Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phẩm “Nguyện Dụ”

12/07/202009:33(Xem: 110)
Phẩm “Nguyện Dụ”

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

 buddha_112

 

PHẨM “NGUYỆN DỤ”

Phần sau quyển 341 đến phần đầu quyển 342, Hội thứ I, ĐBN.
(Phẩm nầy tương đương với phẩm “Tùy Hỷ” quyển thứ 21, MHBNBLM)

 

Tóm lược:

 

1. Tùy hỉ công đức.

 

Khi ấy, trời Đế Thích nghĩ thế này: Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, tu hành tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật, còn vượt lên trên tất cả hữu tình, huống chi đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Nếu đại Bồ tát an trụ pháp không nội, không ngoại cho đến pháp không không tánh tự tánh, còn vượt lên trên tất cả hữu tình, huống chi đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Nếu đại Bồ tát an trụ chơn như, an trụ pháp giới, pháp tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế… còn vượt lên trên tất cả hữu tình, huống chi đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Nếu đại Bồ tát tu hành bốn tịnh lự, tu hành bốn vô lượng, bốn định vô sắc, tu hành tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cho đến tu hành bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, còn vượt lên trên tất cả hữu tình, huống chi đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Nếu đại Bồ tát tu hành Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, còn vượt lên trên tất cả hữu tình, huống chi đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Nếu các hữu tình nghe nói danh tự Nhất thiết trí trí, tâm sanh tin hiểu, còn đạt được lợi ích tốt đẹp trong cõi người và được thọ mạng tối thắng trong thế gian, huống chi phát tâm cầu quả vị Giác ngộ tối cao, hoặc thường nghe Kinh điển Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu như vậy. Nếu các hữu tình thường phát tâm cầu quả vị Giác ngộ tối cao, lắng nghe Kinh điển Bát Nhã Ba-la-mật sâu xa, mà các hữu tình khác đều cũng ưa thích, thì công đức đạt được trong thế gian trời, người, A tu la… chẳng thể sánh kịp.

Bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của trời Đế Thích, liền bảo:

- Này Kiều thi ca! Đúng vậy! Đúng như ông đã nghĩ.

Khi ấy, trời Đế Thích lòng rất vui mừng, liền lấy hoa hương vi diệu cõi trời rải cúng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các chúng đại Bồ tát. Rải hoa xong rồi, phát lời nguyện: Nếu thiện nam, thiện nữ trụ Bồ tát thừa, cầu hướng đến quả vị Giác ngộ tối cao, thì con sẽ đem thiện căn công đức của con có được, khiến cho sở cầu Phật pháp vô thượng của vị ấy, mau được viên mãn, khiến cho sở cầu Nhất thiết trí trí của vị ấy mau được viên mãn, khiến cho tất cả pháp mà vị ấy muốn nghe mau được viên mãn.

Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng đại Bồ tát đối với quả vị Giác ngộ tối cao tâm đã sanh ưa thích, thì con nguyện cho tâm ấy càng thêm tăng tiến, mau chứng quả vị Giác ngộ tối cao. Nguyện cho chúng đại Bồ tát ấy, thấy đủ các nỗi khổ trong sanh tử rồi, vì muốn lợi lạc cho trời, người, A tu la v.v… trong thế gian, phát khởi các loại đại nguyện kiên cố: Ta đã vượt qua biển lớn sanh tử, cũng sẽ tinh cần độ những chúng sanh chưa vượt. Ta đã tự giải thoát buộc ràng sanh tử, cũng sẽ tinh cần giải thoát cho chúng sanh chưa giải thoát. Đối với các sợ hãi sanh tử, ta đã tự an ổn, cũng sẽ tinh cần làm cho chúng sanh chưa an ổn, được an ổn. Ta đã tự chứng Niết bàn rốt ráo, cũng sẽ tinh cần làm cho chúng sanh chưa chứng đều được chứng.

 

Bạch đức Thế Tôn! Đối với Bồ Tát mới phát tâm, thiện nam, thiện nữ có tâm tùy hỷ công đức thì được bao nhiêu phước đức? Đối với Bồ Tát phát tâm từ lâu, thì sự tùy hỷ được bao nhiêu phước đức? Đối với bậc Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, thì sự tùy hỷ này được bao nhiêu phước đức?

Phật bảo: Tâm tùy hỷ như thế thì không có gì có thể sánh bằng, phước đức tùy hỉ cũng như vậy. Nếu phước đức ấy có hình tướng thì tam thiên đại thiên cũng không thể dung chứa hết. Vì sao? Vì phước đức tùy hỷ của các thiện nam thiện nữ ấy không ngằn mé, không giới biên.

“Nếu thiện nam thiện nữ nào, đối với thiện căn công đức của các Bồ tát, phát sanh tùy hỷ hồi hướng Vô Thượng Bồ đề thì thiện nam thiện nữ ấy mau chứng quả vị Giác ngộ, mau viên mãn Bồ tát đạo, mau cúng dường tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, thường gặp thiện hữu, thường nghe Kinh điển Bát nhã thậm thâm; thiện nam thiện nữ ấy thành tựu thiện căn công đức như thế, tùy theo chỗ thọ sanh, thường được tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen, chẳng thấy sắc xấu, chẳng nghe tiếng ác, chẳng ngửi mùi hôi, chẳng nếm vị đắng, chẳng xúc chạm điều khó chịu, thường chẳng suy nghĩ pháp chẳng như lý, chẳng bao giờ xa lìa chư Phật Thế Tôn, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, gần gũi chư Phật, trồng các thiện căn, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật. Vì sao? Vì thiện nam thiện nữ ấy đối với vô lượng, vô số, vô biên thiện căn công đức của Bồ tát sơ phát tâm, Bồ tát phát tâm từ lâu, Bồ tát Bất thối, Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, phát sanh tùy hỷ sâu xa, hồi hướng Vô Thượng Giác ngộ. Do nhân duyên này, thiện nam thiện nữ ấy, thiện căn tăng trưởng, mau gần Nhất thiết trí; chóng chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Khi được chứng đắc rồi thì độ vô lượng, vô số, vô biên các loại hữu tình được nhập cảnh giới Niết bàn tuyệt đối. Vì vậy, các thiện nam thiện nữ đối với thiện căn công đức của Bồ tát sơ phát tâm, Bồ tát phát tâm đã lâu, Bồ tát Bất thối, Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, nên sanh tùy hỷ hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao. Khi hồi hướng, chẳng nên chấp trước tức tâm, lìa tâm; cũng chẳng nên chấp trước tức tâm tu hành, lìa tâm tu hành. Nếu thường không có chấp trước như thế, tùy hỷ hồi hướng thì mau chứng quả vị Giác ngộ tối cao, độ các trời, người, A tu la v.v... khiến thoát sanh tử, được vui Niết bàn. (Q.341, ĐBN)

 

2. Tâm như huyễn làm sao chứng đắc Vô Thượng Giác ngộ?

 

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

“Rồi Tu Bồ Đề hỏi: Bạch Thế Tôn! Tâm như huyễn làm sao có thể chứng đắc Vô thượng Giác ngộ?

“Phật nói: Tu Bồ Đề! Theo ý ông, ông thấy có tâm như huyễn chăng?

“Tu Bồ Đề thưa: Bạch, không thấy có.

“Phật nói: Ông thấy có huyễn chăng?

“Tu Bồ Đề: Không thấy có.

“Phật: Khi ông không thấy có huyễn, không thấy có tâm như huyễn, theo ý ông, có pháp nào ngoài huyễn tâm và huyễn tướng mà chứng đắc Vô Thượng Giác ngộ chăng?

“Tu Bồ Đề: Thưa không. Không thấy có pháp nào như vậy. Nếu có pháp nào ngoài tâm như huyễn, pháp ấy cũng không thể nói là hữu hay là vô. Tất cả là tất cánh viễn ly (atantavivikta), và trong tất cánh viễn ly(1) đó không có pháp nào có thể nói là hữu hay là vô; không có pháp nào gọi là phải tu, không có pháp nào gọi là phải chứng. Vì lý do đó, Bát Nhã Ba-la-mật là tất cánh viễn ly. Vô thượng giác ngộ cũng vậy. Giữa hai tất cánh viễn ly không thể có liên hệ nào; chúng ta không thể nói cái này như là phương tiện để chứng đắc cái kia; cũng không phải cái kia như là cái sở đắc. Bồ tát mà chứng đắc Vô Thượng Giác ngộ là do bởi Bát Nhã Ba-la-mật. Nhưng Bồ tát cũng là pháp (dharma) tất cánh viễn ly, và chúng ta không thể dựng lên một khẳng định nào cho sự chứng đắc đó, ngay cả giác ngộ.

“Phật: Hay thay, Tu Bồ Đề. Đúng như lời ông nói. Tất cánh viễn ly là hết thảy các pháp (dharma) - Bồ tát, Bát nhã và Vô Thượng Giác ngộ. Nhưng Bồ tát ở trong pháp tất cánh viễn ly đó mà như thật biết rõ Bát Nhã Ba-la-mật và đạt tới tri kiến rằng Bát Nhã Ba-la-mật là tất cánh viễn ly, cho nên Bát Nhã Ba-la-mật tức phi Bát Nhã Ba-la-mật. Quả thực Bồ tát do Bát Nhã Ba-la-mật mà chứng đắc Vô thượng giác ngộ nhưng ở trong đó không pháp nào là khả thủ, là khả đắc; do không thủ, không đắc, nên Bồ tát tuy chứng đắc Vô Thượng Giác ngộ mà không phải là do viễn ly chứng đắc viễn ly”.(2)

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu pháp rốt ráo lìa, pháp này chẳng nên tu, cũng chẳng nên hoại, cũng chẳng nên dẫn. Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu rốt ráo lìa, nên chẳng nên năng dẫn. Bạch Thế Tôn! Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu đã rốt ráo lìa, làm sao nói được đại Bồ tát nương Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề? Bạch Thế Tôn! Chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề cũng rốt ráo lìa, tại sao pháp lìa năng chứng pháp lìa? Vậy nên Bát Nhã Ba-la-mật lẽ chẳng nên nói chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Phật nói: Thiện Hiện! Hay thay! Như vậy! Như ngươi vừa nói. Thiện Hiện! Bát Nhã Ba-la-mậtrốt ráo lìa. Tĩnh lự, tinh tiến, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật-đa cũng rốt ráo lìa.Nội ngọai không cho tới không tánh tự tánh rốt ráo lìa. Chơn như, pháp giới, pháp tánh… tự tánh rốt ráo lìa. Nói rộng ra cho đến Nhất thiết trí trí, quả Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Vô thượng Bồ đề cũng rốt ráo lìa. Vì tất cả pháp cũng rốt ráo lìa nên Bồ Tát có thể chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Nếu tất cả pháp rốt ráo chẳng lìa, thì chẳng phải là tất cả pháp. Vì tất cả pháp lìa, nên gọi tên tất cả pháp.

Này Thiện Hiện! Vì vậy, đại Bồ tát chẳng phải chẳng nương vào Bát Nhã Ba-la-mật mà có thể chứng quả vị Giác ngộ tối cao. Tuy chẳng phải pháp lìa chứng pháp lìa nhưng nếu chẳng nương vào Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu thì chẳng thể chứng. Cho nên, chúng đại Bồ tát muốn chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, phải siêng năng tu học Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu.

 

3. Phân biệt và vô phân biệt

(Phần đầu quyển 342, phẩm "Nguyện Dụ", Hội thứ I, ĐBN)

 

Vì tất cả pháp đều lìa, đều không thể nắm bắt được, Bát nhã cũng vậy, vô sở hữu, bất khả đắc, không năng sở: Không người chứng, không pháp để chứng, không xứ chứng, không thời chứng… tất cả đều không thể nắm bắt được.

Các Bồ tát quán biết tất cả pháp chẳng thể nắm bắt được, thì có pháp nghĩa nào có thể làm sở chứng? Có Bát Nhã Ba-la-mật nào có thể làm năng chứng? Có những pháp nào để có thể thi thiết pháp chứng, người chứng, xứ chứng, thời chứng? Đã vậy thì tại sao có thể chấp do đây mà chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao? Quả vị bậc Thanh văn, Độc giác còn chẳng thể chứng, huống là chứng được Giác ngộ tối cao của chư Phật? Đó gọi là hạnh vô sở đắc của Bồ tát. Nếu Bồ tát có khả năng tu hành hạnh vô sở đắc như thế, thì đối với tất cả pháp không bị ám chướng.

Nếu Bồ tát nghe lời nói ấy, tâm chẳng chìm đắm, chẳng kinh, chẳng sợ, cũng chẳng lo buồn hối tiếc là hành Bát Nhã Ba-la-mật. Các Bồ tát ấy, khi tu hành như thế, chẳng thấy các tướng, chẳng thấy mình tu hành, chẳng thấy chẳng tu hành, chẳng thấy Bát Nhã Ba-la-mật là sở hành, chẳng thấy quả vị Giác ngộ tối cao là sở chứng, lại cũng chẳng thấy xứ chứng, thời chứng v.v…

Nên khi hành Bát Nhã Ba-la-mật, các Bồ Tát chẳng nghĩ rằng: Thanh Văn, Bích Chi Phật cách xa tôi, Nhất thiết chủng trí gần tôi. Như hư không kia chẳng nghĩ rằng có pháp cách xa nó hay gần nó, vì hư không vô phân biệt. Cũng vậy, các Bồ Tát hành Bát Nhã Ba-la-mật chẳng nghĩ rằng: Bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật cách tôi xa, Nhất thiết chủng trí gần tôi. Vì Bát Nhã Ba-la-mật là vô phân biệt.

Như người huyễn chẳng nghĩ huyễn sư cách tôi gần, khán giả cách tôi xa. Vì người huyễn vô phân biệt. Cũng vậy, đại Bồ Tát hành Bát Nhã Ba-la-mật chẳng nghĩ là gần là xa, vì vô phân biệt vậy.

Như bóng trong gương chẳng nghĩ hình vật sở nhơn gần mình, thứ khác thì xa. Vì bóng không thể phân biệt. Cũng vậy, đại Bồ Tát hành Bát Nhã Ba-la-mật chẳng nghĩ là gần, là xa, vì vô phân biệt vậy.

Như đức Phật không thương cũng không ghét. Đại Bồ Tát hành Bát Nhã Ba-la-mật cũng không thương, không ghét. Vì Bát Nhã Ba-la-mật vô phân biêt. Như đức Phật, tất cả phân biệt, tưởng niệm đã dứt mất. Đại Bồ Tát hành Bát Nhã Ba-la-mật tất cả phân biệt, tưởng niệm cũng đều dứt sạch. Vì rốt ráo không vậy.

Như chư Như Lai muốn làm việc gì, hóa ra “hóa thân”(hay hóa Phật) để làm việc đó, nhưng hóa thân đó chẳng nghĩ thế này: Ta có thể tạo nên việc làm như thế. Vì sao? Vì các hóa thân ấy không phân biệt. Bát Nhã Ba-la-mật sâu xa cũng như thế, vì có việc làm nên tinh cần tu tập, đã tu tập rồi, tuy có thể hoàn thành công việc, nhưng đối với việc làm ấy, hoàn toàn không phân biệt. Vì sao? Vì Bát nhã không phân biệt.

Thí như người thợ mộc hay học trò của ông ta, có thể tạo ra các cơ quan hoặc nam hay nữ, hoặc voi ngựa v.v… Các cơ quan này tuy có thể hoàn thành công việc nhưng đối với việc làm ấy hoàn toàn không phân biệt. Vì sao? Vì các cơ quan không phân biệt. Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu cũng giống như thế, vì có việc phải làm nên làm. Tuy có thể làm xong các việc, nhưng đối với việc đã làm hoàn toàn không phân biệt. Vì sao? Vì Bát nhã đối với tất cả pháp, không phân biệt.

 

Bấy giờ, cụ thọ Xá lợi Tử hỏi Tu Bồ đề:

- Thưa Tôn giả Thiện Hiện! Có phải chỉ có Bát Nhã Ba-la-mật không phân biệt, hay tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí cũng không phân biệt?

Thiện Hiện đáp:

- Thưa Tôn giả! Chẳng phải chỉ có Bát Nhã Ba-la-mật không phân biệt mà tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí cũng không phân biệt.

Cụ thọ Xá lợi Tử lại hỏi Thiện Hiện:

- Thưa Tôn giả! Có phải sắc cũng không phân biệt, thọ, tưởng, hành, thức cũng không phân biệt chăng? Có phải mười hai xứ, mười tám giới cũng không phân biệt? Có phải tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, mười tám pháp bất cộng… cho đến Nhất thiết trí cũng không phân biệt? Có phải Bồ tát hạnh cũng không phân biệt, quả vị Giác ngộ tối cao cũng không phân biệt? Kể cả cảnh giới hữu vi, cảnh giới vô vi cũng không phân biệt chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Thưa Tôn giả Xá lợi Tử! Tất cả pháp kể cả cảnh giới hữu vi, cảnh giới vô vi cũng không phân biệt.

Xá lợi Tử lại hỏi:

- Này Tôn giả Thiện Hiện! Nếu tất cả pháp đều không phân biệt, thì tại sao có năm cõi sai khác là địa ngục, bàng sanh, quỷ giới, người, trời? Tại sao lại có các bậc tu hành khác nhau như Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, Bồ tát, Phật?

Thiện Hiện đáp:

- Thưa Tôn giả Xá lợi Tử! Bởi vì, hữu tình điên đảo, phiền não tạo tác đủ các loại nghiệp thân, ngữ, ý; do đó chiêu cảm nghiệp quả dị thục do dục làm căn bản, nương vào đó mà tạo ra năm thứ sai khác là địa ngục, bàng sanh, quỷ giới, người, trời. Còn tại sao nói có các bậc tu hành lại có quả vị sai khác như Dự lưu, Nhất lai v.v… thì thưa Tôn giả Xá lợi Tử! Vì không phân biệt nên có tu Dự lưu và quả Dự lưu, vì không phân biệt nên có tu Nhất lai và quả Nhất lai v.v…, vì không phân biệt nên có tu Bồ tát và Bồ tát đạo, vì không phân biệt nên có tu Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và quả vị Giác ngộ tối cao.

Thưa Tôn giả! Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác quá khứ do không phân biệt, vì dứt phân biệt nên mới khá an lập. Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vị lai cũng không phân biệt, vì dứt phân biệt nên mới khá an lập. Mười phương chư Phật thế giới, tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hiện tại đang thuyết cũng không phân biệt, vì dứt phân biệt nên mới khá an lập.

Thưa Tôn giả! Do nhân duyên đây mới biết tất cả pháp đều không phân biệt. Đem không phân biệt chơn như, pháp giới, pháp tánh, thật tế làm định lượng(3)vậy. Bồ Tát nên hành tướng không phân biệt Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu như thế. Nếu hành tướng không phân biệt như thế, bèn năng chứng được tướng không phân biệt sở cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. (Q. 342, ĐBN)

 

Thích nghĩa:

(1). Tất cánh viễn ly: Tất cánh có nghĩa là rốt ráo, viễn ly là xa lìa. Rốt ráo CÓ KHÔNG đều xa lìa nghĩa là tuyệt đối xa lìa nhị biên đối đãi. Có xa lìa thì không bị hệ lụy bởi nó, không bị nó chi phối, ràng buộc bởi nó.

(2). Đoạn Kinh nầy dịch quá hay nên chúng tôi trích dẫn lại từ Thiền luận quyển hạ của Thiền sư D.T. Suzuki(trong mục Triết học và Tôn giáo trong Bát Nhã Ba-la-mật-đa, tiểu mục II, nói về Vô sở đắc và Vô thủ trước, do Tuệ Sĩ dịch). Nội dung của nó không khác với phẩm “Nguyện Dụ”, quyển 342,Hội thứ I; phẩm “Vô phân Biệt”, quyển 456,Hội thứ II hoặc phẩm “Gốc Chồi”, quyển 564, Hội thứ V,ĐBN do Ngài Huyền Trang dịch hay phẩm “Tùy Hỉ” thuộc quyển thứ 21, MHBNBLM do Ngài La Thập dịch.

(3). Định lượng: Số lượng đã định, không thể thay đổi như cân lường (trọng lượng) người Anh dùng pound, người Pháp dùng kilogram. Ở đây có thể coi là “tiêu chuẩn”.

 

Lược giải:

 

1. Tùy h công đức:

(Xem li phẩm “Tùy H Hồi Hướng” quyển 169, Hội thứ I, ĐBN trở đi)

 

Có những người hoặc mới phát tâm, những người phát tâm đã lâu, hoặc Bồ tát Bất thối chuyển hoặc các Bồ tát Nhất sanh bổ xứ làm các việc công đức độ sanh, chúng sanh nhờ đó mà được lợi vui. Rồi các vị ấy đem công đức mà mình gặt hái được, ban cho tất cả chúng sanh rồi hồi hướng Vô Thượng Bồ đề. Công đức đó không có ngần mé, không có giới biên. Còn những người khác không có điều kiện làm được như vậy nhưng có lòng tùy h, nghĩa là vui theo cái vui của những vị đã làm các công đức đó, thì công đức của người tùy h cũng ngang đồng với công đức của các vị nói trên. Nhưng Kinh nhắc nhở rằng "khi hồi hướng, chẳng nên chấp trước tức tâm, lìa tâm; cũng chẳng nên chấp trước tức tâm tu hành, lìa tâm tu hành. Nếu thường không có chấp trước như thế, tùy hỷ hồi hướng thì mau chứng quả vị Giác ngộ tối cao". Tất cả Như lai, trời, người, A tu la… đồng tán thán và cùng hộ niệm.

 

2. Tâm như huyễn làm sao chứng đắc giác ngộ?

 

Khi nói huyễn hay như huyễn tức nói về cái không, cái rỗng không, chẳng có gì cả giống như ảnh trong gương, như trăng đáy nước, như cảnh mộng, như thành tầm hương... Nếu vạn hữu là thật có dầu chỉ bằng mảy lông, sợi tóc thì không phải là huyễn, là như huyễn. Huyễn chỉ là huyễn, khi nó được đồng hóa với không, tánh không. Huyễn tức là không, không tức là huyễn, không hai không khác. Nói huyễn đây là thấy nó không thật có, nói như huyễn là so sánh nó như trò ảo thuật, như mộng đêm qua…

Quyển 49, phẩm "Áo Giáp Đại Thừa", Hội thứ I, ĐBN, Phật bảo: "Thiện Hiện! Như nhà ảo thuật hoặc đệ tử của y, ở trước đại chúng, nơi ngã tư đường, biến hóa thành các loại hữu tình nghèo khổ, cô độc, tật nguyền, bệnh hoạn; tùy theo sự nhu cầu của họ, đều biến hóa ra mà cho. Thiện Hiện! Theo ý ông việc biến hóa như vậy là có thật chăng?

Thiện Hiện đáp: Bạch Thế Tôn! Không!

Phật bảo: Thiện Hiện! Đại Bồ tát an trú bố thí Ba-la-mật, hoặc biến thế giới thành như ngọc Phệ lưu ly, hoặc tự thân hóa làm Chuyển Luân vương v.v... tùy theo nhu cầu của loài hữu tình mà cho và vì họ mà tuyên nói pháp tương ưng sáu pháp Ba-la-mật cũng lại như vậy, tuy có làm nhưng không thật có. Vì sao? Thiện Hiện! Vì các pháp, tánh không, đều như huyễn hóa".

 

Quyển 522, phẩm “Thấy Bất Động”, Hội thứ III, ĐBN. Phật bảo Thị giả của Ngài:                                               

"A Nan phải biết: Pháp chẳng hành pháp, pháp chẳng thấy pháp, pháp chẳng biết pháp, pháp chẳng chứng pháp. A Nan phải biết: Tất cả pháp tánh không kẻ năng hành, không kẻ năng thấy, không kẻ năng biết, không kẻ năng chứng, không động không tác. Vì sao? Vì tất cả pháp đều không tác dụng, năng lấy sở lấy, tánh xa lìa vậy. Vì tất cả pháp chẳng thể nghĩ bàn, năng sở nghĩ bàn tánh xa lìa vậy. Vì tất cả pháp như việc huyễn, các duyên hòa hợp tương tự có vậy. Vì tất cả pháp không kẻ tác thọ, vọng hiện giống như có, không bền chắc vậy.

A Nan phải biết: Nếu đại Bồ tát năng hành như thế, năng thấy như thế, năng biết như thế, năng chứng như thế là hành Bát Nhã Ba-la-mật, cũng chẳng chấp trước tướng các pháp này. A Nan phải biết: Nếu đại Bồ tát khi học như thế là học Bát Nhã Ba-la-mật".

Pháp chẳng thấy pháp, pháp chẳng biết pháp, pháp chẳng hành pháp, pháp chẳng chứng pháp. Chỉ có con người mới thấy pháp, rồi cho như thế nọ thế kia. Nhưng không biết rằng các pháp là duyên hợp mà có, duyên tan thì diệt, không có gì vững bền. Nói như vậy có v công thức, khuôn xáo lắm phải không? Tánh không hay như huyễn, không có nghĩa là phủ nhận thế giới hiện hữu này mà chỉ phủ nhận cái nhìn ngây ngô hời hợt trên muôn sự muôn vật mà gây tổn hại thân tâm.

Các pháp bản tính tự nhiên là trơ lì ra đó, nên gọi là trì độn. Bởi vì nó như vậy là như vậy. Đừng có thêm bớt bất cứ một thứ tình cảm nào vào cái thấy trên muôn vật, thì muôn vật sẽ tịch lặng thôi.

Thiền sư D.T. Suzuki Trong Thiền Luận III, nói về "Bát nhã và như Huyễn", luận rằng:

Dân Ấn lừng danh về tài huyễn thuật, đương nhiên các triết gia đạo Phật muốn vẽ ra bản chất mong manh của đời sống cũng dùng các lối huyễn thuật. Nhưng đừng hiểu lối nói của họ qua nghĩa đen. Chúng ta phải cố đạt tới ý nghĩa trung thực của nó. Như đã nhắc nhở nhiều lần, sức mạnh luận chứng mà Kinh Bát nhã chọn nhằm đối trị mê lầm căn để trong cái nhìn của chúng ta thường ném vào thế giới thông tục cái nhìn duy thực ngây ngô. Khuôn mặt thực của thứ duy thực đó là coi thế giới như một thực tại thường trụ vĩnh viễn và nằm trơ ra đó ngược với những gì được nhận như là thế giới nội tại của tư tưởng, tình cảm và cảm giác, một thế giới được điều động bởi ngã linh hồn cô lập với những cái khác và tranh sống với chúng. Một trong những khí giới tuyệt hảo để hủy diệt sức mạnh của óc duy thực ngây thơ là tuyên bố rằng tất cả như Huyễn, và rằng không có trật tự vĩnh viễn cố định trong thế gian, rằng khái niệm phân đôi về hiện hữu nội tại và ngoại tại, hữu thể và vô thể v.v... là ảo tưởng, và rằng muốn đạt tới căn cơ chân thực của hiện hữu thì phải thức tỉnh Trí Bát nhã nắm được cái bất khả đắc. Bởi vì chỉ bằng vào Trí Bát nhã mới có thể điều chỉnh tất cả mọi thứ chấp thủ, dù tri thức hay tình cảm; và cũng nhờ đó mới có thể nhận chân như tính của hiện hữu và hành động theo đó. KinhBát Nhã Ba-la-mật luôn luôn nhắm tới công dụng này cho nên triết lý của nó bất chấp tưởng tượng bốc cao, bất chấp bí nhiệm như sương mù.

Đạo Phật mà có ý nhận một nền triết lý nào đó, chỉ vì để bứng gốc rễ của phiền não (klesa) đã từng chôn chặt hoạt dụng thong dong vô ngại của Trí Bát nhã. Phiền não bao giờ cũng nghiêng lệch, và tạo ra mọi hình thái chấp trước, rồi do phiền não và chấp trước mới tạo ra các hành vi tội lỗi qua ba ngã đường thân, miệng và ý, rồi chúng lại dẫn tới những tội diễn ra bất tận y như thế. Cho nên, chúng ta biết rằng những khoái lạc và đau khổ đang phải hứng chịu đây, chẳng có bản tính thường hằng nào cả; các đối tượng của khoái lạc và đau khổ cũng vậy, chúng giả tạm và biến thiên như huyễn. Hoàn toàn không có thực tại bất biến. Chúng chỉ là những giả tưởng, và phải thấy chúng là giả tướng chứ không có giá trị nào nữa. Đối với các giả tướng, chúng đang ở đó, và sự kiện đó đừng bao giờ quên lãng. Nhưng bám vào chúng lấy làm những cùng đích, người trí biết rõ lắm, vì con mắt Bát nhã của họ đã mở rồi, rọi thẳng vào hang sâu của thực tại. Theo Ngài Long Thọ (Nagarjuna), trẻ thơ thấy mặt trăng trong nước, trong lòng nổi dậy ước muốn vớt trăng lên, rồi duỗi tay vào nước. Nhưng nào có nắm được nó đâu, nên quá đỗi phiền muộn. Bấy giờ người khôn mới dạy cho rằng cái thấy trong nước đó không thể nắm đuợc. Cũng vậy, không phải phủ nhận thế giới của những giả tướng; chỉ phủ nhận tính chất khả thủ khả đắc của nó. Thế giới sai biệt có đó, trước mặt kẻ trí cũng như người ngu; khác nhau chăng ở chỗ, trí thấy nó mà tâm không ôm cứng lấy, còn ngu thì dời xa một chút không nổi để vào cảnh giới của Tánh Không. Bồ tát đã nhận ra bức màn Như Huyễn như thế; chỉ những ai đang còn trong vòng trói buộc mới cho nó là có thực.

Vì vậy, phải tựa trên hậu cứ của Tánh Không hay Chân như mà hiểu thuyết Như Huyễn. Nếu không, Huyễn vẫn y nhiên là Huyễn, và những người theo đạo Phật sẽ không bao giờ biết đặt chân vào đâu, mặc dù không ai dám nói đặt chân vào cõi phân biệt. Nếu không giảng luận ra như thế, Như huyễn sẽ hoàn toàn vô nghĩa trong giáo pháp của Bát Nhã Ba-la-mật-đa. Câu nói: Cho đến Niết bàn cũng như huyễn như mộng, sẽ không hơn một câu trào lộng. Như huyễn là một chỉ điểm viên. Ai theo nó một cách thông minh sẽ thấy đằng sau màn bạc có một thế giới của những huyền diệu không thể tả và những thực tại "bất khả đắc".

 

3. Phân biệt và vô phân biệt:

 

Bồ tát sở dĩ đạt đạo và được vô ngại trí, vô phân biệt trí, vì Bồ tát thấu rõ thế gian nầy có vô vàn hình thái sai biệt, sai biệt về cái thấy cái biết, sai biệt về nguyện vọng, sai biệt về tâm hành… Rồi Bồ tát với tâm bình đẳng, vô phân biệt mới thực thi các chương trình cứu rỗi chúng sanh. Bồ tát như vậy, sống trong sai biệt mà không phân biệt, mới làm được những việc khó làm, mang nhiều phúc lợi cho chúng sanh. Đó chính là cái khó, cái sâu sắc của Bồ tát hạnh: Sống trong sai biệt mà vô phân biệt mới thật khó!

Sống giữa thiên sai vạn biệt của cuộc đời thường mà không có phân biệt hay có phân biệt mà không thấy sai biệt. Đó mới là khó, đó là chỗ thâm áo của của hành giả Bát nhã. Chỉ bằng trí Bát nhã, Bồ tát mới đạt được chỗ thậm diệu này.

 

Kết luận:

 

Ta có thể lấy đoạn Kinh trong phần “Na Già Thật Lợi” quyển 576, Hội thứ VIII, ĐBN làm kết luận cho phẩm này:

Bồ tát Na Già Thất Lợi(còn gọi là Long Cát Tường) nói với Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi là muốn chứng Vô Thượng Bồ đề, Mạn Thù Thất Lợi bảo:

"Pháp Vô thượng Bồ đề chẳng thể chứng. Ngài muốn chứng pháp ấy tức là hành hý luận. Vì sao? Vì Vô thượng Bồ đề lìa tướng, tịch diệt. Vậy Ngài muốn trở thành người nắm giữ lấy hý luận hay sao? Ví như có người nói như vầy: "Tôi khiến huyễn sĩ ngồi tòa Bồ đề, chứng huyễn Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề". Lời nói như thế quá ư hý luận. Vì các huyễn sĩ còn bất khả đắc, huống nữa là khiến cho chứng được huyễn đại Bồ đề!

Huyễn đối với pháp huyễn chẳng hợp chẳng tan, chẳng lấy chẳng bỏ, tự tánh đều Không. Chư Phật Thế Tôn nói tất cả pháp chẳng thể phân biệt, đều như huyễn mộng. Nay Ngài muốn chứng Vô thượng Bồ đề, há chẳng phải thành người phân biệt huyễn pháp! Nhưng tất cả pháp đều chẳng thể lấy, cũng chẳng thể bỏ, không thành không hoại, chẳng phải pháp đối với pháp có tạo tác và có diệt hoại. Không có pháp nào đối với pháp nào mà có hòa hiệp, có chia lìa. Vì sao? Vì tất cả pháp chẳng hợp chẳng tan, tự tánh đều không, lìa ngã, ngã sở, đồng cõi hư không, không nói, không chỉ, không khen, không chê, không cao, không thấp, không tổn, không ích, chẳng thể tưởng tượng, chẳng thể hý luận, bản tánh hư tịch, đều rốt ráo không, như huyễn như mộng, vô đối, vô tỉ, sao có thể khởi tâm phân biệt nó được".

Tới đây chúng ta còn có ý kiến gì không? Tất cả pháp rốt ráo đều không, như huyễn như mộng, vô đối, vô tỉ, sao có thể khởi tâm phân biệt chúng được? Thấy như huyễn không có nghĩa là phân biệt các pháp là thật hay không thật mà xuyên qua cái thấy này tri giác rằng các pháp không phải trường tồn hay bất biến mà nương vịn vào đó để phải chịu khổ lụy thân tâm. Bản chất các pháp là không, không có tự tánh nên gọi là không. Nó trơ lì ra đó, nó là trì độn, bất động. Chỉ có con người lúc nào cũng dán cái thức vào nhãn quang nên mới thấy muôn sự muôn vật tụ tán đổi dời sanh diệt. Nếu thấy muôn sự muôn vật tịch lặng thì được tâm giải thoát, huệ giải thoát thì chứng được Niết Bàn. Vì Niết bàn là vắng lặng, là tịch tĩnh, là giải thoát!

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn