Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

31. Phẩm "Tùy Hỷ Hồi Hướng" (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

29/06/202011:14(Xem: 634)
31. Phẩm "Tùy Hỷ Hồi Hướng" (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

35_Pham Tuy Hy Hoi Huong
 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

 

 

PHẨM "TÙY HỶ(1) HỒI HƯỚNG (2)"
Phần sau quyển 168 cho đến phần đầu quyển 172, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với quyển thứ 12, phẩm “Tùy Hỷ”, MHBNBLM)

 



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu

Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên

Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le





 


 

 

Tóm lược:

 

Lúc bấy giờ, đại Bồ tát Di Lặc(3) nói với cụ thọ Thiện Hiện: Nầy Đại đức! Nếu đại Bồ tát     đối với tất cả hữu tình, cùng làm các phước nghiệp sự và cùng với tất cả hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, lại lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên so với phước nghiệp sự tùy hỷ hồi hướng của các dị sanh, Thanh văn, Độc giác thời rất tối thắng, tối tôn, là cao quý, vi diệu, không gì bằng. Vì sao? Vì các dị sanh tu phước nghiệp sự chỉ để cho mình được tự tại an lạc; Thanh văn, Độc giác tu phước nghiệp sự là để tự điều phục, để được tịch tịnh, để được đắc Niết bàn; còn công đức có được do tùy hỷ hồi hướng của đại Bồ tát, thì khắp vì sự điều phục, tịch tịnh, Niết bàn cho tất cả chúng sanh.

Cụ thọ Thiện Hiện hỏi Bồ tát Di lặc: Nhưng nếu đại Bồ tát lấy quả vị Giác ngộ tối cao làm sở duyên(4) mà tùy hỷ hồi hướng tức sanh tâm duyên nơi sự thì chỗ nghĩ tưởng như thế có được như ý muốn chăng?

Bồ tát Di Lặc trả lời Thượng tọa Thiện Hiện: Nếu đại Bồ tát có tâm phan duyên(5) như vậy tức là có sở thủ(6), tức trụ tưởng điên đảo, thì như thế không thể được như ý muốn. Nếu đại Bồ tát từ lâu tu hành sáu phép Ba-la-mật, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, đời trước đã từng trồng thiện căn(7), từ lâu phát đại nguyện, lại được các thiện hữu nhiếp thọ, khéo học nghĩa không của tự tướng các pháp, thì đại Bồ tát này đối với sở duyên chẳng khởi tâm thủ tướng. Nếu chẳng khởi tâm thủ tướng thì có khả năng phát khởi sự tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao. Tùy hỷ hồi hướng như thế là do dùng phi nhị, phi bất nhị làm phương tiện; phi tướng, phi vô tướng làm phương tiện; phi hữu sở đắc, phi vô sở đắc làm phương tiện; phi nhiễm, phi tịnh làm phương tiện; phi sanh, phi diệt làm phương tiện. Vì vậy, đối với sở duyên cho đến quả vị Giác ngộ tối cao có thể chẳng thủ tướng; vì chẳng thủ tướng nên chẳng trụ tưởng điên đảo.

Lại nữa, này Đại đức! Đối với các Bồ tát sơ học Đại thừa không nên tuyên thuyết Bát Nhã Ba-la-mật; cũng không nên tuyên thuyết tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật; không nên tuyên thuyết pháp không nội đến pháp không không tánh tự tánh; đối với các Bồ tát sơ học Đại thừa không nên tuyên thuyết chơn như, pháp giới, pháp tánh, định pháp, trụ pháp, thật tế…; đối với các Bồ tát sơ học Đại thừa không nên tuyên thuyết bốn Thánh đế, mười hai duyên khởi, bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao; đối với các Bồ tát sơ học Đại thừa cũng không nên tuyên thuyết nghĩa không của tự tướng tất cả pháp. Vì sao? các Bồ tát sơ học Đại thừa đối với các pháp như thế, tuy có đôi chút kính tin, ưa thích, nhưng họ nghe rồi hầu như quên mất, hoang mang, sợ sệt, sanh ra hủy báng.

Cụ thọ Thiện Hiện liền bạch Bồ tát Di Lặc: Đại Bồ tát dùng sự tùy hỷ cùng làm các nghiệp sự phước đức như thế, hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì gọi là tận dụng tâm tùy hỷ hồi hướng; tận dụng tâm này là tận diệt ly biến(8); sở duyên này và các thiện căn cũng đều là tận diệt ly biến. Trong đó, cái gì là dụng tâm? Lại dùng cái gì làm sở duyên cho các thiện căn mà nói là tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao? Tâm ấy (tâm hồi hướng) đối với tâm (tâm Bồ đề) lẽ ra chẳng phải tùy hỷ hồi hướng, vì không có hai tâm cùng khởi một lúc; tâm cũng chẳng khá tùy hỷ hồi hướng tự tánh của tâm.

Thưa Đại sĩ! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, thì có khả năng biết như thật: Sắc không có sở hữu, thọ, tưởng, hành, thức không có sở hữu; mười hai xứ, mười tám giới không có sở hữu; mười hai duyên khởi không có sở hữu; sáu Ba-la-mật, Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng không có sở hữu; Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí không có sở hữu; Dự lưu đến quả vị Giác ngộ tối cao cũng không có sở hữu.

Thưa Đại sĩ! Đại Bồ tát ấy đã biết như thật tất cả pháp đều không có sở hữu, dùng sự tùy hỷ cùng làm các nghiệp sự phước đức, hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, đó gọi là sự tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao không điên đảo.

Bấy giờ, Thiên Đế Thích bạch cụ thọ Thiện Hiện rằng: Thưa Đại đức! Đại Bồ tát sơ học Đại thừa nghe pháp như thế, tâm kia sẽ kinh nghi, e sợ chăng? Thưa Đại đức! Đại Bồ tát sơ học Đại thừa vì sao đem chỗ tu tập các thiện căn hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao? Thưa Đại đức! Đại Bồ tát sơ học Đại thừa, vì sao nhiếp thọ tùy hỷ làm các nghiệp sự phước đức hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao?

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện nương thần lực gia bị của Bồ tát Di Lặc, bảo trời Đế Thích: Này Kiều Thi Ca! Bồ tát sơ học Đại thừa, nếu tu Bát nhã, dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện, như vậy là nhiếp thọ Bát Nhã Ba-la-mật; nếu tu tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật, dùng vô sở đắc làm phương tiện là nhiếp thọ Bát Nhã Ba-la-mật; nếu trụ bốn Thánh đế dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện là nhiếp thọ bốn Thánh đế; nếu trụ tất cả các pháp Phật dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện là nhiếp thọ tất cả các pháp Phật.

Này Kiều Thi Ca! Đại Bồ tát ấy do nhân duyên này, mà tín giải(9) sâu sắc Bát Nhã Ba-la-mật; tín giải sâu sắc tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật; tín giải sâu sắc pháp bốn Thánh đế rộng nói là tín giải sâu sắc tất cả pháp Phật.

Này Kiều Thi Ca! Đại Bồ tát ấy do nhân duyên này thường được thiện hữu nhiếp thọ. Thiện hữu ấy dùng vô lượng pháp môn văn nghĩa xảo diệu vì họ biện thuyết pháp tương ưng Bát nhã, tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật; dùng pháp như thế dạy bảo trao truyền, khiến họ nhập Bồ tát Chánh tánh ly sanh, thường chẳng xa lìa sáu Ba-la-mật; dùng pháp như thế dạy bảo trao truyền, khiến họ nhập Bồ tát Chánh tánh ly sanh, thường chẳng xa lìa tất cả pháp Phật.

Này Kiều Thi Ca! Bồ tát sơ học Đại thừa, nếu có khả năng như thế, dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện, nhiếp thọ các công đức; đối với các công đức, tín giải sâu sắc, thường được các thiện hữu nhiếp thọ, nghe pháp như thế, tâm chẳng hoang mang, chẳng kinh, chẳng sợ vậy.

Lại nữa, Kiều Thi Ca! Bồ tát sơ học Đại thừa tùy theo sự tu tập bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật, mà dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện, cùng với tất cả hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao; tùy theo sự an trụ pháp không nội đến pháp không không tánh tự tánh, dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện, cùng với tất cả hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao; tùy theo sự an trụ chơn như, pháp giới, pháp tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế… dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện, cùng với tất cả hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao; tùy theo sự an trụ bốn Thánh đế, 12 duyên khởi, bốn tịnh lự, bốn vô lưọng, bốn định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao mà dùng vô sở đắc làm phương tiện, vô tướng làm phương tiện, cùng với tất cả hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao.

Lại nữa, Kiều Thi Ca! Bồ tát học Đại thừa, nên đối với khắp mười phương vô số vô lượng vô biên thế giới, trong mỗi mỗi thế giới đều có vô số vô lượng vô biên tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, dứt đường các cõi, tuyệt đạo hý luận, bỏ các gánh nặng, bẻ gãy gai gốc tụ lạc, dứt hết các gút, đầy đủ chánh trí, tâm hoàn toàn giải thoát, khéo nói pháp yếu và chúng đệ tử Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác kia sở thành nhóm giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn đã thành tựu cùng với các thiện căn đã gieo trồng của dòng dõi lớn Sát đế lợi, dòng dõi lớn Bà la môn, Trưởng giả, Cư sĩ v.v... hoặc thiện căn đã gieo trồng của trời bốn đại vương chúng, Trời Sắc cứu cánh v.v… Tất cả những thiện căn như thế tập hợp lại, cân nhắc, suy lường, so sánh, thì đối với các thiện căn khác, tâm tùy hỷ này rất tối thắng, tối tôn, là cao quý, vi diệu, không gì bằng. Lại dùng sự tùy hỷ như thế làm các phước nghiệp sự, cùng với tất cả hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Di Lặc hỏi cụ thọ Thiện Hiện: Này Đại đức! Bồ tát sơ học Đại thừa, nếu dùng các thiện căn công đức của Phật và chúng đệ tử với thiện căn đã gieo trồng của trời, người v.v… cùng các hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đại Bồ tát ấy vì sao chẳng rơi vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp: Thưa Đại sĩ! Nếu đại Bồ tát đối với công đức có được do niệm Phật, chẳng khởi lên tưởng về công đức của chư Phật; đối với các thiện căn đã gieo trồng của trời, người v.v... chẳng khởi tưởng thiện căn của trời, người v.v... đối với tâm đã phát khởi sự tùy hỷ hồi hướng, cũng lại chẳng khởi tưởng về tâm này, thì đại Bồ tát ấy, không có tưởng điên đảo, không có tâm điên đảo, không có kiến điên đảo. Nếu đại Bồ tát đối với công đức đã có về sự niệm Phật và nắm lấy tướng công đức của Phật; đối với thiện căn đã gieo trồng của trời, người v.v... nắm lấy tướng thiện căn của trời, người v.v...; đối với tâm đã phát khởi sự tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, nắm lấy tướng đã phát khởi sự tùy hỷ hồi hướng này thì đại Bồ tát ấy, đã tùy hỷ hồi hướng có tưởng điên đảo, có tâm điên đảo, có kiến điên đảo.

Lại nữa, thưa Đại sĩ! Nếu đại Bồ tát dùng tâm tùy hỷ, nghĩ về công đức thiện căn của tất cả các đức Phật và chúng đệ tử, biết đúng đắn tâm này là diệt tận ly biến, chẳng thấy có năng sở tùy hỷ, nếu năng y vào điều đã nói ấy mà tùy hỷ hồi hướng là chánh, chẳng phải tà, đại Bồ tát ấy đều nên như vậy mà hồi hướng.

Lại nữa, thưa Đại sĩ! Nếu đại Bồ tát lại dùng tất cả thiện căn tích y có được cùng với các hữu tình đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, ngay khi ấy, hiểu rằng các pháp năng tùy hỷ hồi hướng là diệt tận ly biến, các pháp sở tùy hỷ hồi hướng tự tánh đều không. Tuy hiểu như vậy, mà luôn luôn tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao. Lại ngay khi ấy, hiểu rằng không có pháp nào đối với pháp nào để tùy hỷ hồi hướng. Vì sao? Vì tự tánh của tất cả các pháp đều không, trong cái không hoàn toàn không có pháp năng sở tùy hỷ hồi hướng. Tuy biết như vậy, mà luôn luôn tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao; đại Bồ tát ấy, hoặc luôn luôn tùy hỷ hồi hướng như thế, mà tu hành Bát nhã, tu hành tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật, không mắc vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy, đối với tâm tùy hỷ chẳng sanh chấp trước, đối với thiện căn công đức tùy hỷ cũng chẳng chấp trước; đối với tâm hồi hướng chẳng sanh chấp trước, đối với sở hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao cũng chẳng chấp trước. Do không chấp trước nên chẳng rơi vào điên đảo. Đại Bồ tát đã khởi tâm tùy hỷ hồi hướng như thế gọi là sự tùy hỷ hồi hướng vô thượng.

Nếu đại Bồ tát dùng thủ tướng làm phương tiện tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, đối với tất cả công đức thiện căn của Phật và đệ tử ấy, giữ lấy tướng tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là chẳng phải thiện tùy hỷ. Do nhân duyên này mà bị rơi vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Ngược lại, nếu đại Bồ tát, chẳng dùng thủ tướng làm phương tiện tu hành Bát nhã đối với tất cả công đức thiện căn của Phật và đệ tử ấy, lìa tướng tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó gọi là thiện tùy hỷ hồi hướng. Do nhân duyên này, đại Bồ tát ấy tùy hỷ hồi hướng lìa được tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Lúc bấy giờ, đại Bồ tát Di Lặc hỏi cụ thọ Thiện Hiện: Này Đại đức! Vì sao đại Bồ tát đối với công đức thiện căn của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và chúng đệ tử, tùy hỷ cùng làm các nghiệp sự phước đức đều chẳng thủ tướng, mà có khả năng tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp: Thưa Đại sĩ! Nên biết, trong sở học Bát Nhã Ba-la-mật của đại Bồ tát có những phương tiện thiện xảo như thế, tuy chẳng thủ tướng mà vẫn thành tựu được; chẳng phải lìa Bát Nhã Ba-la-mật mà năng phát khởi tùy hỷ cùng làm các nghiệp sự phước đức, hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao.

Bồ tát Di Lặc nói: Này Thiện Hiện! Chớ thuyết như vậy. Vì sao? Vì trong Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm đó, tất cả công đức thiện căn của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và chúng đệ tử đều vô sở hữu, bất khả đắc vậy. Các phước đức tùy hỷ đã làm cũng vô sở hữu, bất khả đắc; sự phát tâm hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao cũng vô sở hữu, bất khả đắc. Trong đó, đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, nên quán thế này: Công đức thiện căn của chư Phật và chúng đệ tử trong quá khứ, tánh đều đã diệt; sở tác tủy hỷ các nghiệp sự phước đức, phát tâm hồi hướng Vô thượng Bồ đề tánh đều tịch diệt. Nếu ta đối với công đức thiện căn của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và chúng đệ tử ấy, mà thủ tướng phân biệt và dùng thủ tướng phân biệt ấy làm phương tiện, phát khởi hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì chư Phật Thế Tôn đều không hứa khả (chứng cho). Vì sao? Vì đối với chư Phật Thế Tôn và chúng đệ tử đã diệt độ, mà thủ tướng phân biệt tùy hỷ hồi hướng là có sở đắc lớn. Vì vậy nên đại Bồ tát muốn đối với công đức thiện căn của chư Phật và chúng đệ tử, phát khởi sự tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao một cách đúng đắn, thì trong tâm chẳng khởi hữu sở đắc, chẳng thủ tướng phân biệt; nếu trong tâm khởi lên hữu sở đắc, thủ tướng phân biệt, tùy hỷ hồi hướng thì chư Phật chẳng cho những người kia được đại nghĩa. Vì sao? Vì tâm tùy hỷ hồi hướng như vậy là vọng tưởng phân biệt, xen lẫn độc dược. Thí như có thức ăn, tuy đủ mùi vị, màu sắc ngon lành nhưng có lẫn độc dược, người ngu không biết, tham lam lấy ăn; tuy lúc đầu thấy sướng khoái, hoan hỷ, nhưng sau không tiêu hóa được phải chịu nhiều thứ đau khổ hay chết!

Sự tùy hỷ hồi hướng đã nói như thế, là dùng hữu sở đắc, thủ tướng phân biệt làm phương tiện, như thức ăn lẫn chất độc, trước lợi sau hại, cho nên đây chẳng phải là thiện tùy hỷ hồi hướng. Vì sao? Vì dùng hữu sở đắc, thủ tướng phân biệt mà phát khởi tâm tùy hỷ hồi hướng, có nhân, có duyên, có tác ý, có hý luận, chẳng tương ưng Bát Nhã Ba-la-mật, vì nó có lẫn chất độc, tức là hủy báng Phật, chẳng theo lời Phật dạy, chẳng theo pháp đã nói. Bồ tát chủng tánh Đại thừa chẳng nên theo lập thuyết như vậy mà tu học Bát nhã.

Vậy, phải thuyết Bồ tát thừa phát khởi tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao như thế nào cho phải?

Cụ thọ Thiện Hiện thưa: Thưa Đại sĩ! Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ tát thừa, tu hành Bát nhã, nếu muốn chẳng hủy báng chư Phật Thế Tôn khi phát tâm tùy hỷ hồi hướng, thì nên nghĩ thế này: Chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác dùng Phật trí vô thượng hiểu rõ, biết khắp các thiện căn công đức, có "loại" như vậy, có "thể" như vậy, có "tướng" như vậy, có "pháp" như vậy, để tùy hỷ; ta nay cũng nên tùy hỷ như thế. Lại như chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác dùng Phật trí vô thượng hiểu rõ, biết khắp, nên dùng các nghiệp sự phước đức như thế hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao; ta nay cũng nên hồi hướng như thế. Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ tát thừa, đối với thiện căn công đức của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, nên khởi sự tùy hỷ hồi hướng như thế. Nếu khởi sự tùy hỷ hồi hướng như thế, thì tức là chẳng hủy báng Phật, theo lời Phật dạy, theo pháp Phật nói. Đại Bồ tát ấy, tâm tùy hỷ hồi hướng như vậy, chẳng lẫn chất độc, cuối cùng đạt đến quả vị Giác ngộ tối cao.

Lại nữa, thưa Đại sĩ! Thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, lúc thực hành Bát nhã phải hồi hướng thiện căn như vầy: Như sắc, thọ, tưởng v.v… chẳng thuộc Dục giới, chẳng thuộc Sắc giới, chẳng thuộc Vô sắc giới, chẳng thuộc pháp, chẳng gọi quá khứ, vị lai, hiện tại; nội không đến vô pháp hữu pháp không cũng như vậy; pháp tánh, pháp tướng, pháp trụ, thật tế, bất tư nghì tánh; giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, Nhất thiết chủng trí chẳng thuộc Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, chẳng thuộc pháp, chẳng thuộc quá khứ, vị lai và hiện tại... cũng như vậy.

Hồi hướng này, chỗ hồi hướng này và hành giả chẳng hệ thuộc cũng như vậy. Chư Phật và những thiện căn đây cũng chẳng hệ thuộc. Thiện căn của Thanh văn, Bích Chi Phật đây cũng chẳng hệ thuộc, chẳng thuộc pháp, chẳng thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì sao? Vì các pháp ấy tự tánh là không, nên chẳng thuộc tam giới, chẳng thuộc ba đời, tùy hỷ hồi hướng cũng lại như vậy, đó là vì chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác tự tánh là không, nên chẳng đọa tam giới, chẳng thuộc ba đời; vì công đức của chư Phật tự tánh là không, nên chẳng thuộc tam giới, chẳng thuộc ba đời; vì Thanh văn, Độc giác và trời, người v.v... tự tánh là không, nên chẳng thuộc tam giới, chẳng thuộc ba đời; vì các thiện căn ấy, tự tánh là không, nên chẳng thuộc tam giới, chẳng thuộc ba đời; vì tùy hỷ ấy, tự tánh là không, nên chẳng thuộc tam giới, chẳng thuộc ba đời; vì pháp sở hồi hướng, tự tánh là không, nên chẳng thuộc tam giới, chẳng thuộc ba đời; vì người thường hồi hướng, tự tánh là không, nên chẳng thuộc tam giới, chẳng thuộc ba đời.

Nếu đại Bồ tát tu hành Bát nhã như thật biết sắc, thọ, tưởng v.v… đều chẳng hệ thuộc, thì chẳng thể đem pháp nắm lấy tướng để hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì các pháp: Sắc, thọ, tưởng v.v... tự tánh bất sanh. Nếu pháp bất sanh thì không có sở hữu, chẳng thể dùng pháp vô sở hữu kia mà tùy hỷ hồi hướng vô sở hữu. Đại Bồ tát ấy tùy hỷ hồi hướng như thế, chẳng lẫn các độc, cuối cùng đạt đến quả vị Giác ngộ tối cao.

Lại nữa, thưa Đại sĩ! Trụ Bồ tát thừa, các thiện nam, thiện nữ nếu dùng hữu tướng làm phương tiện, hoặc hữu sở đắc làm phương tiện, đối với thiện căn công đức của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, phát sanh tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì như vậy là tà hồi hướng. Tâm tà tùy hỷ hồi hướng này, chẳng được chư Phật Thế Tôn khen ngợi, vì tâm tùy hỷ hồi hướng như thế chẳng phải là cái mà chư Phật Thế Tôn khen ngợi, chẳng có khả năng viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật; cũng chẳng có khả năng viên mãn tất cả pháp Phật, nên chẳng có khả năng viên mãn nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình. Do vì chẳng có khả năng viên mãn nghiêm tịnh cõi Phật thành thục hữu tình nên chẳng có khả năng chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Vì sao? Vì những vị ấy đã khởi tùy hỷ hồi hướng có lẫn các độc.

Lại nữa, thưa Đại sĩ! Các đại Bồ tát tu hành Bát nhã, nên nghĩ thế này: Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác ở mười phương thế giới, hiểu rõ như thật thiện căn công đức có pháp như thế, có thể nương vào pháp ấy mà phát sanh tùy hỷ hồi hướng không điên đảo. Ta nay cũng phải nương vào pháp như thế mà phát sanh tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là phát khởi tùy hỷ hồi hướng chơn chánh.

 

Lúc bấy giờ, Thế Tôn khen cụ thọ Thiện Hiện: Hay thay! Thiện Hiện! Nay ông đã làm việc Phật làm, đó là vì đại Bồ tát v.v... mà khéo nói tùy hỷ hồi hướng không điên đảo. Sự tùy hỷ hồi hướng đã nói như thế là dùng vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện, vô sanh làm phương tiện, vô diệt làm phương tiện, vô nhiễm làm phương tiện, vô tịnh làm phương tiện, tự tướng không làm phương tiện, tự tánh không làm phương tiện, vô tánh tự tánh làm phương tiện, chơn như làm phương tiện, pháp giới làm phương tiện, pháp tánh làm phương tiện, tánh chẳng hư vọng làm phương tiện, thật tế làm phương tiện.

Này Thiện Hiện! Giả sử tất cả hữu tình trong Tam thiên đại thiên thế giới đều được thành tựu mười thiện nghiệp đạo, bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, năm phép thần thông thì ý ông nghĩ sao? Công đức của các hữu tình ấy nhiều chăng?

Thiện Hiện đáp: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều! Bạch Thiện Thệ! Rất nhiều.

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Nếu thiện nam, thiện nữ đối với thiện căn công đức của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, phát khởi tùy hỷ hồi hướng không nhiễm trước, thì công đức đạt được, hơn trước rất nhiều. Này Thiện Hiện! Thiện nam, thiện nữ ấy, đã khởi tùy hỷ hồi hướng như thế là tối thắng, tối tôn, là cao siêu, là vi diệu, là cao cả, không gì hơn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Giả sử tất cả hữu tình trong Tam thiên đại thiên thế giới đều đắc quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, có thiện nam, thiện nữ đối với quả Dự lưu đến A la hán ấy, suốt đời cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi, dùng vô lượng các thứ y phục, ẩm thực, đồ nằm, thuốc men và các đồ dùng khác cung cấp thì theo ý ông thiện nam, thiện nữ ấy, do nhân duyên này được phước nhiều chăng?

Thiện Hiện đáp: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều! Bạch Thiện Thệ! Rất nhiều!

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Nếu thiện nam, thiện nữ đối với thiện căn công đức của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, mà khởi tùy hỷ hồi hướng không nhiễm trước, thì phước đức đạt được, hơn trước rất nhiều. Này Thiện Hiện! Các thiện nam, thiện nữ ấy, đã khởi tùy hỷ hồi hướng như thế là tối thắng, tối tôn, là cao siêu, là vi diệu, là cao cả, không gì hơn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Giả sử tất cả hữu tình trong Tam thiên đại thiên thế giới đều hướng đến quả vị Giác ngộ tối cao, hay tất cả hữu tình ở vô số thế giới trong mười phương nhiều như cát sông Hằng đều hướng đến quả vị Giác ngộ tối cao ấy, được các thiện nam, thiện nữ cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi, dùng vô lượng các thứ y phục, ẩm thực, đồ nằm, thuốc men, và các thức nuôi thân mà cung cấp đầy đủ, trải qua vô số đại kiếp, thì theo ý ông thế nào các thiện nam, thiện nữ ấy do nhân duyên này được phước nhiều chăng?

Thiện Hiện đáp: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều! Bạch Thiện Thệ! Rất nhiều! Số phước đức ấy là vô số, vô lượng, vô biên, vô hạn, tính đếm, thí dụ khó có thể biết hết. Bạch Thế Tôn! Nếu số phước ấy có hình sắc, thì vô số thế giới trong mười phương không dung chứa hết.

Phật dạy: Hay thay! Hay thay! Thiện Hiện! Số lượng phước đức ấy, như ông đã nói, nếu thiện nam, thiện nữ đối với thiện căn công đức của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, mà khởi tùy hỷ hồi hướng không nhiễm trước, thì phước đức đạt được, hơn trước rất nhiều. Này Thiện Hiện! Thiện nam, thiện nữ ấy, đã khởi tùy hỷ hồi hướng như thế là tối thắng, tối tôn, là cao siêu, là vi diệu, là cao cả, không gì hơn.

 

Người tu không nắm lấy tướng mà tu, người làm các sự nghiệp phước đức tùy hỷ cũng không mong cầu nắm bắt thì công đức tùy hỷ hồi hướng cao cả, không gì hơn!

 

Lúc bấy giờ, bốn Đại thiên vương cùng với đông đủ hai vạn Thiên tử quyến thuộc, rất đổi vui mừng liền chấp tay đảnh lễ chân Phật, nói: Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát như vậy, có khả năng phát khởi tùy hỷ hồi hướng quảng đại, dùng vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện, vô nhiễm trước làm phương tiện, vô tư tác làm phương tiện, đối với thiện căn công đức của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, phát sanh tủy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao. Phát khởi sự tùy hỷ hồi hướng như thế, chẳng rơi vào pháp nhị, pháp bất nhị(10).

Khi ấy, trời Đế Thích, thiên vương Tô dạ ma, thiên vương San đổ sử đa, thiên vương Tối tự tại, cùng với vô lượng trăm ngàn Thiên tử quyến thuộc mỗi người đều cầm các thứ tràng hoa, hương đốt, hương xoa, y phục, anh lạc, tràng phan, lọng báu… để cúng dường Phật, và bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát như vậy, mới có khả năng phát khởi tùy hỷ hồi hướng quảng đại như thế, dùng vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện, vô nhiễm trước làm phương tiện, vô tư tác làm phương tiện, đối với thiện căn công đức của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, phát tâm tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao. Đã khởi tùy hỷ hồi hướng như thế, thì chẳng rơi vào pháp nhị, pháp bất nhị.

Lúc bấy giờ, thiên vương Đại phạm, trời Cực quang tịnh, Trời Biến tịnh, Trời Quảng quả, trời Sắc cứu cánh, cùng với đầy đủ vô lượng, vô số trăm ngàn chúng Phạm thiên đến trước Phật, đảnh lễ chân Phật, cùng bạch: Bạch Thế Tôn! Thật hy hữu! Đại Bồ tát như vậy đã được Bát Nhã Ba-la-mật và phương tiện thiện xảo nhiếp thọ, vượt hơn thiện căn của các thiện nam, thiện nữ đã tu ở trước, không có phương tiện thiện xảo, hữu tướng, hữu sở đắc.

Lúc bấy giờ, Phật bảo các chúng trời nói trên: Giả sử tất cả hữu tình trong Tam thiên đại thiên thế giới đều phát tâm cầu quả vị Giác ngộ tối cao, đối với khắp tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác ở quá khứ, vị lai, hiện tại trong mười phương thế giới, từ sơ phát tâm cho đến khi đắc quả vị Giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân nhiệm mầu, sau khi nhập Vô dư y Niết bàn cho đến thời pháp diệt, ở khoảng giữa ấy, có thiện căn tương ưng với sự tu tập bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật; hoặc có thiện căn tương ưng với sự an trụ tất cả các pháp Phật, hoặc pháp đã nói của chư Như Lai, hoặc nương vào pháp ấy mà tu tập được ba nghiệp sự phước đức là thí tánh, giới tánh, tu tánh, hoặc nương vào pháp ấy tinh cần tu học mà đắc quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán hoặc đắc quả vị Độc giác, đắc Bồ tát Chánh tánh ly sanh; hoặc thiện căn có được của các hữu tình do tu hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã v.v... tất cả như vậy, nhóm tụ lại cân nhắc suy lường, dùng hữu tướng làm phương tiện, hữu sở đắc làm phương tiện, hữu nhiễm trước làm phương tiện, hữu tư tác làm phương tiện, hữu nhị bất nhị làm phương tiện, khởi lên sự tùy hỷ; đã tùy hỷ rồi hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao.

Và có thiện nam, thiện nữ phát tâm hướng đến quả vị Giác ngộ tối cao, như các hữu tình kể trên, cũng có thiện căn tương ưng với sự tu tập bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật; hoặc có thiện căn tương ưng với sự an trụ tất cả pháp Phật, tinh cần tu học mà đắc quả Dự lưu, Nhất hoàn, Bất hoàn, A la hán, hoặc quả vị Độc giác, nhập Bồ tát Chánh tánh ly sanh, hoặc thiện căn có được của các hữu tình do tu bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã v.v... tất cả nhóm tụ lại cân nhắc suy lường, nhưng dùng vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện, vô nhiễm trước làm phương tiện, vô tư tác làm phương tiện, vô nhị, bất nhị làm phương tiện, khởi lên sự tùy hỷ; đã tùy hỷ rồi hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì sự tùy hỷ hồi hướng của thiện nam, thiện nữ này là tối thắng, tối tôn, là cao siêu, là vi diệu, là cao cả, không gì hơn; so với sự tùy hỷ hồi hướng của hữu tình nói trước, trăm ức lần nhiều hơn, ngàn ức lần nhiều hơn, trăm ngàn ức lần nhiều hơn, vô số trăm ngàn ức lần nhiều hơn, bội số, bội toán, bội dụ cho đến bội cực số cũng hơn rất nhiều. (Q.172, ĐBN)

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Vì sao Thế Tôn nói, sự tùy hỷ hồi hướng của thiện nam thiện nữ ấy là tối thắng, tối tôn, là cao siêu, là vi diệu, cao cả, không gì hơn?

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Thiện nam, thiện nữ ấy đối với khắp cả các thiện căn của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, Thanh văn, Độc giác, Bồ tát và tất cả các hữu tình khác ở quá khứ, vị lại, hiện tại trong mười phương thế giới, chẳng thủ chẳng xả, chẳng kiêu căng, chẳng khinh mạn, chẳng phải có sở đắc, chẳng phải không sở đắc; lại biết các pháp là không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh, không tăng, không giảm, không khứ, không lai, không tụ, không tán, không nhập, không xuất, nghĩ như thế này: Các pháp chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì ở quá khứ, vị lai, hiện tại kia, Ta cũng tùy hỷ hồi hướng như thế. Này Thiện Hiện! Tùy hỷ xong, hồi hướng Vô thượng Bồ đề.

Này Thiện Hiện! Sự tùy hỷ hồi hướng này so với các pháp tùy hỷ khác gấp trăm ức lần, ngàn ức lần, trăm ngàn ức lần, vô số trăm ngàn ức lần, gấp bội số, bội toán, bội tính, bội dụ cho đến bội cực số… Vì vậy, nên Ta nói sự phát khởi tùy hỷ hồi hướng như thế là tối thắng, là tối tôn, là cao siêu, là vi diệu, cao cả, không gì hơn. (Q.172, ĐBN)

Lại nữa, Thiện Hiện! Trụ Bồ tát thừa, các thiện nam, thiện nữ muốn đối tất cả Như Lai ứng Chánh đẳng quá khứ vị lai hiện tại mười phương thế giới, từ sơ phát tâm đến được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp, sau khi vào Vô dư y Niết Bàn cho đến Chánh pháp diệt tận. Ở thời gian giữa, có bao tất cả bố thí tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật đa tương ưng thiện căn. Hoặc nhóm giới, nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến. Hoặc bao nhiêu vô lượng vô biên Phật pháp. Hoặc các công đức thiện căn của Thanh Văn, Độc giác, Bồ Tát. Hoặc các hữu tình có bao thí tánh, giới tánh, tự tánh ba phước nghiệp sự và các thiện pháp  khác, nhóm họp cân lường, hiện tiền phát khởi tâm không điên đảo tùy hỷ hồi hướng. Nhưng, Phải quan niệm rằng bố thí đồng đẳng với giải thoát; năm độ kia cũng đồng đẳng với giải thoát; sắc, thọ, tưởng, hành, thức đồng đẳng với giải thoát; nội không đến vô pháp hữu pháp không đồng đẳng với giải thoát; tứ niệm xứ đến bát thánh đạo phần đồng đẳng với giải thoát; thập lực đến Nhất thiết chủng trí đồng đẳng với giải thoát; giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến đồng đẳng với giải thoát; tùy hỷ đồng đẳng với giải thoát; các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại đồng đẳng với giải thoát; chư Phật mười phương cùng giải thoát đồng đẳng; chư Phật hồi hướng cùng giải thoát đồng đẳng; chư Phật cùng giải thoát đồng đẳng; chư Phật diệt độ cùng giải thoát đồng đẳng; Thanh văn, Bích Chi Phật cùng giải thoát đồng đẳng; Thanh văn, Bích Chi Phật diệt độ cùng giải thoát đồng đẳng; pháp tướng của chư Phật cùng giải thoát đồng đẳng; pháp tướng của Thanh văn, Bích Chi Phật cùng giải thoát đồng đẳng. Tất cả các pháp tướng cũng cùng giải thoát đồng đẳng, tôi đem tướng những thiện căn này tùy hỷ công đức hồi hướng Vô thượng Bồ đề cũng đồng đẳng với giải thoát, vì bất sanh bất diệt vậy.

Thiện Hiện! Đại Bồ tát này tùy hỷ hồi hướng như vậy là tối, là thắng, là tôn, là cao, là diệu, là vi diệu, là thượng, là vô thượng, vô đẳng, vô đẳng đẳng. Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát trọn nên tùy hỷ hồi hướng như thế, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu tới Đại Thừa, các thiện nam, thiện nữ, giả sử đối tất cả  Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và chúng đệ tử mười phương thế giới hằng hà sa thảy, đem hữu tướng làm phương tiện, hữu sở đắc làm phương tiện, trọn một đời sống cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Lại đem các thứ áo mặc, ăn uống, đồ nằm, thuốc thang và bao nhiêu tư sanh lạc cụ hạng nhất mà phụng thí lên, sau khi các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và chúng đệ tử kia vào Niết Bàn, lấy ngọc Xá lợi đem bảy báu hạng thượng xây đắp các ngôi bảo tháp cao rộng tôn nghiêm, ngày đêm tinh siêng lễ kính đi quanh hữu. Lại dùng các thứ thượng diệu tràng hoa, hương bột, hương đốt, hương xoa, y phục, anh lạc, bảo tràng, phan lọng, các ngọc diệu trân kỳ quý lạ, kỹ nhạc, đèn sáng, hết thảy sẵn có cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen. Lại đem việc tu tập bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật cùng với công đức thiện căn của các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, phát sanh tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Lại có các thiện nam, thiện nữ phát tâm tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, đem vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện tu tập bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, Bát Nhã Ba-la-mật cùng với công đức thiện căn của các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, phát sanh tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Các thiện nam, thiện nữ này do nương Bát Nhã Ba-la-mật, phương tiện khéo léo tùy hỷ hồi hướng, hơn kẻ tùy hỷ hồi hướng trước trăm bội, ngàn bội, trăm ngàn bội, trăm ức bội, kế bội, dụ bội cho đến cực số bội. Cho nên nói tùy hỷ hồi hướng như thế là tối, là thắng, là tôn, là cao, là diệu, là vi diệu, là thượng, là Vô thượng, vô đẳng, vô đẳng đẳng. Vậy nên, Thiện Hiện! Phát tâm tới Đại Thừa, các đại Bồ tát đều nên đem vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện tu tập bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật thảy tương ưng thiện căn và nương Bát Nhã Ba-la-mật, phương tiện khéo léo đối công đức thiện căn của các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử, phát tâm tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

 

Thích nghĩa:

(1). Tùy hỷ: Vui theo điều thiện. Vui theo cái vui của người (thấy người làm việc thiện, lòng mình hoan hỷ vui theo)—To rejoyce in all good—To rejoice in the welfare of others, or to do that which one enjoys, or to follow one's inclination (Từ điển Phật học Việt Anh - Đồng Loại).

(2). Hồi hướng: (回向) I. Hồi Hướng(Phạm: Parìịàma): Cũng gọi Chuyển hướng, Thí hướng. Đem công đức thiện căn do chính mình tu được chuyển lại cho chúng sinh để cùng được lợi ích như mình, gọi là hồi hướng. Trong các Kinh luận có nhiều thuyết nói về hồi hướng. 1. Theo thuyết Tính không của hệ tư tưởng Bát nhã, nếu hồi hướng mà không thấy có người hồi hướng, có pháp để hồi hướng, có nơi chốn để hồi hướng, thì mới được gọi là Hồi hướng chân thực. Phẩm Hồi hướng trong Kinh “Tiểu Phẩm Bát Nhã” do Ngài Cưu Ma La Thập dịch (Đại 8, 548 trung), nói: Không có một pháp nào có thể gọi là pháp hồi hướng, mới được gọi là chính hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (…) Vì chư Phật dạy hồi hướng không được chấp tướng, (...), nếu hồi hướng mà còn chấp tướng thì gọi là Tạp độc. 2. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 của Ngài Tuệ Viễn chia hồi hướng làm 3 loại: a). Bồ đề hồi hướng: Đem tất cả thiện pháp mà mình tu hành để hướng cầu Bồ đề. b). Chúng sinh hồi hướng: Vì thương chúng sinh nên nguyện đem tất cả pháp lành mà mình tu được để ban cho họ. c). Thực tế hồi hướng: Đem thiện căn của mình hồi hướng để cầu pháp tính bình đẳng như thực. 3. Trong Hoa nghiêm Kinh sớ quyển 26, Ngài Trừng Quán nêu ra 10 loại hồi hướng, nhưng thâu tóm lại còn 3 loại: a). Bồ đề hồi hướng: Xoay nhân hướng tới quả, xoay kém hướng hơn, xoay tỉ hướng chứng. b). Chúng sinh hồi hướng: Xoay mình hướng tới người, xoay ít hướng nhiều, xoay nhân hạnh của mình hướng tới nhân hạnh của người. c). Thực tế hồi hướng: Xoay sự hướng lý, xoay hạnh sai biệt hướng hạnh viên dung. Ngoài 8 loại hồi hướng trên đây, 2 loại còn lại là: Xoay thế (việc thế tục) hướng xuất thế (cầu Phật đạo) và Xoay thuận lý sự hạnh hướng lý sở thành sự. Hai loại Hồi hướng này thông cả quả Bồ đề hồi hướng và Thực tế hồi hướng. 4. Theo thuyết của tông Tịnh độ thì có 2 loại Hồi hướng: a). Vãng tướng hồi hướng: Đem công đức của mình ở đời quá khứ và đời hiện tại hồi hướng cho chúng sinh, nguyện cùng được sinh về Tịnh độ phương Tây. b). Hoàn tướng hồi hướng: Sau khi đã vãng sinh Tịnh độ, phát tâm đại bi trở lại cõi Ta bà, giáo hóa chúng sinh, cùng hướng về Phật đạo. 5. Trong An lạc tập quyển hạ, Ngài Đạo Xước nêu ra 6 loại hồi hướng: a). Đem các công đức do mình tu được hồi hướng đức Phật A di đà cầu sinh về Tịnh độ, để sau khi được 6 thần thông, trở lại thế gian cứu độ chúng sinh. b). Hồi nhân hướng quả. c). Hồi hạ hướng thượng. d). Hồi chậm hướng nhanh. e). Hồi hướng cho chúng sinh bi niệm hướng thiện. g). Hồi hướng dứt hết tâm phân biệt. [X. Kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Hoa nghiêm Kinh thám huyền kí Q.8]. II. Hồi Hướng. Cũng gọi Thập hồi hướng vị. Mười giai vị tu hành của Bồ tát. (xt. Bồ tátGiai Vị)- Phật Quang tự điển.

Cụm từ "Tùy hỉ hồi hướng": Nói nôm na là thấy người khác làm việc thiện, làm việc có công đức, đem công đức ấy chia sẻ cho tất cả chúng sanh khác rồi hồi hướng Vô Thượng Chánh đẳng Bồ đề để thoát khỏi sanh tử mà được Niết bàn. Nếu mình không đủ sức, không đủ phương tiện để làm như vậy, nhưng lại rất vui mừng hoan hỷ tán thán công đức của những người đã hồi hướng như vậy. T.B.

 (3). Di lặc Bồ tát(Phạm: Maitreya, Pàli: Metteyya, Hán dịch: Từ thị): Theo Kinh Di lặc thượng sinh và Kinh Di lặc hạ sinh chép, thì Ngài Di lặc sinh ra trong một gia đình Bà la môn, sau xuất gia tu Phật và nhập diệt trước đức Phật, mang thân Bồ tát trụ ở cõi trời Đâu suất, giảng pháp cho các trời ở cõi này. Theo truyền thuyết thì vị Bồ tát này vì muốn giáo hóa thành tựu cho chúng sinh nên ngay từ lúc mới phát tâm đã không ăn thịt, do nhân duyên ấy mà có tên là Từ thị. Đại nhật Kinh sớ quyển 1 nói, Bồ tát Từ thị là lấy Từ trong bốn tâm vô lượng của Phật làm đầu. Lòng từ đó sinh ra từ hạt giống Như lai, khiến hết thảy thế gian không mất tính Phật, cho nên gọi là Từ thị. Đức Thích Tôn từng thọ ký cho Bồ tát Di Lặc, hết thời kỳ loài người sống lâu 4000 tuổi (ước chừng 57 tỉ 6o triệu năm nữa), Bồ tát Từ Thị sẽ giáng sanh xuống cõi này thành Phật dưới gốc cây Long hoa, chia làm ba hội thuyết pháp, độ vô số chúng sanh. Trong thực tế, Phật tử đã tôn xưng Di Lặc Bồ tát là Phật và gọi là Di lặc Như lai, mặc dầu Ngài chỉ là Bồ tát bổ xứ, đang thuyết pháp tại cung trời Đâu suất. Các Kinh thuộc về Di Lặc Bồ tát gồm Di Lặc bổn Kinh, Di Lặc thượng sanh Kinh, Di Lặc hạ sanh Kinh, Di Lặc đại thành Phật Kinh.

 (4). Sở duyên: Thức không thể tự sinh khởi nếu không có đối tượng, hay là cảnh giới khách quan. Đối tượng hay cảnh giới khách quan của thức, gọi là sở duyên. Đối lại là năng duyên: Tâm và tâm sở gọi là năng duyên, tính của tâm và tâm sở pháp là yếu ớt, phải nương vào phương tiện mới sinh khởi, cũng giống như người bị liệt chân, không có gậy không thể đi được. Trong thí dụ này, có thể nói “người tật nguyền” là năng duyên, sở duyên là “gậy”.

(5). Phan duyên: Nương theo, vịn theo các duyên. Ví như nhân một chuyện này mà nghĩ đến các chuyện khác, lại đến các chuyện khác nữa, như cây leo bò vịn vào rào dậu leo mãi không ngừng, gọi là phan duyên. Tâm ý nương theo sáu trần làm duyên, nẩy sanh những ý tưởng suy xét, mưu tính mãi mãi không dừng, gọi là phan duyên.

(6). Sở thủ: (Skt:Grahya) Cái bị nắm lấy hay cái bị nhận thức. (Từ điển Phật học Việt Anh - Thiện Phúc)

(7). Thiện căn: Căn lành, hạnh lành là cội gốc sanh ra quả lành, nên gọi là thiện căn như ba tính vô tham, vô sân, vô si là thể của thiện căn, gọi chung là tam thiện căn. Còn bất thiện căn tương phản với thiện căn là tham, sân, si thì gọi là tam bất thiện căn hay là Tam độc.

(8). Tâm tận diệt ly biến: Bản dịch chính của HT Thích Trí Nghiệm đăng trong tuvienquangduc.com dịch là "tâm tận diệt ly biến". Bản dịch đã củ soát của một nhóm Tỳ kheo và các cư sĩ đăng trong thuvienhoasen.org cũng dịch là "tâm tận diệt ly biến". Bản gốc bằng chữ Hán đăng trong hoavouu.com ghi bằng chữ Hán có phụ âm là "tâm tận diệt ly biến", nghĩa là tất cả các bản dịch trên giữ y nguyên văn, không dịch gì cả. Nếu dùng lối chiết tự để giải thích riêng rẽ bốn từ này thì: Tận() là hết, không còn gì; Diệt() là tan mất; Ly() là lìa; Biến(): là biến mất, biến hoại.

- Phẩm "Tùy Hỷ Hồi Hướng", quyển 432, Hội thứ II, ĐBN dịch "tâm tận diệt ly biến" là "diệt tận ly biến", dịch như không dịch;

- Phẩm "Tùy Hỉ Hồi Hướng" Hội thứ III, ĐBN dịch là "tâm hết diệt lìa biến". Dịch như vậy xác nghĩa nhưng rất khó hiểu, nhưng rất phù hợp với Kinh văn.

- Phẩm 6: “Tùy Hỷ Hồi Hướng”, Kinh "Phật Mẫu Bát Nhã", do Ngài Thí Hộ dịch từ Tạng sang Hán và Thầy Thích Từ Chiếu dịch từ Hán sang Việt, dịch tận diệt ly biến là tận, diệt, ly;

- Phẩm “Tùy Hỷ”, cuối quyển 12, Kinh MHBNBL do Ngài La Thập dịch từ Tạng sang Hán và HT Thích Trí Tịnh dịch từ Hán sang Việt, dịch tận diệt ly biến là tận diệt biến ly.

Để giải thích chung cho 5 Hội cụm từ "tận diệt ly biến" bằng chữ Hán, Phẩm 6: “Tùy Hỷ Hồi Hướng”, Kinh "Phật Mẫu Bát Nhã", do Thí Hộ dịch từ Phạn sang Hán, Thầy Thích Từ Chiếu dịch tận diệt ly biến là "tận diệt ly" với ý nghĩa như sau: "Lại nữa, nếu các Bồ tát Ma ha tát lấy tâm có sở đắc mà hồi hướng, thì tâm này chính là tận, chính là diệt, chính là ly. Tâm tận, diệt đó không thể hồi hướng".

Nếu tâm còn sở đắc thì "hết thuốc chữa" nên không thể hồi hướng. Tâm chỉ có thể hồi hướng phải là tâm không còn năng sở, nắm bắt, không còn phân biệt chấp đắm, thủ giữ thì mới có thể gọi là hồi hướng chân thật. Đó là lối giải thích của chúng tôi, không biết có đúng với ý của Quý vị hay không?

 (9). Tín giải: 1- Tin và hiểu giáo lý. Có cả niềm tin và thông hiểu Phật pháp, niềm tin chân chính, niềm tin trọn vẹn (s: adhimukti)- Theo Kinh Pháp Hoa. 2- Tin vào chính mình và người khác. 3- Niềm hân hoan, phát sinh do tâm mình tin nhất định sẽ được giác ngộ. (Từ điển Phật học Anh-Hán-Việt).

(10). Nhị pháp, bất nhị pháp: Thử kiểm điểm lại từ lúc bắt đầu tụng đọc Đại-Bát-Nhã tới đây, giáo pháp nào được nhắc đến nhiều nhất? Có thể nói đó là nhị pháp: Hữu tướng - vô tướng, hữu sở đắc - vô sở đắc, hữu nhiễm - vô nhiễm v.v… Có hàng ngàn từ diễn tả về pháp đối đãi này trong ĐBN. Bất nhị pháp (hay pháp môn bất nhị): Không hữu - không vô nghĩa là chẳng phải có - cũng chẳng phải không, chẳng phải hữu sở đắc - cũng chẳng phải vô sở đắc… Con người chỉ thích “lý sự” giữa cái đúng hay sai, tốt hay xấu, sang hay hèn, rộng hay hẹp… Ai nói ngược lại thì chống đối, giận hờn, ghét bỏ... Nhưng họ không hiểu và cũng không cần hiểu, chính tâm thương ghét, phân biệt đó là con đường dẫn đến trầm luân không bao giờ dứt. Vì sao? Vì nó không phải là đại bi tâm, mà chỉ là tật đố. Muốn thoát khỏi bế tắt đó thì phải chuyển thức thành trí, và trí chỉ thành tựu khi nào thức vọng phân biệt ngủ yên.

 

Lược giải:

 

Kinh nói:

- "Cụ thọ Thiện Hiện hỏi Bồ tát Di lặc: Nhưng nếu đại Bồ tát lấy quả vị Giác ngộ tối cao làm sở duyên mà tùy hỷ hồi hướng tức sanh tâm duyên nơi sự thì chỗ nghĩ tưởng như thế có được như ý muốn chăng?

Bồ tát Di Lặc trả lời Thượng tọa Thiện Hiện: Nếu đại Bồ tát có tâm phan duyên như vậy tức là có sở thủ, tức trụ tưởng điên đảo, như thế không thể được như ý muốn. Nếu đại Bồ tát từ lâu tu hành sáu phép Ba-la-mật, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, đời trước đã từng trồng thiện căn, từ lâu phát đại nguyện, lại được các thiện hữu nhiếp thọ, khéo học nghĩa không của tự tướng các pháp, thì đại Bồ tát này đối với sở duyên chẳng khởi tâm thủ tướng, nếu chẳng khởi tâm thủ tướng thì có khả năng phát khởi sự tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao. Tùy hỷ hồi hướng như thế là do dùng phi nhị - phi bất nhị làm phương tiện; phi tướng - phi vô tướng làm phương tiện; phi hữu sở đắc - phi vô sở đắc làm phương tiện; phi nhiễm - phi tịnh làm phương tiện; phi sanh - phi diệt làm phương tiện. Vì vậy, đối với sở duyên cho đến quả vị Giác ngộ tối cao chẳng thủ tướng; vì chẳng thủ tướng nên chẳng trụ tưởng điên đảo".

- "Nếu đại Bồ tát dùng thủ tướng làm phương tiện tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, đối với tất cả công đức thiện căn của Phật và đệ tử ấy, giữ lấy tướng tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là chẳng phải thiện tùy hỷ hồi hướng. Do nhân duyên này mà bị rơi vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Ngược lại, nếu đại Bồ tát, chẳng dùng thủ tướng làm phương tiện tu hành Bát nhã đối với tất cả công đức thiện căn của Phật và đệ tử ấy, lìa tướng tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó gọi là thiện tùy hỷ hồi hướng. Do nhân duyên này, đại Bồ tát ấy tùy hỷ hồi hướng lìa được tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo".

- "Sự tùy hỷ hồi hướng đã nói như thế, là dùng hữu sở đắc, thủ tướng phân biệt làm phương tiện, như thức ăn lẫn chất độc, trước lợi sau hại, cho nên đây chẳng phải là thiện tùy hỷ hồi hướng. Vì sao? Vì dùng hữu sở đắc, thủ tướng phân biệt mà phát khởi tâm tùy hỷ hồi hướng, có nhân, có duyên, có tác ý, có hý luận, chẳng tương ưng Bát Nhã Ba-la-mật, vì nó có lẫn chất độc, tức là hủy báng Phật, chẳng theo lời Phật dạy, chẳng theo pháp đã nói. Bồ tát chủng tánh Đại thừa chẳng nên theo lập thuyết kia mà tu học".

- "Lúc bấy giờ, Thế Tôn khen cụ thọ Thiện Hiện: Hay thay! Thiện Hiện! Nay ông đã làm việc Phật làm, đó là vì đại Bồ tát v.v... mà khéo nói tùy hỷ hồi hướng không điên đảo. Sự tùy hỷ hồi hướng đã nói như thế là dùng vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện, vô sanh làm phương tiện, vô diệt làm phương tiện, vô nhiễm làm phương tiện, vô tịnh làm phương tiện, tự tướng không làm phương tiện, tự tánh không làm phương tiện, vô tánh tự tánh không làm phương tiện, chơn như làm phương tiện, pháp giới làm phương tiện, pháp tánh làm phương tiện, tánh chẳng hư vọng làm phương tiện, thật tế làm phương tiện". Đó là mấu chốt giáo lý của phẩm này.

Từ những dẫn chứng trên, chúng ta có thể rút ra các kinh nghiệm cho sự tùy hỷ hồi hướng như sau:

 

1- Hồi hướng mà nắm lấy tướng là hồi hướng có sở đắc, không được coi là thiện hồi hướng. Vì tâm tùy hỷ hồi hướng như vậy là vọng tưởng phân biệt, xen lẫn chất độc... Còn hồi hướng chân chính, tức không nắm lấy tướng, không phân biệt thì được hưởng phước vô lậu không gì bằng. Phẩm “Tùy Hỷ Hồi Hướng”, quyển 171, ĐBN, nói: "Hồi hướng chân chính là dùng vô tướng làm phương tiện, vô sở đắc làm phương tiện, vô sanh làm phương tiện, vô diệt làm phương tiện, vô nhiễm làm phương tiện, vô tịnh làm phương tiện, tự tướng không làm phương tiện, tự tánh không làm phương tiện, vô tánh tự tánh không làm phương tiện…". Hồi hướng như thế là chân chánh không gì bằng nên nói là hơn tất cả các sự hồi hướng khác gấp trăm ức lần, vạn ức lần, gấp bội số, bội toán, bội tính, bội dụ cho đến bội cực số… Vì vậy nên Phật nói sự phát khởi tùy hỷ hồi hướng như thế là tối thắng, là tôn quí, là vi diệu, không gì hơn.

 

2- Tùy hỷ không năng sở, hồi hướng cũng không năng sở. Tùy hỷ hồi hướng mà còn thấy ngã, tức có tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo, đó là năng tùy hỷ. Tùy hỷ mà duyên sự bên ngoài: Lấy công đức, lấy chứng đắc để tùy hỷ, đó là sở tùy hỷ. Vì lấy năng sở tùy hỷ tức lấy nhị pháp làm phương tiện, đó là chấp trước. Nên công đức tùy hỷ hồi hướng không có ý nghĩa. Tùy hỷ hồi hướng chỉ có ý nghĩa khi nhận thức rằng:

“Tự tánh của tất cả các pháp đều không, trong cái không hoàn toàn không có pháp năng, sở tùy h hồi hướng. Tuy biết như vậy, mà luôn luôn tùy h hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao; đại Bồ tát ấy, hoặc luôn luôn tùy h hồi hướng như thế, mà tu hành Bát nhã, tu hành tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật, không có tưởng điên đảo, không có tâm điên đảo, không có kiến điên đảo. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy, đối với tâm tùy hỉ chẳng sanh chấp trước, đối với thiện căn công đức tùy h cũng chẳng chấp trước; đối với tâm hồi hướng chẳng sanh chấp trước, đối với sở hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao cũng chẳng chấp trước. Do không chấp trước nên chẳng rơi vào điên đảo. Đại Bồ tát đã khởi tâm tùy h hồi hướng như thế gọi là sự tùy h hồi hướng vô thượng”(1).

 

3- Vấn đáp giữa Thiện Hiện với Thiên Đế Thích trong phẩm “Thiên Đế” quyển 77, Hội thứ I, ĐBN, cho thấy thái độ của hành giả Bát nhã phải có giữa tâm hồi hướng và tâm Bồ đề (tâm giác ngộ) như sau:

"Tâm hồi hướng của đại Bồ tát chẳng hòa hiệp với tâm Bồ đề; tâm Bồ đề chẳng hòa hiệp với tâm hồi hướng; tâm hồi hướng ở trong tâm Bồ đề vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; tâm Bồ đề ở trong tâm hồi hướng vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Đại Bồ tát tuy quán các pháp, nhưng đối với các pháp hoàn toàn không có sở kiến, vô năng thủ thì này Kiều Thi Ca, đó là Bồ tát Bát Nhã Ba-la-mật.

Thiên Đế Thích hỏi Thiện Hiện: Bạch Đại đức! Thế nào là tâm hồi hướng của đại Bồ tát chẳng cùng với tâm Bồ đề hòa hiệp? Thế nào là tâm Bồ đề chẳng cùng tâm hồi hướng hòa hiệp? Thế nào là tâm hồi hướng ở trong tâm Bồ đề vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được? Thế nào là tâm Bồ đề ở trong tâm hồi hướng, vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được?

Thiện Hiện trả lời: Kiều Thi Ca! Tâm hồi hướng của đại Bồ tát là phi tâm, tâm Bồ đề cũng phi tâm; nếu là phi tâm thì bất khả tư nghì, chẳng lẽ phi tâm lại hồi hướng phi tâm, cũng chẳng lẽ phi tâm lại hồi hướng bất khả tư nghì! Chẳng lẽ bất khả tư nghì lại hồi hướng bất khả tư nghì! Cũng chẳng lẽ bất khả tư nghì lại hồi hướng phi tâm! Vì sao? Vì phi tâm tức là bất khả tư nghì, bất khả tư nghì tức là phi tâm. Như vậy, hai thứ đều vô sở hữu, vì trong cái vô sở hữu, không có hồi hướng".

Đó là chỗ tột cùng của hồi hướng. Như vậy, hồi hướng có ý nghĩa chân chánh là tâm hồi hướng và tâm giác ngộ phải là tâm không (phi tâm). Tâm không là rỗng không, vô sở hữu, bất khả đắc, không năng không sở, không còn chủ khách, không phân biệt. Hay nói khác là hồi hướng mà không thấy có người hồi hướng, không có pháp để hồi hướng, không có chỗ (đối tượng) hồi hướng. Đó là hồi hướng thanh tịnh, nên gọi là chân hồi hướng!

 

4- Nếu thiện nam, thiện nữ đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại mà chẳng thủ, chẳng xả, chẳng nhớ chẳng phải chẳng nhớ, chẳng được chẳng phải chẳng được. Trong các pháp đó cũng chẳng có pháp sanh diệt, cấu tịnh, tăng giảm, lai khứ, hiệp tán, nhập xuất và cũng không dùng nhị pháp, chẳng nắm lấy... cùng chúng sanh tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Đây là sự tùy hỷ đệ nhất hơn hết, vi diệu vô thượng, không gì bằng "nhưng phải quan niệm rằng tùy hỷ đồng đẳng với giải thoát; hồi hướng chư Phật cũng đồng đẳng với giải thoát"(2). Đem những thiện căn nầy tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Bồ tát tùy hỷ công đức như thế thời mau được Vô thượng Bồ đề.

Thích nghĩa cho phần lược giải này:

(1). Phẩm “Tùy hỷ Hồi Hướng” quyển 169, Hội thứ I, ĐBN.

(2). "Giải thoát" có nghĩa là vượt qua mọi hệ lụy, mọi câu thúc thế gian (do chính mình tạo ra hay do hoàn cảnh chung quanh ràng buộc). Phẩm “Tùy Hỷ” quyển 12, MHBNBLM.

 


 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn