Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Đại Bát Nhã Ba La Mật Tổng Luận

09/04/202007:29(Xem: 718)
Đại Bát Nhã Ba La Mật Tổng Luận

Phat_Thich_Ca_14
Dai Bat Nha Ba La Mat Tong Luan_Cu Si Thien Buu

ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

TỔNG LUẬN

 

Cư Sĩ Thin Bu

 

 (Xuất bản lần thứ I)

 

 

 

 

Thành kính cám ơn:

 

Trước hết cám ơn sanh thành và nuôi dưỡng của bố mẹ, cho tôi một đời đáng sống  này. Kế đến cám ơn người bạn đường, chịu nhiều khổ cực ròng rã trong suốt 10 năm qua giúp tôi hoàn thành thiên Tổng luận Đại Bát Nhã Ba La Mật này. Sau nữa chân thành cám ơn những nhân vật sau đây đã đem lại nhiều ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc sống tâm linh của chúng tôi:

1. Đức ngài Minh Đăng Quang, Tổ của Tông khất thực Việt Nam, và cũng là người đặt pháp danh cho tôi là Thiện Bửu lúc tôi mới 13 tuổi đời khi tôi thọ giáo qui y với ngài;

2. Chân thành cám ơn đức thầy Thích Thiện Hoa, người hóa đạo cho tôi

3. Sau nữa cám ơn Thiền sư D.T. Suzuki, người được xem như là Bồ tát trong thời đại mới, đã có công xiển dương đạo Phật tại các quốc gia Tây Âu và cũng là người đã mỡ con mắt đạo cho tôi về Tánh không Bát nhã.

Sau cùng, cám ơn những ai đã từng khổ nhọc hy sinh công của góp phần xây dựng lâu đài Phật đạo Việt nam nói riêng và thế giới nói chung, nhờ đó chúng tôi có đầy đủ chất liệu để học, để tu, để giải, để hành.

Xin hồi hướng công đức này cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo.


San José- CA, Ngày 24/02/2020.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Cư Sĩ Thiện Bửu

 

 

 Kinh Dai Bat Nha- HT Thich Tri Nghiem_1 

  

TỰA

 

Nói về quá trình thành lập và triển khai của kinh điển thuộc hệ Bát nhã(1), thì Đạo Hành kinh 10 quyển của Chi lâu Ca sấm (Lokaraksha) có lẽ là quyển kinh Bát nhã cổ nhất, dịch vào thời Hậu Hán, xuất hiện vào năm 172(2). Tiểu Phẩm Bát Nhã Kinh, 10 quyển, gồm 29 phẩm, do ngài Cưu Ma La Thập (Kumaràjiva) dịch vào đời Hậu Tần cũng xuất hiện sớm: Nội dung thuyết minh về các giáo pháp Bát nhã Ba la mật (các bản dịch khác của kinh nầy gồm: Kinh Đại Minh Độ Vô Cực 6 quyển, do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô, thời Tam Quốc; kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Sao 5 quyển, do các ngài Đàm Ma Tì và Trúc Phật Niệm cùng dịch vào đời Tiền Tần). Kế tiếp là kinh Ma Ha Bát Nhã Ba la mật 27 quyển (hoặc 30 hoặc 40 quyển), gọi là Đại phẩm Bát nhã, cũng do Cưu Ma La Thập dịch vào thời Hậu Tần: Nội dung cũng thuyết minh về các giáo pháp Bát nhã Ba la mật. Đây là bộ kinh căn bản nói về Bát Nhã Không Quán ở thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa (các bản dịch khác của kinh này là Kinh Quang Tán Bát Nhã, 10 quyển, thiếu nữa sau, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn và kinh Phóng Quang Bát Nhã, 20 quyển, do ngài Vô Xoa La dịch vào đời Tây Tấn). Sau hết là kinh Đại Bát Nhã của ngài Huyền Trang dịch và các bộ Bát nhã khác như kinh Kim Cương Bát nhã Ba la mật xuất hiện tiếp theo.   

Trước ngài Huyền Trang đã có một số kinh Bát nhã được dịch ra Hán văn như đã kể trên, nhưng vì chưa được đầy đủ nên ngài Huyền Trang mới tổ chức dịch lại. Ngài Huyền Trang bắt đầu phiên dịch Đại Bát Nhã tại chùa Ngọc Hoa cung vào tháng giêng năm Hiển khánh thứ 5 (660) đời vua Cao tông nhà Đường đến tháng 10 năm Long sóc thứ 3 (663) thì hoàn tất. Năm sau, ngài thị tịch tại chùa Ngọc Hoa cung. Đó là một bản dịch đồ sộ gồm 24 tập, 600 quyển chia làm 16 hội, thuyết giảng tại bốn địa điểm là: 1. Núi Thứu Phong thuộc thành Vương xá; 2. Lâm Kỳ viên - Cấp cô độc; 3. Cung trời Tha hóa tự tại và 4. Gần ao cò trắng trong Tịnh xá Trúc lâm, thành Vương xá. Đó một đại tùng thư gồm hầu hết kinh điển thuộc hệ Bát Nhã của Đại thừa.

Phải công nhận Đại Bát Nhã Ba la mật (Mahaprajna-paramita-Sutra)(3), một bộ kinh vĩ đại, do ngài Huyền Trang dịch, một công trình dịch thuật to lớn, nhưng lại trùng tụng(4) quá nhiều. Có những đoạn kinh cùng một ý tưởng hay cùng một giáo lý như nhau nhưng lặp đi lặp lại cả chục lần, có khi cả trăm lần như các pháp mầu Phật đạo... Do đó, việc luận giải sẽ gặp quá nhiều khó khăn.

Bản Việt dịch do HT. Thích Trí Nghiêm thực hiện 600 quyển, dài hơn 7.000 trang đánh máy khổ lớn, không thể chép lại đúng nguyên văn trong khi luận giải được. Nếu để nguyên (không tóm lược), bản tổng luận trở nên quá dài, không ai có can đảm đọc tụng cả! Để tiện việc nghiên cứu, tu học chúng tôi bắt buộc phải tóm lược. Đó cũng chính là công việc của ngài Cưu Ma La Thập khi soạn dịch kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nhưng ngài La Thập chỉ soạn dịch Hội thứ II mà thôi, còn chúng tôi phải tóm lược tổng cộng 16 Hội. Kinh văn quá dài, chắc chắn phải cắt xén, nhưng tự hứa sẽ cố trình bày đầy đủ những gì mà Bát Nhã muốn truyền đạt.

Trong phần tựa Đại Bát Nhã, có thuật lại kinh nghiệm dịch thuật của ngài Huyền Trang như sau: “Văn đã rộng lớn, người học thỉnh cầu Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang giản lược bớt; Pháp Sư hầu như muốn thuận theo ý của mọi người, giống như ngài La Thập đã làm, cắt bỏ bớt những đoạn văn phiền phức trùng điệp. Khởi nghĩ như vậy rồi, đêm đến nằm mộng thấy có những cảnh tượng ghê sợ răn đe như thấy bay lên cao quá nguy hiễm, đi đến những chỗ hiễm khóc, hoặc thấy thú dữ bắt người v.v… run sợ toát mồ hôi mới thoát được. Khi tỉnh giấc, thuật lại các việc ấy cho những người yêu cầu biết, rồi sau đó y như kinh phiên dịch nguyên văn, không cắt sén thêm bớt gì cả. Đêm đến bèn thấy chư Phật Bồ Tát phóng hào quang nơi chặng giữa mày soi xúc thân mình, tâm ý vui thích. Pháp Sư lại thấy mình tay cầm đèn hoa cúng dường chư Phật, thấy bay lên tòa cao thuyết pháp, có nhiều người xoay quanh ngợi khen cung kính, lại thấy có kẻ đem hoa quả thượng diệu dâng biếu cho mình. Khi tỉnh giấc vui mừng chẳng dám cắt bỏ, nhất nhất đúng như bản chữ Phạn mà dịch”(5).

Câu chuyện của người xưa nhắc nhở hậu bối phải cẩn thận khi tóm lược kinh. Như thợ mộc giỏi, phải đo đạt trước rồi mới sả gổ, cưa cắt, bào đụt sau. Nhưng phải cưa cắt như thế nào để sản phẩm nhìn vừa đẹp vừa khéo. Muốn vậy phải đo đạt, cưa cắt thật khít khao. Mỗi khi sả gổ, cưa cắt không đúng ni tất, thì phải bỏ. Chúng tôi chỉ là thợ vụng, nên đo đạt nhiều lần trước khi cắt. Đã cắt rồi thì không thể ráp lại được!

Chiết giải kinh cũng thế. Trước hết là trình bài chính văn, nếu chính văn quá dài, thì phải tóm lược. Tóm lược, mà cắt xén quá nhiều thì còn gì là kinh văn. Vậy, phải cắt xén hay giản lược vừa khéo. Nhưng chỉ cắt xén, giản lược những gì gọi là dư thừa, trùng lập, phần cốt tủy vẫn phải giữ nguyên. Đó chính là phương châm của chúng tôi. Sai lệch một đường tơ đất trời nghiêng lệch, tội lỗi không thể nào tưởng tượng nổi! Có lẽ ai cũng nhớ trong Truyền Đăng Lục có kể câu chuyện một pháp sư chỉ vì giảng nhằm câu "bất lạc nhân quả" với "bất muội nhân quả" mà bị đọa làm kiếp chồn 500 năm?

Thích nghĩa:

(1). Hệ Bát nhã trong Đại Tạng Kinh Việt Nam tổng cộng có 41 bộ kinh chia làm 777 quyển, trong đó hết 600 quyển thuộc ĐBN rồi, số còn lại chúng tôi ghi lại theo Tuệ Quang Wisdom Light Foundation, gồm:

1. Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0220, 600 quyển, (Đường Huyền Trang dịch)

2. Phóng Quang Bát Nhã Kinh, mang thẻ số 0221, 20 quyển, (Tây Tấn Vô La Xoa dịch)

3. Quang Tán Kinh, mang thẻ số 0222, 10 quyển, (Tây Tấn Trúc Pháp Hộ dịch)

4. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0223, 27 quyển, (Hậu Tần Cưu Ma La Thập dịch)

5. Đạo Hành Bát Nhã Kinh, mang thẻ số 0224,10 quyển, (Hậu Hán Chi Lâu Ca Sấm dịch)

6. Đại Minh Độ Kinh, mang thẻ số 0225, 6 quyển, (Ngô Chi Khiêm dịch)

7. Ma Ha Bát Nhã Sao Kinh, mang thẻ số 0226, 5 quyển, (Tiền Tần Đàm Ma Tỳ cộng Trúc Phật Niệm dịch)

8. Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0227, 10 quyển, (Hậu Tần Cưu Ma La Thập dịch)

9. Phật Thuyết Phật Mẫu Xuất Sinh Tam Pháp Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0228, 25 quyển, (Tống Thí Hộ dịch)

10.  Phật Thuyết Phật Mẫu Bảo Đức Tạng Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0229, 3 quyển, (Tống Pháp Hiền dịch)

11. Thánh Bát Thiên Tụng Bát Nhã Ba La Mật Đa Nhất Bách Bát Danh Chân Thật Viên Nghĩa Đà La Ni Kinh, mang thẻ số 0230, 1 quyển, (Tống Thí Hộ đẳng dịch)

12. Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0231, 7 quyển, (Trần Nguyệt Bà Thủ Na dịch)

13. Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0232, 2 quyển, (Lương Mạn Đà La Tiên dịch)

14. Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0233, 1 quyển, (Lương Tăng Ca Bà La dịch)

15. Phật Thuyết Nhu Thủ Bồ Tát Vô Thượng Thanh Tịnh Phân Vệ Kinh, mang thẻ số 0234, 2 quyển, (Tống Tường Công dịch)

16. Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0235, 1 quyển, (Hậu Tần Cưu Ma La Thập dịch)

17. Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0236a, 1 quyển, (Nguyên Ngụy Bồ Đề Lưu Chi dịch)

18. Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0236b, 1 quyển, (Nguyên Ngụy Bồ Đề Lưu Chi dịch)

19. Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0237, 1 quyển, (Trần Chân Đế dịch)

20. Kim Cương Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0238, 1 quyển, (Tùy Cấp Đa dịch)

21. Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0239, 1 quyển, (Đường Nghĩa Tịnh dịch)

22. Thật Tướng Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0240, 1 quyển, (Đường Bồ Đề Lưu Chí dịch)

23. Kim Cương Đảnh Du Già Lý Thú Bát Nhã Kinh, mang thẻ số 0241, 1 quyển, (Đường Kim Cương Trí dịch)

24. Phật Thuyết Biến Chiếu Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0242, 1 quyển, (Tống Thí Hộ dịch)

25. Đại Nhạc Kim Cương Bất Không Chân Thật Tam Ma Da Kinh, mang thẻ số 0243, 1 quyển, (Đường Bất Không dịch)

26.  Phật Thuyết Tối Thượng Căn Bổn Đại Nhạc Kim Cương Bất Không Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh, mang thẻ số 0244, 7 quyển, (Tống Pháp Hiền dịch)

27. Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0245,2 quyển, (Hậu Tần Cưu Ma La Thập dịch)

28. Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0246, 2 quyển, (Đường Bất Không dịch)

29. Phật Thuyết Liễu Nghĩa Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0247, 1 quyển, (Tống Thí Hộ dịch)

30. Phật Thuyết Ngũ Thập Tụng Thánh Bát Nhã Ba La Mật Kinh, mang thẻ số 0248, 1 quyển, (Tống Thí Hộ dịch)

31. Phật Thuyết Đế Thích Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mang thẻ số 0249, 1 quyển, (Tống Thí Hộ dịch)

32. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh, mang thẻ số 0250, 1 quyển, (Diêu Tần Cưu Ma La Thập dịch)

33. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mang thẻ số 0251, 1 quyển, (Đường Huyền Trang dịch)

34. Phổ Biến Trí Tạng Bát Kinh, mang thẻ số 0252, 1 quyển, (Đường Pháp Nguyệt Trọng dịch)

35. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mang thẻ số 0253, 1 quyển, (Đường Bát Nhã cộng Lợi Ngôn đẳng dịch)

36. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mang thẻ số 0254, 1 quyển, (Đường Trí Tuệ Luân dịch)

37. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mang thẻ số 0255, 1 quyển, (Đường Pháp Thành dịch)

38. Đường Phạm Phiên Đối Tự Âm Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mang thẻ số 0256, 1 quyển, (Hán văn: Tây kinh, trích từ bản sao chép trên vách tường đá của chùa Đại Hưng Thiện. Từ Ân Hòa thượng phụng chiếu thuật lời TỰA)

39. Phật Thuyết Thánh Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0257, 1 quyển, (Tống Thí Hộ dịch)

40. Phật Thuyết Thánh Phật Mẫu Tiểu Tự Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0258, 1 quyển, (Tống Thiên Tức Tai dịch)

41. Phật Thuyết Quán Tưởng Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa Bồ Tát Kinh, mang thẻ số 0259,1 quyển, (Tống Thiên Tức Tai dịch)

42. Phật Thuyết Khai Giác Tự Tánh Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0260, 4 quyển, (Tống Duy Tịnh đẳng dịch)

43. Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La Mật Đa Kinh, mang thẻ số 0261, 10 quyển, (Đường Bát Nhã dịch).

Lưu ý: Theo Tuệ Quang Wisdom Light Foundation, tính theo thứ tự số thẻ thì có 43 bộ kinh thuộc hệ Bát nhã. Nhưng không biết tại sao các nhà khảo cứu lại tính có 41 bộ mà thôi? Trong đây có nhiều bộ kinh có phẩm tựa và giáo nghĩa trùng hợp như kinh "Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật" hay "Tâm Kinh", do nhiều tác giả khác nhau dịch. Cứ theo sự hiểu biết của chúng tôi, nếu muốn lấy các bộ kinh làm tài liệu Phật học và xếp loại để tiện việc tra cứu, thì cứ mỗi bộ kinh do một tác giả dịch, có đánh số thẻ, đã lưu trử trong Đại tạng kinh thì nên xem là một bộ, như kinh "Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật" do Bồ đề Lưu chi dịch có hai bản, có số thẻ là 0236a và 0236b. Đúng ra phải xem là hai bộ, mặc dầu cả hai bản dịch có tựa đề và nội dung giống nhau và cùng một dịch giả? Không biết các nhà khảo cứu xếp loại như thế nào về trường hợp này, nên mới xảy ra thắc mắc như trên? Nhiều Đại Tạng kinh khác lại tính là 44 bộ. Chúng ta sẽ không bị lẫn lộn về con số này, nếu chỉ cần biết số thẻ và tên kinh để tra cứu là đủ. Chúng tôi cũng lưu ý độc giả cố gắng nhớ tên kinh và danh tánh dịch giả. Vì sao? Vì trong số 41 bộ liệt kê trên, có một số các kinh được xem là tương đương với các Hội của kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật mà quý vị cần phải tra cứu hay tham khảo nếu cần. Đọc tới quý vị sẽ rõ.

(2). Đạo Hành Bát nhã do Chi Lâu Ca Sấm dịch tương đương với Bát nhã Bát thiên tụng, hay Tiểu Phẩm Bát nhã do Cưu ma La thập hay Phật mẫu Bát nhã do Thi Hộ và kinh rút ra từ quyển 538 đến quyển 555 của Đại Bát N do ngài Huyền Trang dịch (không có đặt tên, để tránh lẫn lộn với các kinh ngắn tương đương trên, chúng tôi tạm gọi kinh nầy là Tiểu Bản Bát Nhã (TBBN), được Phật thuyết ở Hội thứ IV. Xin quý vị độc giả ghi nhớ cho, vì chúng ta có rất nhiều cơ hội để thảo luận về bộ kinh nầy). Nếu xét trên phương diện triết học và tôn giáo tất cả những quan điểm cốt yếu (giáo lý hạnh quả, kỹ thuật tu trì, quán tưởng…) của Bát nhã đều nằm trong đó. Nếu xét theo niên kỷ, kinh Đại Bát Nhã xuất hiện sau các tiểu phẩm, nên một số học giả Phật học cho rằng Đại Bát Nhã triển khai các giáo lý và triết học Tánh Không từ các tiểu phẩm kể trên.

(3). Đại Bát Nhã do ngài Huyền Trang dịch từ Phạn sang Hán, tổng cộng có tới 600 quyển, khoảng 191.750 bài tụng (sloka) chưa kể 19 quyển từ Hội thứ XI đến hết Hội thứ XVI. Nếu tính ra chữ thì tổng cộng hơn 6 triệu chữ. (bài tụng gọi là sloka gồm 4 hàng, mỗi hàng gồm 8 chữ. Vậy, 1 sloka có 32 chữ; 32 chữ nhân cho 191.750 sloka bằng 6.132.000 chữ).

(4). Sự trùng tụng cốt ý là gội sạch cảm quan và ý thức dễ dãi của những người đang hành trì Bát nhã để tâm chứng bằng trực giác mà không qua trung gian của ý thức hay lý luận nhị nguyên. Thiền sư D.T. Suzuki giải thích sự trùng tụng của Bát nhã như sau: “Một trong những lý do tại sao các kinh này thường lặp lại quá nhiều, trùng tuyên quá nhiều, làm mệt óc các độc giả tân tiến như chúng ta, đấy là do sự kiện rằng tất cả các kinh điển Đại thừa, nhất là Bát nhã Ba la mật, không cốt ý gợi lên những sự dễ dãi của suy luận, tức sự lãnh hội bằng trí óc; nó gợi lên một lối lãnh hội khác, mà chúng ta có thể gọi là bằng trực giác. Khi Bát nhã Ba la mật được đọc bằng tiếng Sanskrit, tiếng Trung Hoa hay tiếng Tây Tạng, không cố gắng lượm nhặt ý nghĩa luận lý của nó, chỉ một mực thành tâm và quyết định đi ngang qua những khối trùng lặp, con mắt Bát nhã - Tunhan - dần dần mở rộng và càng lúc càng nhìn thấu suốt hơn. Cuối cùng, rồi sẽ thấy, bất kể những mâu thuẫn, những tối tăm, những trừu tượng, huyễn hoặc, sẽ thấy sự thể trong suốt lạ lùng vén mở “mặt kia cùng với mặt này”. Đây là sự phát khởi của Bát nhã và sự học tập Bát nhã Ba la mật sâu xa. Nơi đó là chỗ bí mật của sự tụng đọc kinh Bát nhã”.

Tuy biết như vậy, nhưng cũng tùy chỗ, tùy thời thôi! Phần trùng tụng nhiều nhất là các pháp mầu Phật đạo. Hầu như bất cứ phẩm nào, Hội nào cũng lặp đi lặp lại các pháp này. Chúng tôi chỉ giản lược thay vì liệt kê toàn thể "các pháp mầu Phật đạo hay còn gọi là 81 khoa danh tướng Bát nhã" hàng trăm, hàng ngàn lần trong toàn đại phẩm.

(5). Trích lời trần thuật của ngài Huyền Trang nơi đầu quyển kinh Đại Bát Nhã.

 

---o0o---

 

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU:

 

Đại Bát Nhã Tổng Luận mà chúng tôi sắp trình bày sau đây là kết quả tóm tắt và lược giải trên căn bản của hai kinh:

1- Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật (viết tắt MHBNBLM) do ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn sang Hán và HT. Thích trí Tịnh dịch từ Hán sang Việt(1), và

2- Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật (viết tắt ĐBN) do ngài Huyền Trang dịch từ Phạn sang Hán và Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm dịch từ Hán sang Việt(2). Chúng tôi lấy ba bản: Hai bản Việt dịch và một bản chữ Hán, để tóm lược:

1). Một là bản gốc đăng trong tuvienquangduc.com (văn từ rất cổ kính, đó là bản gốc do cố HT. Thích Trí Nghiêm dịch, xuất bản năm 1997),

2). Hai là bản đã nhuận văn xong, đăng trong thuvienhoasen.org và quangduc.com (do một nhóm tỳ kheo và cư sĩ thực hiện, xuất bản năm 2003) và

3). Ba là bản chữ Hán, đăng trong hoavouu.com.

Ngoài ba bản kinh chính trên, chúng tôi còn tham cứu thêm một số kinh thuộc Hệ Bát nhã tương đương với các Hội của kinh Đại Bát Nhã như kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa, kinh Phật Mẫu Bát Nhã, Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật, kinh Văn Thù Sở Thuyết, Đạo Hành kinh, kinh Kim Cương Bát nhã Ba La Mật, v.v... đã đăng trong Đại tạng kinh Việt Nam và các kinh khác trong số 41 bộ kinh thuộc Hệ Bát nhã nói trên. Vì vấn đề chuyển ngữ hay tư tưởng có nhiều điễm rắc rối, khó hiểu nên phải tham cứu nhiều. Đọc tới, quý vị sẽ rõ!

Thích nghĩa:

(1). Viện Phật Học Phổ Hiền xuất bản P.L. 2530 DL. 1986 (trọn bộ 3 tập), Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ chí Minh ấn hành P.L. 2539 DL. 1995.

(2). Kinh Đại Bát Nhã 24 tập, 600 quyển. Hán dịch: Huyền Trang, Việt dịch: Cố HT. Thích trí Nghiêm. Khởi dịch từ năm 1973 đến năm 1980 mới hoàn tất. Ấn hành năm 2003, Toàn tập dạng Words. PL. 2547, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, đăng tải trong tuvienquangduc.com.

 

 

Kinh Dai Bat Nha- HT Thich Tri Nghiem_2_a

BỐ CỤC TOÀN BỘ TỔNG LUẬN:

 

Xin xác định rõ chúng tôi không thay đổi cấu trúc hay bố cục của Đại Bát Nhã (phần nói về bố cục và nguồn gốc ĐBN được ghi làm một phần riêng gọi là Phần thứ II, Tổng luận) mà ở đây chúng tôi trình bài bố cục thiên Tổng luận này theo quan điểm của chúng tôi, cốt làm nổi bậc các giáo lý chính của ĐBN để đọc giả dễ nắm toàn thể quan điểm của Đại Bát Nhã. Vì vậy, toàn bộ Tổng luận này được chia làm ba phần chính:

 

I. Phần thứ I nói về các pháp mầu Phật đạo:

Liệt kê và thích nghĩa tất cả các pháp Phật còn gọi là các pháp mầu Phật đạo, tư lương Bồ đề hay Bồ tát đạo mà Đại Bát Nhã đã thuyết. Kinh ĐBN thuyết rãi rát trong toàn bộ ĐBN, không riêng một phẩm nào hay phần nào. Tất cả các pháp tu này được ĐBN thuyết hàng trăm, hàng ngàn lần trong suốt Đại phẩm. Phải nói là quá trùng tuyên. Vì vậy, chúng tôi phải tách ra và viết thành một phần riêng, một trong ba phần của Tổng luận. Khi đọc tới quý vị sẽ thấy ý này. Điểm cần lưu ý là các pháp mầu Phật đạo được trình bài trong toàn bộ ĐBN được chúng tôi cắt xén, giản lược nhiều nhất (như Kinh MHBNBLM mà ngài La Thập đã làm) để phần chính văn bớt nặng nề. Phải nói rằng cách sắp xếp các pháp mầu Phật đạo thành một phần riêng, nói lên được tầm quan trọng của nó. Không có các pháp mầu Phật đạo thì không có đạo Phật, không có Phật, Bồ tát, không có Đại thừa. Vì có hiểu có học, có thọ trì mới mang lại ích lợi cho mình người. Còn chỉ đọc cho biết, thì chẳng khác nào "cỡi ngựa xem hoa" thôi.

 

II. Phần thứ II nói về giáo lý Bát Nhã:

Trình bài về bố cục, nguồn gốc hay xuất xứ của kinh ĐBN; tóm lược từng Hội, từng Phẩm hay từng Phần của chính văn, đồng thời thích nghĩa và lược giải các giáo lý Đại Bát Nhã trọn bộ 600 quyển, thuộc 16 Hội. Đây là phần lược giải chính văn ĐBN.

 

III. Phần thứ III nói về Tánh Không Bát Nhã:

Rút ra các nguyên lý chỉ đạo của Bát nhã mà người ta thường gọi là “Tánh Không”. Đây là phần sáng tác với mục đích nêu lên cốt tủy của ĐBN. Phần này là phần đào xới các biểu thị hay pháp nghĩa hiển hiện của ĐBN. Nếu hiểu được chúng tức là thông đạt hay thành tựu Bát nhã. Đây là phần kết thúc, thành công hay không quyết định ở phần này.




***

Tác phẩm này dài đến 4000 trang.
Kính mời quý độc giả đón đọc vào đầu tháng 5-2020





 

***

Chân thành cảm ơn và tán thán công đức Lão Cư Sĩ Thiện Bửu
đã dày công nghiên cứu, viết và gởi tặng Trang Nhà Quảng Đức phiên bản điện tử bộ sách giá trị này.

Nam Mô A Di Đà Phật,
TM. Ban Biên Tập
Chủ biên,
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
(Melbourne, mùa chống dịch Covid-19, 09/04/2020)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn