vấn nạn này, Phật bảo nếu hành tất cả các thiện pháp như huyễn cho đến ảo thành như vậy, thì đối với tất cả pháp chẳng chấp thủ. Nếu CHẲNG chấp thủ thì có thể thành tựu hay chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao.

Lý do gì đưa đến chấp thủ? Câu trả lời là: Tại vì nắm bắt!

Động cơ chính nằm đằng sau chấp thủ, nắm bắt đó chính là ngã. Chư Bồ Tát vì muốn cứu độ chúng sanh ra khỏi mê lộ đó nên mới giảng rằng chẳng có ngã mà tưởng có ngã, nên phải quay đi lộn lại trong sáu nẻo luân hồi. Diệt ngã thì không còn điên đảo, vọng tưởng, chấp trước nữa thì mới có thể an trụ trong cảnh giới Cam lồ vô tướng.

Muốn được như vậy, thì phải học và hành Bát nhã Ba la mật để tự mình không còn chấp ngã nữa mới sạch hết các lậu hoặc, các tập khí tương tục, rồi thì chỉ trong sát na tương ưng với diệu huệ thì “đắc” Vô Thượng Giác ngộ. Nhưng còn nói đắc là còn thấy năng chứng sở chứng. Đó là nói theo thế tục, trong thắng nghĩa “năng đắc, sở đắc, đều bất khả đắc. Vì sao? Vì nếu bảo đắc pháp tức rơi vào hữu sở đắc. Kẻ hữu sở đắc bèn chấp có hai. Kẻ chấp hai chẳng năng đắc quả, cũng chẳng hiện quán, kẻ chấp không hai cũng lại như thế. Nếu không hai, không chẳng hai tức gọi đắc quả, cũng gọi là hiện quán. Vì sao? Vì chấp đây chấp kia đều là hý luận. Lìa hý luận mới gọi là bình đẳng”. (Q.396, ĐBN)

Có bình đẳng mới có thanh tịnh, đó là mục tiêu chính của việc tu hành. Vậy thế nào là bình đẳng? Phật thường bảo: “Nếu ở nơi nào không nói hữu tánh, cũng không nói vô tánh, cũng chẳng nói là tánh bình đẳng, thì như thế mới gọi là tánh bình đẳng của pháp. Nên biết, tánh bình đẳng của pháp đã bất khả thuyết, cũng bất khả tri, trừ tánh bình đẳng không có pháp nào có thể đắc, lìa tất cả pháp không có tánh bình đẳng”.

“Hoặc pháp tánh bình đẳng của các phàm phu, hoặc pháp tánh bình đẳng của Thánh giả… cho đến hoặc pháp tánh bình đẳng của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả pháp tánh bình đẳng như thế đều đồng nhất tướng, chỗ gọi vô tướng. Nhất tướng bình đẳng này không hai, không khác, cho nên chẳng thể nói: Đây là pháp tánh bình đẳng của phàm phu, nói rộng cho đến đây là pháp tánh bình đẳng của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Ở trong tánh bình đẳng nhất tướng đây, các tánh bình đẳng đã chẳng thể nắm bắt được…” (Q.396, ĐBN)

Bởi vậy, nên mở đầu phẩm “Thắng Nghĩa Du Già”, Phật Bảo:

“Các pháp chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì, dù Như Lai xuất thế hay chẳng xuất thế, tánh tướng thường trụ, đó gọi là tánh bình đẳng của tất cả pháp; tánh bình đẳng này gọi là pháp thanh tịnh; đây chỉ nương vào thế tục mà nói là thanh tịnh, chứ chẳng y cứ vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì trong thắng nghĩa đế, không có sự phân biệt, không có hý luận, tất cả ngôn ngữ danh tự đều dứt”.

Như vậy, chúng ta có thể kết luận: Nhất tướng bình đẳng này cũng chính là Chân như, Pháp giới, Pháp tánh, Bình đẳng tánh, Ly sanh tánh, Pháp định, Pháp trụ, Thật tế... cũng gọi là Phật tánh, Tánh không, Thật Tướng, Pháp thân, Viên Thành Thực, Tự tánh Thanh tịnh thân, Như lai tạng, Niết bàn... tất cả không hai không khác. Chứng biết như vậy thì cơ cảnh hành quả đạt đến chỗ rối ráo, tức đạt được đạo lý chân thực tối thắng, nên gọi là “Thắng nghĩa Du già”. Nếu đạt tới chỗ đó thì pháp tánh của phàm phu cùng chư Phật nào khác.

 

2. Tất cả pháp tánh đều rỗng không.

 

Pháp tánh của sắc là rỗng không, pháp tánh của thọ, tưởng, hành, thức là rỗng không. Pháp tánh của 12 xứ, 18 giới cũng rỗng không. Pháp tánh của tứ thiền tứ, vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cũng rỗng không. Pháp tánh của phàm phu ngu si rỗng không. Pháp tánh của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát, cho đến Phật Vô thượng cũng rỗng không. Pháp tánh của pháp thế gian, xuất thế gian rỗng không. Pháp tánh của pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi cũng rỗng không. Nói chung, tất cả pháp tánh đều là rỗng không.

Trong cái rỗng không, tất cả tướng sai khác đều chẳng thể nắm bắt được. Do đó nên biết, pháp tánh bình đẳng chẳng phải sắc, chẳng lìa sắc; chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức, chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức; pháp tánh bình đẳng chẳng phải 12 xứ, 18 giới, chẳng lìa 12 xứ, 18 giới; pháp tánh bình đẳng chẳng phải tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí…cho đến Vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác, cũng chẳng lìa tất cả các pháp ấy; pháp tánh bình đẳng chẳng phải pháp thế gian xuất thế gian, chẳng lìa pháp thế gian xuất thế gian; chẳng phải pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi, chẳng lìa pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi.

Vì lìa pháp hữu vi, thì không có pháp vô vi; lìa pháp vô vi, thì không có pháp hữu vi.

Do đó, phẩm “Bình Đẳng” quyển thứ 29, Kinh MHBNBLMĐ, nói: “Đức Phật cũng dùng thế đế để nói chớ chẳng phải dùng đệ nhất nghĩa. Tại sao? Vì trong đệ nhất nghĩa không có thân hành, không có khẩu hành, không có ý hành, cũng chẳng lìa thân, khẩu, ý hành mà được đệ nhất nghĩa. Tướng bình đẳng của các pháp hữu vi, vô vi ấy tức là đệ nhất nghĩa.

Lúc hành Bát nhã Ba la mật, đại Bồ Tát ở trong đệ nhất nghĩa chẳng động mà làm lợi ích cho chúng hữu tình”./.

 

---o0o---

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/02/2022(Xem: 2594)
Cho tới nay có ít nhất mười nhà dịch giả (thuật) bộ Qui Sơn Cảnh Sách sang Việt ngữ như trong sách Phật Tổ Tam Kinh (1950; của Vô Danh Thị), Hòa Thượng Thích Hành Trụ (1972), Tuệ Nhuận (1973); Chư Thượng Tọa, Đại Đức dạy chúng, tại các trường Phật học Báo Quốc, Linh Ứng (Non Nước), Nguyên Thiều (Bình Định), Ấn Quang (Sàigon), Lưỡng Xuyên (Trà Vinh), Phật Ân (Mỹ Tho), Huệ Nghiêm (Gia Định) v.v... đều giảng dạy tăng sinh bộ sách quý này. Tại sao chúng tôi vẫn tiếp tục dịch luận bản văn trên sang tiếng Việt làm gì? Vẫn biết có nhiều vị uyên thâm Phật học đã dịch văn Cảnh Sách, song văn phong mỗi thời một thay đổi; hoàn cảnh Giáo Hội - Tăng Đoàn – mỗi giai đoạn không giống nhau. Từ khi có số Phật Tử Việt tỵ nạn đông đảo tại hải ngoại đến nay gần hai mươi năm, tình trạng Phật giáo có phức tạp, đổi thay. Chưa có vị nào dịch luận văn “Cảnh Sách” cho thích hợp trào lưu hiện tại, có thể nói là thời kỳ vô cùng giao động trong giới nhà tu Phật và Phật Tử nói chung, nếu nhìn theo nhiều góc c
03/02/2022(Xem: 5765)
Được biết A Di Đà Land được Đạo Hữu Tony Thạch tạo mãi vào ngày 01 tháng 06 năm 2015, nơi đây vốn là một khu đất rừng bạch đàn (Eucalyptus) với diện tích 2243.44 Acres (907.887957 hectares, trên khoảng 9 cây số vuông). Khu đất rộng lớn này nằm sâu bên trong ngôi làng Curraweela (gần thị trấn Taralga) thuộc miền nam tiểu bang New South Wales (gần thị trấn Goulburn) cách trung tâm thành phố Sydney khoảng 250 cây số (2 tiếng 30 phút lái xe). Đạo hữu Tony Thạch tạo mãi đặt tên cho khu đất là A Di Da Land, với ước nguyện trong tương lai sẽ biến nơi đây thành một Thế Giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà để giúp cho tứ chúng đồng tu, đồng giải thoát khỏi biển khổ sinh tử luân hồi.
02/02/2022(Xem: 113043)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
05/01/2022(Xem: 5925)
CHÁNH PHÁP Số 122, tháng 01.2022 Hình bìa của Hồ Bích Hợp NỘI DUNG SỐ NÀY: THƯ TÒA SOẠN, trang 2 TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 XA XỨ NHỚ LẠI NGÀY CŨ (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 6 Ý NGHĨA PHẬT PHÁP TĂNG TAM BẢO (HT. Thích Thắng Hoan), trang 7
30/12/2021(Xem: 5964)
Bởi thế, đặc san Phật Việt số 2 kỳ này xoay quanh chủ đề “công tác hoằng pháp và phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển.” Để góp phần vào công tác hoằng dương chánh pháp trước hoàn cảnh mới của nhân loại và Phật Giáo Việt Nam, đặc biệt nhắm đến việc chuẩn bị hành trang Phật Pháp cho thế hệ Tăng, Ni và Phật tử trẻ tuổi, chư tôn đức Tăng, Ni và Cư Sĩ tại hải ngoại đã thành lập Hội Đồng Hoằng Pháp vào đầu tháng 5 năm 2021 dưới sự tán trợ của Viện Tăng Thống GHPGVNTN. Cơ cấu tổ chức của Hội Đồng Hoằng Pháp gồm chư tôn Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan và Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn Chứng Minh; Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ làm Cố Vấn Chỉ Đạo; Hòa Thượng Thích Như Điển làm Chánh Thư Ký, Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu và Hòa Thượng Thích Bổn Đạt làm Phó Thư Ký và chư tôn đức Tăng, Ni thành viên. Ngoài ra Hội Đồng Hoằng Pháp còn có 4 Ban, gồm Ban Phiên Dịch và Trước Tác, Ban Truyền Bá, Ban Báo Chí và Xuất Bản, và Ban Bảo Trợ.
10/12/2021(Xem: 6536)
Bản dịch này cũng đã đăng tải trong các số báo đặc san Pháp Bảo, từ số 2, tháng 5 năm 1982 và còn tiếp tục đăng tải cho đến nay. Loạt bài đăng trong báo sẽ được chấm dứt trong vài kỳ báo nữa, vì các phần sau tuy cần thiết đối với người muốn nghiên cứu, nhưng lại trở nên khô khan với người ít quan tâm tới sử liệu Phật Giáo. Đó là lý do quý vị chỉ tìm thấy bản dịch được đầy đủ chỉ có trong sách này. Trong khi dịch tác phẩm, cũng như trong khoảng thời gian còn tòng học tại Nhật Bản, chúng tôi tự nghĩ: không hiểu sao Phật giáo đã du nhập vảo Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, thứ 3 mà mãi cho tới nay vẫn chưa có được những cuốn sách ghi đầy đủ các chi tiết như bộ “Các tông phái Phật Giáo Nhật Bản” mà quý vị đang có trong tay. Điều mong mỏi của chúng tôi là Phật Giáo Việt Nam trong tương lai cố sao tránh bớt vấp phải những thiếu sót tư liệu như trong quá khứ dài hơn 1500 năm lịch sử truyền thừa! Để có thể thực hiện được điều này, cần đòi hỏi giới Tăng Già phải đi tiên phong trong việc trước t
08/12/2021(Xem: 12305)
Chương trình Lễ Phát Chứng Chỉ Mãn Khóa Lớp Giáo Lý Online năm thứ 2 Trong Thời Gian Cách Ly Đại Dịch Covid-19 MC: Phật tử Quảng Tịnh & Phật tử Nguyên Nhật Thơ Bắt đầu lúc 2pm, Saturday 18/12/2021 - Niệm Phật cầu gia hộ - Chào Phật Giáo Kỳ (mở mp3) - Tuyên bố lý do và giới thiệu (Phật tử Quảng Tịnh & Nguyên Nhật Thơ) - Lời cảm niệm của Đh Quảng Tịnh Tâm (Canada, do Đh.Tâm Từ đọc) - Lời cảm niệm tri ân của Phật tử tại Úc (Đh.Huệ Hương-Huệ Linh) - Nhạc phẩm “Nguyện Kiếp Sau Làm Một Đoá Sen.” (do Phật tử Nguyên Quảng Hương trình bày) - Lời cảm niệm của Đh Quảng Trinh (USA) - Lời cảm niệm của Phật tử Thanh Phi, TV Quảng Đức, - Nhạc phẩm “Lạy Mẹ Quan Thế Âm” (do Phật tử Khánh Đào trình bày) - Lời cảm niệm Đh.Trần Thị Nhật Hưng (Thụy Sĩ, Âu Châu) - Lời cảm niệm Đh.Diệu Danh Tuyết Mai (Hannover, Đức Quốc) - Nhạc phẩm “Cát Bụi Cuộc Đời” do Phật tử Tâm Quảng Hóa trình bày - Ngâm thơ “Thập Nghĩa Đi Chùa” do Phật tử Tâm Huệ trình bày - Cắt bánh mừng lễ mãn khóa và mừng sinh nhậ
06/12/2021(Xem: 8474)
Ba bài kinh đầu tiên, Kinh Phạm Võng, Kinh Sa Môn Quả, và Kinh A Ma Trú, là những bài kinh quan trọng bậc nhất trong Trường Bộ Kinh. Bài kinh Phạm Võng giới thiệu 62 Tà Kiến của các ngoại đạo đương thời, gián tiếp đặt đạo Phật ra ngoài các tà thuyết trên, và xác minh lập trường của đức Phật đối với các vấn đề vũ trụ và nhân sinh. Kinh này cũng đề cập đến Giới của đức Phật, từ Tiểu Giới đến Đại Giới, gián tiếp so sánh đời sống xa hoa phù phiếm của các Sa Môn, Bà La Môn đương thời với đời sống giản dị giải thoát của đức Thế Tôn. Cũng chính trong bài kinh này, đức Phật nói, chỉ có kẻ vô văn phàm phu mới tán thán giới đức, còn bậc thiện trí thì tán thán trí đức của Ngài. Và chính nhờ vào trí đức, đức Phật đã tóm thâu hết thảy mọi tà thuyết hiện hữu trong đời và truy nguyên căn nhân cùng động lực của mọi tà thuyết.
05/12/2021(Xem: 14691)
Kể từ khi Bánh xe Chánh Pháp được vận chuyển lần đầu tiên tại Vườn Nai, từ đó giáo pháp từ bi và trí tuệ dần dần lan tỏa trong mọi tầng lớp xã hội, trong nhiều phương vực khác nhau, với nhiều sắc thái dân tộc và ngôn ngữ khác nhau. Để cho tất cả mọi giai tầng xã hội, từ thượng lưu trí thức cho đến những hạng bần cùng khốn khỏ, thất học, cũng bình đẳng thọ hưởng hương vị tịnh lạc giải thoát, Đức Thế Tôn đã khuyến khích, hãy để cho mọi người được nghe và tu học Chánh Pháp theo ngôn ngữ địa phương của chính mình.
30/11/2021(Xem: 25114)
316. Thi Kệ Bốn Núi do Vua Trần Thái Tông biên soạn. Trần Thái Tông (1218-1277), là vị vua đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam (triều đại kéo dài đến 175 năm sau, ông cũng là một Thiền sư đắc đạo và để lại những tác phẩm Phật học vô giá cho đời sau). Đây là Thời Pháp Thoại thứ 316 của TT Nguyên Tạng, cũng là bài giảng cuối của năm thứ 2 (sẽ nghỉ qua sang năm sẽ giảng lại) từ 6.45am, Thứ Ba, 30/11/2021 (26/10/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 03:45pm (giờ Montreal, Canada) - 09:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567