Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Toát Yếu

14/04/202110:27(Xem: 74)
Toát Yếu

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

buddha-572

 

III. PHẦN THỨ III TỔNG LUẬN:

 

TÁNH KHÔNG BÁT NHÃ

(Với những nguyên lý chỉ đạo của nó)

 

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

TOÁT YẾU

 

 

Đây chỉ là tóm lược 13 chủ đề của phần thứ III Tổng luận, không có gì mới mẻ ở đây. Mục đích giúp độc giả nắm vững những gì đã diễn nói trong phần thứ III Tổng luận với toát yếu ngắn gọn như sau:

 

1- Những phát biểu của Bát nhã Ba la mật về con người liên hệ đến sự sống, cách sống, lối sống hay nói khác về quan niệm sống liên quan đến hạnh phúc hay khổ đau. Đây không phải là những phát biểu hời hợt, mà là một thứ phát biểu triết lý ở tầng cao của Phật đạo nhằm thức tỉnh tâm thức con người. Những gì Bát nhã Ba la mật thuyết đều là những biểu thị ẩn mật, đòi hỏi phải lặn sâu vào tâm thức mới có thể thâm nhập được và một khi thâm nhập được rồi thì đó chính là máu mủ trí tuệ trong tự thể của chính các ông. Vì vậy, muốn học, muốn hiểu Bát nhã Ba la mật thì tự mình phải đào sâu những biểu thị hay pháp nghĩa hiển hiện của nó.

Nhưng, Bát nhã Ba la mật luôn luôn lưu ý độc giả Bát nhã Ba la mật không ngôn thuyết, không nói năng, luận bàn... Nói như vậy nhưng không phải vậy. Đại Bát Nhã có cả thảy 600 quyển, chiếm 1/3 Đại tạng Kinh, hơn 7000 trang sách đánh máy khổ lớn, tổng cộng hơn 5 triệu chữ, truyền tụng qua không biết bao nhiên thời đại, tốn không biết bao nhiêu công sức giấy mực. Vậy mà Bát nhã Ba la mật lúc nào cũng cho là không nói năng luận bàn. Vì những điều Bát nhã Ba la mật muốn nói không phải dành cho trí năng thường tục. Bát Nhã không muốn chúng ta tìm kiếm thứ gì trên mặt nổi của ngôn từ. Những ai muốn học Bát nhã Ba la mật phải lặn sâu vào tâm thức và tự mình đào xới, tự hội những gì mà Bát nhã Ba la mật biểu thị hay hàm ngụ, điều đó có nghĩa là đừng học Bát Nhã trên mặt nổi của ngôn từ mà “học Bát Nhã phải học ở chỗ không có văn tự”, Cổ đức nói như thế. Đó là lối hóa đạo đặc biệt của Bát nhã Ba la mật. Phải có “đổ mồ hôi sôi nước mắt” thì mới có miếng ăn, không ai dọn sẵn cho mình! Trâu Bảo Lộc ăn cỏ, trâu Đồng Nai không thể no được!

 

2- Vậy, muốn học Bát nhã Ba la mật phải làm sao? Phải tự mình khám phá những biểu thị của nó. Bát nhã Ba la mật tự biểu thị nhân sinh quan và vũ trụ quan của chính nó qua những cái gọi là nội hay ngoại mà uẩn xứ giới và vạn pháp chung quanh tiêu biểu cho những biểu thị đó. Không có uẩn xứ giới, không có pháp giới. Không có pháp giới thì không có Phật, không có Bồ tát, không có Bát nhã Ba la mật, không có chúng sanh, không có “thông tin” hay “giao cảm” giữa vạn hữu với con người. Thế giới và con người chỉ có thể hiểu biết qua cái thấy nghe hiểu biết của các quan năng và đối tượng của các quan năng này mà thôi.

Trung tâm của các quan năng này chính là tâm và tâm sở, ngã và ngã sở. Ngã (con người) và ngã sở (pháp giới) trở thành đầu mối của những chuyển biến bất tận của thế giới hiện tượng cũng như nội tâm. Thấy biết có dính ngã vào đó nên có phân biệt, và do phân biệt nên có chấp. Có chấp mới có chia chẻ phân hóa. Thế giới vốn dĩ là một, cái duy nhất một biến thành đa thù. Đó chính là điên đảo, từ đó sầu than khổ não bắt đầu! Muốn yên vui thì đừng phân biệt, không phân biệt khác. Dứt phân biệt thì không chấp, không chấp thì không phân hai, nên nói là bất nhị. Bất nhị thì bất động, tức chẳng chuyển chẳng lai nên được như như, như đó là Như Lai, nên nói là bình đẳng và bình đẳng chính là thanh tịnh.

Tất cả giáo pháp nói về tâm và tâm sở, ngã và ngã sở, những giáo pháp nói về phân biệt hay không phân biệt, chấp hay chẳng chấp, nhị hay bất nhị: Đó là những biểu thị của Bát nhã Ba la mật. Qua những biểu thị này chúng ta có thể hiểu rõ thế giới nội và ngoại như thế nào để từ đó có thể rút ra kinh nghiệm sống, cách sống để cải thiện sinh hoạt tâm linh được tốt đẹp hơn!

 

3- Người thế gian vì mê lầm chấp tâm, chấp pháp cho là thật có, Thánh giả thấy các pháp chỉ là giả danh, không thật như huyễn như mộng, các pháp vốn trì độn ngu si, các pháp là không, không có tánh tướng, thể dụng, các pháp lúc nào cũng như, chẳng lúc nào chẳng như, các pháp như vậy là như vậy, như đó là bình đẳng; bình đẳng nên nói là thanh tịnh. Thánh giả có cái thấy như thực (yathàbhùtam) trong chân như thật tướng của các pháp, nên các Ngài không bị trói buộc bởi các pháp. Do đó, mới giải thoát mà qua được bờ kia. Rồi từ bờ kia nhìn lại bờ này mới tuyên bố các pháp là không thật, giả danh chỉ là huyễn mộng...

Chỉ cần quán và hiểu rõ một trong mười thí dụ về huyễn mộng, 18 pháp không... thì cũng đủ an thân lập mệnh không cần tầm cầu các pháp môn siêu việt nào khác!

 

4- Cái nhìn của chúng sanh là cái nhìn “nhập thị”, cái nhìn tương đối của thế giới phân hai, thế giới của thiện ác, nhiễm tịnh, xấu tốt, thương ghét, lấy bỏ… nên gọi là Tục đế. Trong khi cái nhìn của Thánh giả là cái nhìn “xuất thị”, cái nhìn trong suốt của thế giới tuyệt đối trong đó không tội-phước, không-tốt xấu, không uế-tịnh, không có minh hay vô minh, không có phiền não hay Bồ đề, không có sanh tử hay Niết bàn…, nên gọi là Thánh đế. Nhưng nói Thánh hay phàm, tuyệt đối hay tương đối cũng còn nằm trong nhị nguyên, thì vẫn đi ngược Phật đạo. Nói như thế chưa phải là chứng tánh, vẫn còn thấy cái hố cách biệt giữa Chân và Tục. Làm sao lấp cái hố phân chia ngăn cách này để đem chúng sanh hội ngộ cùng chư Phật.

Để tìm giải pháp dung hòa, tạo mối thông cảm để đem chúng sanh đến gần cảnh giới Phật, Bồ tát Long Thọ dùng Trung quán tạo con đường giữa gọi là Trung Đạo. Con đường này không có nghĩa là đưa hai đối thủ đến một thỏa hiệp nào cả mà nó chỉ muốn giữ vai trò trung lập, tạo điều kiện để hai bên sánh vai nhau trong việc thực hiện nếp sống bao dung Thánh thiện giữa các thiên chấp của cuộc đời thường trong tư duy cũng như trong tạo tác.

Nói Tục đế, Chân đế hay Trung đạo đế không phải nói về sự phân chia ngăn cách giữa bờ này, bờ kia hay ở giữa hai. Pháp giới chỉ là một, cái duy nhất một. Sư phân chia cốt chỉ cái hư với cái thực, cái mê đối với ngộ, cái bên này hay bên kia. Đứng một bên là thiên chấp, là thiếu sót, cục bộ kể cả đứng ở giữa. Trung đạo tạo nhịp cầu giao duyên bắc ngang hố thẳm Chân Tục để chúng sanh có cơ hội đặt chân lên bờ kia. Nói như vậy có nghĩa Trung đạo chỉ là con đường giữa cố lấp cái hố thẳm Có Không. Có cũng không mà Không cũng không nốt. Khi hiểu ra rằng tất cả đều không thì không ôm giữ cất giấu nữa.

 

5- Nhưng nói gì đi nữa, Bát nhã Ba la mật phải trả lời thẳng những câu hỏi hết sức thực tế mà phàm phu muốn biết: Bát nhã Ba la mật là gì? Bát nhã Ba la mật có thể đáp ứng những đòi hỏi tâm linh hay không? Phải nắm bắt Bát nhã Ba la mật như thế nào để sống, sống một kiếp sống Thánh thiện?

“Bát Nhã” là trí tuệ, là tri kiến của tất cả chúng sanh. “Ba la mật” là bờ bên kia, bờ giác. Ghép hai cụm từ Bát nhã Ba la mật với nhau thì có thể nói nhờ trí tuệ giác tánh mới có đời sống tự tại gọi là giải thoát mà có thể lên thuyền Bát Nhã qua bờ bên kia.

Vì vậy, phải nói tu Bát nhã Ba la mật để được Giác ngộ và Chánh giác, nhờ Giác ngộ và Chánh giác mới có Nhất thiết trí trí. Do đó mới có thể tìm thấy con đường giải thoát mà sang bờ kia. Nhưng đây không phải là một tiến trình nhờ cái này mà có cái kia. Tất cả đều hỗ tương sanh khởi giữa Giác ngộ, Chánh giác và Nhất thiết trí trí khi ánh sáng của buổi bình minh chiếu vào cội Bồ đề sau 49 ngày thiền định của Phật.

Với những lý do đó, nên nhà thiền thường nói “không Giác ngộ không phải là Bát Nhã” hay nói “chỉ thành tựu Giác ngộ trong Bát Nhã hay ngược lại”. Đó là những đòi hỏi của tâm linh hay mục tiêu tối hậu của những ai hành trì Bát nhã Ba la mật.

Nhưng thực thi mục tiêu đó không phải dễ, phải tùy thuận Nhất thiết trí trí, phải lấy vô sở đắc làm phương tiện để tư duy ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, là không, vô tướng, vô nguyện, là tịch tịnh, viễn ly... Đó là những tư duy Thánh thiện về cảnh giới mà mình muốn sống. Nhưng tư duy như vậy vẫn còn thiếu sót, phải tư duy ngũ uẩn như bệnh hoạn, như ung thư, như tên đâm, như lửa dữ, như tai ương… Đó là tất cả những tư duy đen tối do ngũ uẩn tạo thành. Một đàng thì tư duy Thánh thiện, đàng khác thì tư duy cái đen tối do ngũ uẩn tạo thành. Vậy, phải tư duy như thế nào mới cho đúng? Cuối cùng Kinh bảo phải tư duy ngũ uẩn như vô sanh vô diệt, vô nhiễm vô tịnh... cốt đối trị những thứ phân hóa của cuộc đời thường để từ đó chúng sanh tự mình vươn lên trong ánh sáng giác ngộ mà qua bờ kia.

Vậy, phải khởi quán tất cả pháp không có ngã và ngã sở. Vì ngã và ngã sở là đầu mối của bao kiếp đọa đầy của tất cả chúng sanh. Có ngã, ngã sở là có kiến. Có kiến là có chấp, có chấp là có phiền não. Nhân kiến là gốc của phiền não. Lìa nhân kiến thì phiền não chẳng sanh. Rốt lại, phải quán tất cả pháp “không pháp nào chẳng đều không”, thì được tự tại. Vậy, quán không, vô tướng, vô nguyện là bước qua được cửa giải thoát. Đó là nắm bắt đúng Bát nhã Ba la mật. Nói như thế nhưng không phải thế. Rốt ráo, không có pháp nào chẳng đều không, Bát nhã Ba la mật cũng không nốt. Vậy, nắm bắt là nắm bắt cái gì?

 

6- Muốn thành tựu Bát nhã Ba la mật thì phải Giác ngộ hay ngược lại. Đây không phải là hai vấn đề riêng rẽ mà đây là sự liên hệ hỗ tương mà yếu tố trọng yếu chính là phải học và thực hành các pháp thực tu thực chứng. Các pháp thực tu thực chứng này còn gọi là các pháp mầu Phật đạo, tư lương Bồ đề Bồ tát hay còn gọi là Bồ tát đạo. Đó là phương tiện chánh nẩy sanh Bát Nhã, không có phương tiện đó không có Bát nhã Ba la mật, không có Bồ tát, không có Phật, Phật đạo hay Đại thừa.

Tuy nhiên, những phương tiện thứ yếu khác không phải là không quan trọng, nhưng mấy ai để ý đến! Phật phải dùng những từ như mật ngữ, pháp ấn hay đại luân tự để nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng trong việc tầm cầu Giác ngộ. Ở đâu hay bất cứ pháp hội nào, không những đối với Kinh ĐBN mà còn đối với các Kinh khác nữa, Phật đều nói đến vô sở hữu, bất khả đắc. Kinh nói: “... pháp vô sở hữu bất khả đắc đó chính là Bát nhã Ba la mật”. Kinh cũng nói: “Vô sở đắc là tướng của Bát nhã Ba la mật; vô sở đắc là tướng của Vô Thượng Bồ Đề; vô sở đắc cũng là tướng của người hành Bát nhã Ba la mật”. Vô sở hữu, bất khả đắc cũng được định nghĩa là “tên khác của Không”. Như vậy, vô sở hữu, bất khả đắc là cụm từ huyền diệu được xem như Thánh chỉ đặt ngang hàng với Bát nhã Ba la mật hay Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vậy, học và hành Bát Nhã phải luôn nhớ hai cụm từ quan trọng này. Ngày nào còn nắm bắt buông bỏ có không, ngày đó còn trầm luân khổ ải!

Đi song song với Vô sở hữu, Bất khả đắc, từ Vô tướng lại là một thứ Thánh chỉ khác trong việc tu tập Bát nhã Ba la mật. Kinh bảo: “Tu vô tướng là tu Bát nhã Ba la mật, tu như vậy chóng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề”. Vì vậy, Phật lấy thí dụ Phạm Chí Thắng quân nhờ tu pháp môn ly tướng mà chứng được Nhất thiết trí trí.

Không những Vô tướng giữ vai trò quan trọng trong việc tu tập Bát nhã Ba la mật mà Vô Tánh cũng được nâng lên thành một thứ “diệu tướng” trong sự thành tựu Thánh trí. Phẩm “Diệu Tướng”, Hội thứ III, ĐBN nói: “Các đại Bồ tát lấy vô tánh làm Thánh đạo” và Phật bảo Ta lúc bấy giờ, quán tất cả pháp bình đẳng lấy vô tánh làm tánh, do một sát na tương ưng Bát Nhã chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Chúng ta có thể hiểu tầm quan trọng của các từ này trong đạo Phật!

Phẩm “Học Quán”, quyển 03, mở đầu cho pháp hội thứ I, còn thêm vào đó một số các từ khác như Vô trụ, Vô xả, Vô hộ, Vô thủ, Vô cần, Vô tư, Vô trước làm phương tiện tu hành. Chúng ta cũng có thể thêm vào danh sách đó các từ như Vô thức, Vô niệm, Vô tâm nếu muốn. Tất cả các từ trên dẫn xuất từ Tánh không. Chúng là sở hành của trí, sở hành của Bát nhã Ba la mật cũng là sở hành của Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Chúng như là phương tiện đưa đến thành tựu Bát Nhã hay Giác ngộ, vì chúng hộ trì chánh pháp và chúng cũng là chánh pháp xuất sanh từ Bát nhã Ba la mật.

Ngoài những từ trên, ĐBN luôn luôn lặp đi lặp lại những câu nói như trong phẩm “Thế Gian”, quyển 547, Hội thứ IV, TBBN. Như sau:

- “Pháp Ta đã dạy lấy không, vô tướng, vô nguyện, vô tạo, vô tác, vô sanh, vô diệt, tịch diệt, Niết bàn, pháp giới làm tướng. Vì sao? Vì pháp Phật dạy không có chỗ nương tựa, ví như hư không, không thể biểu thị được”.

- “Tất cả pháp tánh, không sanh, không khởi, không biết, không thấy. Vì tất cả pháp Không, vô sở hữu, không chỗ nương tựa và không có sự lệ thuộc. Do nhân duyên này nên không sanh, không khởi, không biết, không thấy”.

- “Bát Nhã sâu xa có thể hiển bày Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thế gian Không, thế gian xa lìa, thế gian thanh tịnh, thế gian vắng lặng, cho nên nói có thể hiển bày thật tướng thế gian. Vì sao? Vì Không, xa lìa, thanh tịnh, vắng lặng là các tướng như thật của thế gian”.

Những từ như, không, vô tướng, vô nguyện, vô tạo, vô tác, vô sanh, vô diệt, tịch diệt, Niết bàn, xa lìa, thanh tịnh, vắng lặng... nói trong phẩm “Thế Gian”. Đó là tướng như thật biểu thị thế gian. Thông hiểu các từ này là hiểu thế gian, là hiểu Phật pháp, là hiểu Bát nhã Ba la mật hay nói khác những từ này thật sự đóng góp vào sự giác ngộ, vì chúng cũng phát xuất từ giác ngộ như các từ vô sở hữu, bất khả đắc, vô tướng, vô tánh... nói trên.

Quyển 575, phần “Mạn Thù Thất Lợi”, Hội thứ VII, Phật cũng bảo:

Mạn Thù Thất Lợi! Như Ta đã nói, tất cả các loại pháp môn đều đồng một vị là vị xa lìa, vị vắng lặng, vị giải thoát không có điều chống trái”.

 

7- Câu hỏi được đặt ra: Mục tiêu của việc tu hành Bát nhã Ba la mật là gì? Ai cũng có thể trả lời câu hỏi này một cách dễ dàng: Tu Bát Nhã để Giác ngộ, đạt Chánh giác và Nhất thiết trí trí. Đó là ba mục tiêu chính yếu của người hành trì Bát Nhã. Biết như vậy, nhưng tìm Bát Nhã ở đâu? Bát Nhã đề cập ở đây phải hiểu là trí tuệ, trí tuệ này phải tìm ở đâu? Kinh bảo chẳng tìm trong sở hành của Bồ tát, vì sở hành của Bồ tát là chẳng cầu, cũng chẳng cầu hay lìa 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới và tất cả các pháp Phật. Chẳng cầu ở uẩn xứ giới, vì uẩn xứ giới là cái lôi kéo đưa con người vào cảnh giới đen tối. Do đó, không cầu ở uẩn xứ giới là phải. Nhưng uẩn xứ giới như nhiều lần chúng ta phát biểu nó chính là sanh địa, là môi trường sống của con người, nó là củi lửa gạo nước... lìa nó làm sao sống. Nên, Kinh lại bảo là không nên lìa uẩn xứ giới là vì vậy. Nên Phật bảo “6 căn 6 trần 6 thức đưa chúng sanh vào địa ngục và cũng chính những thứ này đưa chúng sanh vào Niết bàn”. Nương vịn vào chúng để tầm cầu nắm bắt là rơi vào sanh tử, chế ngự được chúng thì được an vui giải thoát nên nói Niết bàn.

Riêng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí hay Nhất thiết trí trí là sở hành của Bồ tát, đó là trọng tâm của tu hành. Kinh nói tu Bát Nhã mà lìa tâm Nhất thiết trí giống như chim xí to lớn từ trời cao rơi xuống mà không có cánh(1) nếu không bị thương tật thì cũng phải bỏ mạng. Vậy, tại sao không cầu nó như là sở hành? Vì nếu hành mà có mong cầu nắm bắt tức có nương vịn như dây leo nương dậu, như chim nương cành tức còn tùy thuộc trói buộc. Nhưng hành thì vẫn hành mà không nên mong cầu, cũng chẳng nắm bắt cất giữ dù là Nhất thiết trí, Đạo tướng trí hay Nhất thiết chủng trí hay pháp tối cao nào khác được xem như mang lại nhiều công đức nhất.

Vậy, câu hỏi được đặt ra là phải cầu sở hành Bát Nhã ở đâu? Kinh trả lời: “Sở hành Bát nhã Ba la mật của đại Bồ tát phải cầu ở trong sở thuyết của Thiện Hiện”(2).

Sở cầu của Thiện Hiện là không cầu ở ngũ ấm, lục nhập, lục thức, lục xúc hay ở trong tất cả pháp Phật; cũng không lìa ngũ ấm, lục nhập, lục thức, lục xúc hay tất cả pháp Phật. Sở cầu là như vậy, nên sở hành Bát nhã Ba la mật của đại Bồ tát phải cầu ở sở thuyết của Thiện Hiện là như thế nào? Sở thuyết của Thiện Hiện là hành Không, Vô tướng, Vô tác hay vô nguyện. Thiện Hiện được xem là “Giải Không bậc nhất” trong hàng đệ tử Phật và chính Phật giao cho nhiệm vụ dạy bảo trao truyền cho các Bồ tát trong các pháp hội Đại Bát Nhã. Vậy những ai theo chân Thiện Hiện tìm sở hành như vậy, thì được xem là chân đệ tử Phật, từ khẩu Phật sanh, từ tâm Phật hóa sanh!

 

8- Một câu hỏi khác được đặt ra là quán cái gì cũng không thì làm thế nào thông đạt Bát nhã Ba la mật?

Không có ở đây, không có ở kia, cũng không ở giữa; không có sự thông đạt, không bị thông đạt, không chỗ thông đạt, không thời thông đạt, không người thông đạt. Tất cả đều giả lập... tất cả đều rỗng không, chẳng có gì để thông đạt! Nếu như thật hiểu như thế tức là thông đạt, thông đạt tuệ.

Cái gì không thể hiểu, không thể biết, không thể nghĩ tưởng nổi; muốn cho người khác hiểu biết thì chỉ còn cách là thí dụ hay lập phương tiện giả nói hay thi thiết. Không giả nói, không thi thiết thì không thể hiểu tất cả pháp. Đó là lập cước của Phật. Trước khi Phật xuất hiện, chúng ta không biết đến ba cõi: Dục, Sắc và Vô sắc. Phật thi thiết có ba cõi, chúng sanh luân hồi không thoát khỏi ba cõi này. Nhờ Phật giả nói do tội chướng mà chúng sanh phải lặn hụp trong ba cõi. Chúng ta hiểu được lời nói này là do giả nói, nên chúng ta biết ba cõi. Nhưng Kinh nói ba cõi cũng không thật, chỉ giả thi thiết. Nhờ giả nói, thi thiết mới hiểu. Nên suy ra giả nói, thi thiết là một thứ phương tiện của việc hóa đạo đặc biệt trong việc dẫn dắt chúng sanh.

 Vậy, câu nói: Tất cả đều giả lập... tất cả đều rỗng không! Nếu như thật hiểu như thế tức là thông đạt, thông đạt tuệ. Đây không phải là lời bí ẩn. Rốt ráo, tất cả là giả nói, rỗng không, chẳng có gì thông đạt ở đây, hiểu như vậy là thông đạt tuệ!

Kết luận này có thể gây ngạc nhiên mọi người? Ghi nhớ thuộc ký ức tức phải qua trung gian của thức. Nhưng ký ức chỉ có thể cất giữ trong một thời gian ngắn. Còn thâm hiểu, thông đạt bất cứ chi tiết nhỏ nhặt nào nó là tuệ. Tuệ không cần nhớ, không cần kêu gọi đến ký ức, nó trở thành máu mủ trong tự thể, sẵn sàng phát chiếu như tia điện chớp. Nó là một thứ trực giác thực chứng không qua trung gian của bất cứ thứ gì. Biết liền biết, đó là cái diệu dụng hiện tiền của tuệ. Còn chần chừ suy nghĩ là sai, nó thuộc thức. Thức thì không bao giờ với tới tuệ nổi.

Muốn vói tới tuệ thì phải có sự chuyển y và bất cứ sự chuyển y nào cũng bắt nguồn từ Bát Nhã. Nên Kinh nói: “Thế nào là thành tựu thông đạt Bát Nhã? Là không có việc nhỏ nào mà không thông đạt hoàn toàn. Đối với tất cả việc hoàn toàn thông đạt nên gọi là thông đạt Bát Nhã. Như vậy, Bát Nhã đối với tất cả việc đều siêu việt. Nếu thành tựu Bát Nhã như vậy thì các điều thấy, nghe, ngửi, nếm, biết đều thông đạt”. Thấy nghe hiểu biết hết, điều đó có nghĩa là đối với tất cả pháp thông đạt được thật tánh của chúng. Thông đạt thật tánh tất cả pháp thì không còn điên đảo, không bị dính mắc trói buộc nữa. Không bị vướng mắc trói buộc nên có thể phá bỏ vô minh, các triền phược liền giải thoát tức sang được bờ kia!

 

9- Tu hành Bát Nhã có nghĩa là để chứng đắc chăng?

 

- Phẩm “Pháp Giới”, quyển 567, Hội thứ VI, ĐBN. Phật bảo Thắng Thiên vương: “Thiên vương nên biết! Bát nhã Ba la mật xuất thế có khả năng thấy đúng như thật nên gọi là chứng, hậu đắc trí thông suốt nên gọi là đắc”.

Đó là nói theo ngôn ngữ thế tục có chứng có đắc trong việc tu Phật. Nhưng chứng hay đắc chỉ thuộc nội tâm, chỉ có mình tự thầm biết, thầm ngộ, không thể chỉ nói cho người. Nên những đoạn Kinh được dẫn chứng sau đây lại nói khác:

 

- Phẩm “Thấy Bất Động”, quyển 521, ĐBN. Nói: Năng chứng, sở chứng, sở hành…của Bồ tát trọn bất khả đắc, như sau:

“Các Bồ tát Ma ha tát sở chứng nghĩa thú trọn bất khả đắc, năng chứng Bát nhã Ba la mật cũng bất khả đắc, pháp chứng, kẻ chứng, chỗ chứng, thời chứng cũng bất khả đắc.

Cụ thọ Tu Bồ Đề trình Phật: Bạch Thế Tôn! Các Bồ tát Ma ha tát quán tất cả pháp đã bất khả đắc, có nghĩa thú nào khá làm sở chứng, có Bát nhã Ba la mật nào khá làm năng chứng, lại có những gì mà thi thiết được pháp chứng, kẻ chứng, chỗ chứng, thời chứng. Như vậy, vì sao chấp do đây chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề? Pháp Thanh văn hay Duyên giác chẳng thể chứng, huống chi muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Bạch Thế Tôn! Nếu hành như thế đấy gọi Bồ tát hành vô sở đắc. Nếu Bồ tát Ma ha tát năng hành cái hành vô sở đắc như thế, đối tất cả pháp không bị ám chướng. Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát Ma ha tát nghe như thế mà tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng buồn hối, chẳng kinh chẳng sợ là hành Bát nhã Ba la mật.

Bạch Thế Tôn! Bồ tát Ma ha tát này khi hành như thế chẳng thấy các tướng, chẳng thấy ta hành, chẳng thấy chẳng hành, chẳng thấy Bát nhã Ba la mật là sở hành của ta, chẳng thấy Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề là sở chứng của ta, cũng lại chẳng thấy cả xứ thời và chứng”.

Chẳng thấy năng sở, chẳng thấy chỗ chứng, thời chứng… thì lấy gì để chứng? Đoạn Kinh sau đây, bậc Thánh sẽ trả lời tại sao?

 

- Phần “Na Già Thật Lợi”, quyển thứ 576, ĐBN: Bồ tát Long Cát Tường (Na Già Thất Lợi) nói với Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi là muốn chứng Vô Thượng Bồ đề. Mạn Thù Thất Lợi bảo: Pháp Vô thượng Bồ đề chẳng thể chứng. Ngài muốn chứng pháp ấy tức là hành hý luận. Vì sao? Vì Vô thượng Bồ đề lìa tướng, tịch diệt. Vậy Ngài muốn trở thành người giữ lấy sự hý luận hay sao? Ví như có người nói như vầy: “Tôi khiến huyễn sĩ ngồi tòa Bồ đề, chứng huyễn Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề”. Lời nói như thế quá ư hý luận. Vì các huyễn sĩ còn bất khả đắc, huống nữa là khiến cho chứng được huyễn đại Bồ đề!

Huyễn đối với pháp huyễn chẳng hợp chẳng tan, chẳng lấy chẳng bỏ, tự tánh đều Không. Chư Phật Thế Tôn nói tất cả pháp chẳng thể phân biệt, đều như huyễn mộng. Nay Ngài muốn chứng Vô thượng Bồ đề, há chẳng phải thành người phân biệt huyễn pháp! Nhưng tất cả pháp đều chẳng thể lấy, cũng chẳng thể bỏ, không thành không hoại, chẳng phải pháp đối với pháp có tạo tác và có diệt hoại. Không có pháp nào đối với pháp nào mà có hòa hiệp, có chia lìa. Vì sao? Vì tất cả pháp chẳng hợp chẳng tan, tự tánh đều Không, lìa ngã, ngã sở, đồng cõi hư không, không nói, không chỉ, không khen, không chê, không cao, không thấp, không tổn, không ích, chẳng thể tưởng tượng, chẳng thể hý luận, bản tánh hư tịch, đều rốt ráo Không, như huyễn như mộng, vô đối, vô tỉ, sao có thể khởi tâm phân biệt nó được”.

Vậy, tu Phật không có nghĩa chứng Phật quả hay đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Phật là danh tự, Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề cũng là danh tự. Danh tự cũng như bất cứ danh tự nào khác là do người khác đặt ra hay người khác gán cho. Chứng hay không chứng cũng tự mình biết, không thể nói cho người. Đó chỉ là nội chuyển, chuyển từ mê sang ngộ, không có gì khác. Tu Phật đừng bao giờ nghĩ đến chứng hay đắc. Nếu còn nghĩ tưởng mong cầu nắm bắt là còn sở đắc, thì sẽ không đắc, không hiện quán. Vậy, đừng bao giờ nói đến chứng nói đắc khi tu Phật, nếu không sẽ bị ăn 30 gậy.

 

10- Bây giờ, nói đến công đức Bát Nhã. Nói công đức Bát Nhã là nói đến bố thí Ba la mật: Bố thí mà không thấy mình là người cho, không thấy vật cho, không thấy kẻ nhận, mới được xem là bố thí Ba la mật. Đó là tam luân không tịch, Bố thí như vậy mới được xem là công đức vô lậu không gì bằng, nên nói là công đức vô bờ bến! Đó là loại công đức thường nghe, quá quen tai trong Kinh Phật. Nhưng công đức cao tột lại là công đức trí tuệ.

Không riêng bố thí Ba la mật mà các Ba la mật khác như tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, thiền định và Bát Nhã cũng góp phần vào bố thí vật chất hay tinh thần này nữa. Nơi nào có khổ nơi đó có Bồ tát! Hạnh nguyện của các Ngài là hy sinh cá nhân mình, sống nhiều đời nhiều kiếp ra vào sanh tử để cứu khổ chúng sanh và làm cho thế gian này mỗi ngày một tươi đẹp trong sáng hơn. Các Ngài lấy thân làm thân giáo tu phạm hạnh, kham nhẫn chịu đựng mọi trạng huống dù bị ngược đãi, lăng nhục, phỉ báng... hay phải chịu trăm ngàn hình phạt dầu sôi lửa bỏng ở địa ngục, thay thế cho chúng sanh vì hạnh nguyện. Các Ngài cũng luôn luôn cải thiện tánh đức trí tuệ để soi sáng mình, người trong việc thành thục chúng sanh, thanh tịnh quốc độ. Tất cả hạnh nguyện cao cả đó chính là công đức trí tuệ.

Nhưng tại sao đoạn Kinh sau đây phẩm “Mạn Thù Sư Lợi”, quyển 575, Hội thứ VII, ĐBN, nói ngược lại những phát biểu trên mà được gọi là công đức chơn thật?

“Mạn Thù Thất Lợi bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Con quán Bát Nhã thâm sâu này không có tướng vô vi, không có các công đức, không sanh, không diệt, không sức, không khả năng, không đến, không đi, không vào, không ra, không tổn, không ích, không biết, không thấy, không thể, không dụng, chẳng phải người tạo tác, cũng không thể làm cho các pháp sanh diệt, không làm cho các pháp là một hay là khác, không thành, không hoại, chẳng phải tuệ, chẳng phải cảnh, chẳng phải pháp phàm phu, chẳng phải pháp Thanh văn, chẳng phải pháp Độc giác, chẳng phải pháp Bồ tát, chẳng phải pháp Như Lai, chẳng phải chứng hay không chứng, chẳng đắc hay không đắc, chẳng phải tận hay bất tận, chẳng vào sanh tử, chẳng ra khỏi sanh tử, chẳng nhập Niết bàn, chẳng ra khỏi Niết bàn, đối với các pháp của Phật chẳng thành chẳng hoại, đối với tất cả pháp chẳng phải tạo tác hay không tạo tác, chẳng phải có thể nghĩ bàn hay không thể nghĩ bàn, lìa phân biệt, dứt hý luận. Bát nhã Ba la mật này hoàn toàn không có công đức, làm sao Như Lai khuyên các hữu tình siêng năng tu học?

Phật bảo đồng tử Mạn Thù Thất Lợi:

- Những điều ngươi đã nói đó tức là công đức chơn thật của Bát nhã Ba la mật. Các thiện nam thiện nữ nào nếu biết như vậy thì gọi là chơn thật tu học Bát nhã Ba la mật thậm thâm”.

Không có gì là nghịch lý hay phản biện ở đây. Phật nói là để cứu độ chúng sanh chứ Phật nói không phải để huyễn hoặc những người con Phật. Những điều Mạn Thù Thất Lợi nói là những biểu thị của thế giới lưỡng nguyên đối đãi, những mâu thuẫn cùng cực bất tận của cuộc đời thường. Cái mâu thuẫn đó bắt nguồn từ cảm quan và ý thức gây nên. Như nhiều lần chúng tôi nói: Cảm quan và ý thức là cái giúp mình sống, nhưng đôi khi lừa phỉnh mà mình không tự biết. Khi hiểu biết như vậy và nói cho người khác hiểu biết để tránh sai lầm. Đó là công đức.

Mạn Thù Thất Lợi Bồ tát thừa hiểu điều này nên đại diện chúng sanh để thưa hỏi Phật. Phật bảo: “Những điều ngươi đã nói tức là công đức chơn thật của Bát nhã Ba la mật”. Tất cả pháp chẳng phải chứng hay không chứng, chẳng phải đắc hay không đắc, chẳng phải tận hay bất tận, chẳng vào sanh tử chẳng ra khỏi sanh tử, chẳng nhập Niết bàn hay chẳng ra khỏi Niết bàn, chẳng thành chẳng hoại, chẳng phải tạo tác hay không tạo tác v.v... Thiện nam thiện nữ nào biết như vậy thì gọi là chơn thật tu học Bát nhã Ba la mật thậm thâm. Biết như vậy là biết theo đệ nhất nghĩa đế tức biết như Thánh giả, tức biết nguồn gốc của tất cả mâu thuẫn xung đột bắt đầu từ đâu? Khi biết chúng bắt nguồn từ đâu tức biết được nguyên nhân sanh khởi của nó, nếu biết nguyên nhân sanh khởi thì có thể cứu chữa được. Bệnh này xuất phát từ cảm quan và ý thức. Cảm quan và ý thức lúc nào cũng đưa đến phân biệt chấp trước tạo thành những điên đảo bất tận. Biết như vậy là do sự chiếu soi của Bát Nhã. Biết rồi tự tu hành, lại có thể giúp người khác tu hành. Đó chính là bố thí pháp. Bố thí như vậy, công đức không thể nghĩ bàn. Đó là một thí dụ trong trăm ngàn thí dụ.

Nhưng lạ lùng thay những điều được xem là mâu thuẫn hay nghịch lý “tận cùng thế giới” lại trở thành bình thường, hợp lý trong cơ cấu trí năng Bát Nhã. Nếu “nhập lý” với lối phát biểu đó thì mới có thể tuyên nói thế nào là công đức chân thật của Bát nhã Ba la mật. Ở đây không nói công đức hữu vi hay vô vi như các phẩm “So Lường Công Đức” hay phần “Kim Cương Năng Đoạn” hay các phẩm, các phần khác của ĐBN. Phần “Mạn Thù Thất Lợi” là một phần (không gọi là phẩm) đặc biệt với lối diễn tả ngược đời của nó. Đây không phải là những kêu gọi suông, đây cũng không phải là những kích động cốt đánh thức tâm ngái ngủ ngàn đời của người học đạo, mà ở đây người chứng đạo tất có những tư tưởng thâm trầm đi ngược dòng thế gian. Nên có thể nói chả có gì đặc biệt được biểu thị ở đây đối với các bậc chứng đạo. Công đức hay không công đức chẳng có gì khác nhau trong cái tâm bình đẳng như như. Đó là lối hóa đạo đặc thù của Bồ tát hiện thân trong cõi này giúp Phật dạy dỗ chúng sanh tại Nam Thiệm bộ châu. Tuy nhiên, tu Bát nhã Ba la mật phải nói là có vô vàn công đức, không thể nghĩ bàn.

 Trước khi chấm dứt thuyết giảng về ĐBN, đoạn Kinh cuối cùng của quyển 600, phần Bát nhã Ba la mật, Hội Thứ XVI. Phật bảo:

“Này Thiện Dũng Mãnh! Nếu ai đối với Bát nhã Ba la mật thâm sâu này mà thọ trì, dù chỉ một câu cũng đạt được vô lượng, vô biên công đức; huống gì họ được Kinh Đại Bát Nhã này mà thọ trì, chuyển đọc, ghi chép đầy đủ và cúng dường lưu truyền rộng rãi khắp vì người khác, thì phước đức của người này đạt được không thể nghĩ bàn”.

Thọ trì chỉ một câu còn đạt được vô lượng, vô biên công đức, huống chi thọ trì trên 7.000 trang sách của Đại Bát Nhã Ba La Mật. Thành thật mà nói Bát nhã Ba la mật có vô vàn diệu dụng không thể nghĩ bàn, nó sẽ “đổi đời” hay “lột xác” nếu những ai biết tuân theo những chỉ dẫn của nó! Muốn được như vậy thì phải tích tụ thiện căn công đức, phải vì người mà hy sinh, phải biết cho đi mà chẳng nhận.

 

11- Đọc hết 600 quyển, 16 pháp hội, tổng cộng trên 7.000 trang sách cỡ lớn, chúng ta thấy rằng Bát nhã Ba la mật bao gồm và chi phối tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, nên chúng ta gọi Bát nhã là một Đại tùng thư trong kho tàng kinh điển Phật học. Nên, quyển 596, phần “Bát nhã Ba la mật” Phật xác nhận Bát nhã Ba la mật là sâu xa, là không ngằn mé, là vô biên. Bởi vì, không có bất cứ pháp nào trong càn khôn vũ trụ thoát khỏi sự nhiếp phục của Bát nhã Ba la mật. Vì vậy, không thể khu định Bát nhã Ba la mật vào một khuôn khổ nhất định nào. Nếu chúng ta nhốt nó vào một lâu đài to lớn bằng vàng, bằng kim cương hay bằng ngọc Ma ni huy hoàng tráng lệ cho dù to lớn như hư không, là chúng ta giết nó. Bát Nhã giải phóng mọi trói buộc, để mọi chúng sanh được tự do như chim xí bay lượn trên hư không. Bát nhã phóng xả(1) hay phủi sạch mọi lo nghĩ tính toán. Chính nhờ nét đặc thù này hành giả Bát Nhã mới thật sự khai phóng được nguồn năng lực nội tại để thực hiện một bước nhảy.

Kinh so sánh: “Ví như biển lớn là nơi dung chứa nhiều dòng nước và thường làm chỗ quay về cho các dòng sông. Cũng vậy, nếu Bồ tát nắm giữ được Bát nhã Ba la mật thâm sâu rộng lớn này mà tinh tấn siêng năng tu học thì vô cùng thông đạt và lợi ích. Phải biết không bao lâu vị này sẽ là biển lớn chứa tất cả pháp, mau thành tựu tất cả pháp khí, thường làm chỗ quay về cho các pháp, nên các pháp thế gian không thể nào quấy nhiễu được”.

 

12- Như đã nói trước, toàn thể Bát nhã Ba la mật chỗ nào cũng tán tụng những công đức oai thần, những diệu dụng thần thông, hay những uy lực huyền bí không thể nghĩ bàn của Bát nhã Ba la mật và Chư Phật cũng thường khuyên rằng muốn được như thế thì phải học Bát nhã Ba la mật. Nhưng, để thực-tế-hóa cuối cùng phần “Bát nhã Ba la mật”, quyển 596, Hội thứ XVI, tức Hội cuối cùng trước khi kết thúc thuyết giảng về Đại Bát Nhã, Phật bảo: Bát Nhã kỳ cùng không phải là thực tại cứu cánh, thực tại tối hậu nào cả! Bát Nhã không tự mâu thuẫn, Bát Nhã không muốn nói huyền thuyết diệu, không muốn huyễn hoặc những người con Phật ở đây!

Bát Nhã không vì tất cả pháp đối đãi hay không đối đãi, Bát Nhã không phải là pháp thành tựu hay hoại diệt, không phải là pháp tăng hay giảm, không phải là pháp tập hợp hay xa lìa. Bát Nhã cũng không phải là pháp có lấy, có bỏ, có tạo tác hay không tạo tác... Bát nhã Ba la mật là vô sắc, vô kiến, vô đối, vô tánh, chẳng có chút khá trụ khá vượt, khá vào khá đắc, khá chứng khá thọ, chỗ gọi là công đức. Bát Nhã không vì tất cả pháp như vậy mà hiện tiền.

Tất cả không phải là thực tại cứu cánh, thực tại hiện hữu hay giây phút vĩnh hằng nào cả. Pháp nhĩ tự nhiên thôi! Đừng có tưởng tượng bốc cao mà lạc mất tâm đạo. Chẳng có gì cần thần-thánh-hóa, cũng chẳng có gì kỳ đặc phi thường cần phô diễn ở đây! Đó là lời dạy giản dị nhất mà cũng là lời nói chân thành thiết thực nhất của Phật đối với những ai còn nặng óc mê tín.

Phật chỉ muốn nói: Bát Nhã kỳ cùng không phải là thực tại tối hậu nào cả. Phật phủ nhận tất cả những gì gọi là Thần Thánh, phi thường hay kỳ đặc ở đây, Phật không muốn chúng sanh nắm bắt cất giữ bất cứ thứ gì trong tâm dù là pháp được xem là cứu cánh hay thực tại hiện hữu, thực tại vĩnh hằng nào cả! Phật muốn chúng sanh tự chiêm nghiệm, tự chứng lấy cái diệu dụng hiện tiền của Bát nhã Ba la mật. Và một khi thành tựu Bát Nhã hay Nhất thiết trí trí thì diệu dụng tự nhiên phát ra như hoa nở từ cây, nước rỉ ra từ lòng đất!

 

13- Vì vậy, ba quyển 598, 599 và 600 cuối cùng trước khi chấm dứt pháp Hội thứ XVI hay chấm dứt thuyết giảng Đại Bát Nhã Ba La Mật này, Phật chọn các pháp môn giản dị, thiết thực, dễ hiểu nhất giảng dạy cho tất cả chúng sanh, bất cứ căn cơ trình độ nào cũng đều có thể lãnh hội được. Đây là bố cục mà chúng tôi cho là kỳ diệu của ĐBN. Không phải thuyết các pháp môn cao thâm mà cho là kỳ diệu, trái lại lối diễn đạt giản dị, dễ hiểu lại là lối thuyết giảng độc đáo khó diễn đạt nhất! Ba quyển Kinh cuối cùng chứng minh được điều này:

 

1/. Chấp tâm và tâm sở:

 

Sống làm sao tránh khỏi tội lỗi, làm sao không phạm sai lầm. Một khi “tay đã nhúng chàm” rồi mới than trời trách đất. Biết nghĩ thì trách mình, ngu si thì trách người. Bởi chấp đắm tâm tức là ngã, tâm là ngã sở, tâm nương nơi ngã, tâm từ ngã sanh. Hay nói nôm na tâm là “ta”; ngã sở là “cái của ta”. Đó là thế giới nội và ngoại, thế giới của uẩn xứ giới, môi trường hoạt dụng của ngã và pháp, của người và vật hay nói theo chuyên môn là của nhân sanh và vũ trụ.

Căn nguyên của tất cả biến động đổi dời bắt đầu từ đấy, cái làm cho thân tâm vui buồn, sướng khổ hay là điên đảo! Nên Kinh nói “Nếu có thể thông đạt tâm và tâm sở đều vô sở hữu thì chẳng điên đảo. Chẳng phải bản tánh của tâm có sanh, có khởi, có tận, có diệt... tương quan với điên đảo mà bảo rằng tâm, tâm sở có sanh, có khởi, có tận, có diệt”. (Q. 598, phần “Bát nhã Ba la mật”)

Tâm vốn vắng lặng trong sáng, vì phan duyên nghĩ tưởng bắt nắm như người khuấy bùn tự nhiên nước trong biến thành đục rồi lăng xăng tìm cách lóng. Một khi nước đổi thành đục thì liền theo đó một chuỗi dài sanh diệt trôi lăn, hết gạn rồi lóng, hết lóng rồi gạn, tự mình làm rối mình là vậy.

 

2/. Không phân biệt, không phân biệt khác.

 

Tất cả nghĩ tưởng bắt nguồn từ thấy biết đối với cảnh sở duyên. Đây là một phần trong toàn bộ quan điểm của giáo lý Bát Nhã đối với uẩn xứ giới và tất cả pháp hay nói là một phần trong toàn bộ quan điểm về nhân sinh và vũ trụ quan. Bát Nhã được tóm tắt ở đây cũng như đã từng thuyết giảng trong nhiều pháp hội khác. Ý chính ở đây là quy trách ở cái thấy biết. Thấy biết thật ra chẳng có lỗi gì. Qua một tầng nữa do thấy biết mà sanh phân biệt, phân biệt cũng không đáng trách. Lên một tầng nữa do phân biệt mới sanh chấp. Đầu dây mối nhợ là nằm ở chỗ này. Tất cả pháp là không thể phân biệt, không biệt khác. Có phân biệt là có chấp đắm, có chấp đắm là có dính mắc, có trói buộc, có nương tựa, có động chuyển, có hợp có lìa. Có hợp có lìa là có được có mất. Có được có mất là có sầu, than, khổ, ưu, não.

Biết cái gốc “hoặc nghiệp” đã trừ, thì cái ngọn ngành tức nhiên phải khô mục. Nhân đã không còn thì quả cũng tự mất. Bệnh này lúc nào cũng hiện diện ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý... của chúng sanh. Dễ thấy dễ biết nên dễ phạm, phạm là phạm ở cái phân biệt chấp đắm. Đó là thấy biết mê! Thấy mà biết quay lại quán chiếu tự tâm thì thấy tánh, tức ngộ. Nên nói quay đầu lại là thấy bến bờ!

 

3/. Tất cả pháp không hợp không lìa:

 

“Vì tất cả các pháp không hợp, không lìa. Chẳng phải tất cả pháp vì hợp hay lìa mà hiện tiền. Hợp nghĩa là thường, mà lìa nghĩa là đoạn. Bản tánh của các pháp không do quán sát giác biết mà có hợp, có lìa.

Nếu tánh các pháp vì hợp vì lìa mà hiện tiền, thời các pháp ấy có thể đắc, có kẻ tác kẻ khiến tác, kẻ khởi kẻ khiến khởi, kẻ thọ kẻ khiến thọ, kẻ biết kẻ khiến biết, kẻ thấy kẻ khiến thấy, kẻ hợp kẻ khiến hợp, kẻ lìa kẻ khiến lìa. Như Lai cũng lẽ thi thiết các pháp: Đây là kẻ tác kẻ khiến tác, cho đến kẻ lìa kẻ khiến lìa. Nếu như vậy thì Như Lai cũng có thể thiết lập ra các pháp, đây là kẻ tác kẻ khiến tác, cho đến kẻ lìa, kẻ khiến lìa.

Do tánh các pháp không vì hợp, lìa mà hiện tiền, nên các pháp không có kẻ tác kẻ khiến tác, cho đến kẻ lìa kẻ khiến lìa, chút phần khá được. Vì chẳng thể được nên Phật chẳng thi thiết.

Vả lại, nếu chỗ có hợp, chỗ ấy có lìa. Nếu ở trong hợp mà không đắc, không nương tựa và không khởi chấp trước thì không thấy lìa. Nếu ở trong lìa mà có đắc, có nương tựa và khởi chấp trước thì đó là có hợp, nên khổ đau sanh tử chưa thể giải thoát. Các Bồ tát ấy quán sát thật nghĩa này, nên đối với pháp tánh chẳng hợp, chẳng lìa; cũng không vì pháp hoặc hợp hoặc lìa mà có sở tác hoặc có tu học. Nhờ biết rõ về hợp, lìa mà các Bồ tát tu hành Bát nhã Ba la mật mau viên mãn”. (Q.599, phần “Bát nhã Ba la mật”)

Các pháp trơ lì ra đó nên nói các pháp là trì độn ngu si. Các pháp không tự biết các pháp, các pháp cũng không biết các pháp khác chung quanh nó, các pháp không sanh pháp... Thấy trơ lì, thấy đẹp xấu, dài ngắn, vuông tròn... là ở con người. Do nhận thức đó mà có buông bỏ, nắm bắt... Đẹp thì muốn gần gũi thân cận, xấu thì đuổi xô xa lánh, nên nói có hợp có lìa. Pháp tự nó không có hợp có lìa!

Phẩm “Nghiêm Tịnh Cõi Phật”. Phật bảo: “Các pháp bản lai tịch tịnh, tự tánh Niết bàn”.

 

4/. Không sở duyên, không sở trụ thì không sở hành:

 

Vì biết cái hại của sở duyên nên tránh được chỗ nương chấp, vì không chỗ nương chấp nên hoàn toàn không có sở hành, cũng không có chứa giữ, cất giấu. Vì không có chứa giữ cất giấu nên không bị trói buộc, không bị trói buộc, nên cũng không cần lìa trói buộc. Do đó, mà không có phát khởi và cũng không theo phát khởi. Biết cáí hại ấy chính là tu hành Bát nhã Ba la mật.

“Các Bồ tát tu hành Bát nhã Ba la mật, chẳng hành uẩn xứ giới đắm không đắm; cũng chẳng hành uẩn xứ giới thanh tịnh không thanh tịnh; chẳng hành sở duyên hợp hay lìa. Vì tất cả đều có dời chuyển, nương chấp, dao động, hoặc hành hoặc quán, Bồ tát biết rõ tất cả như vậy, nên ở trong đó không hành, không quán nữa.

Các Bồ tát tu hành Bát nhã Ba la mật, chẳng hành uẩn xứ giới quá khứ vị lai hiện tại đắm không đắm; chẳng hành uẩn xứ giới quá khứ vị lai hiện tại thanh tịnh không thanh tịnh; chẳng hành uẩn xứ giới quá khứ vị lai hiện tại sở duyên hợp hay lìa. Vì sao chẳng hành? Vì các Bồ tát này hành Bát nhã Ba la mật đều chẳng thấy pháp hành, chẳng hành. Các Bồ tát ấy đều không có sở hành nên có thể ngộ nhập biết rõ các hành mà tu hành Bát nhã Ba la mật. Nếu các Bồ tát năng hành như thế, mau được viên mãn pháp Nhất thiết trí”. (Q.600, phần “Bát nhã Ba la mật”)

Không sở duyên, không sở trụ thì không sở hành. Không sở hành nên có thể ngộ nhập biết rõ các hành mà tu hành Bát nhã Ba la mật. Nếu các Bồ tát năng hành như thế, mau viên mãn Nhất thiết trí trí. Ai cũng có thể thấy biết như vậy. Thấy biết như vậy mà vẫn co chân nhảy vào bóng tối. Đó là hành trong điên đảo nên phải chịu nhiều đau khổ, trôi lăn không lúc nào yên.

Tôn chỉ tu hành rốt ráo “chẳng hành, chẳng thấy hành hay chẳng hành” thì có thể tháo gỡ mọi trói buộc mà được giải thoát, giải thoát hai chướng mà chứng trí.

 

5/. Không năng duyên sở duyên, lìa ái nhiễm thì được thanh tịnh.

 

Không duyên vào 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới; không duyên vào danh sắc; không duyên vào tạp nhiễm; không duyên vào điên đảo, tà kiến, triền cái, ái hành; không duyên vào tham, sân, si; không duyên vào ngã, hữu tình v.v…; không duyên vào đoạn, thường; không duyên vào biên vô biên; không duyên vào cõi Dục, Sắc, Vô sắc; không duyên vào duyên khởi v.v... Tất cả pháp chẳng có năng duyên, sở duyên. Năng là ở con người, sở là ở vật. Vì có thấy biết năng sở đối đãi, nên có động chuyển, nên sanh tâm.

Nếu không thấy sở duyên thì không bị trói, không bị trói thì cũng không cần tháo gỡ. Nếu có sở duyên tức là có nương chấp, động chuyển và hý luận. Nếu có sở duyên tức là có đấu tranh, kiện tụng. Nếu có sở duyên tức là có vô minh, si ám. Nếu có sở duyên tức là có sợ hãi. Nếu có sở duyên tức là có khổ bức bách rồi tìm cầu an lạc. Nếu không có sở duyên như vậy thì đối với cảnh giới nhất định được tự tại.

Nếu có thể hành như vậy, thì không bị phan duyên, không chấp trước các pháp, nên có thể an trụ tất cả pháp mà không bị nhiễm. Nếu đối với khắp cảnh giới và pháp sở duyên đều không bị trói thì coi như tu hành Bát nhã Ba la mật chóng được viên mãn. (Q.599, phần “Bát nhã Ba la mật”)

Đây là kinh nghiệm thực tiễn. Chặt đứt năng duyên, sở duyên thì không còn tham ái, nên phá được ma chướng của cuộc sống, ma chướng trên đường học đạo, ma chướng của giác ngộ, ma chướng của Niết bàn. Đó là phiền não chướng và sở tri chướng. Biết được như thế là chứng trí.

 

6/. Vì các pháp không có tự tánh, lấy vô tánh làm tự tánh, nên không tu cũng không khiển tu:

 

“Không có chút pháp tánh được coi là thực tại cứu cánh, tất cả pháp đều thế tục giả lập, chẳng phải trong ấy có chút tự tánh. Vì không tự tánh nên đều chẳng thật có. Các pháp đều lập vô tánh làm tánh, vậy nên các pháp không thật không sanh. Vì sao? Vì các pháp điên đảo đều chẳng thật có, các pháp đều từ điên đảo mà khởi. Các điên đảo ấy đều không thật tánh. Vì sao? Vì tất cả pháp đều lìa tự tánh, tìm cầu tự tánh trọn chẳng thể được, vậy nên đều lấy vô tánh làm tánh.

Vô tánh ấy không thật không sanh, nên gọi vô tánh. Đây thời chỉ rõ tánh chẳng phải thật có, nên gọi vô tánh. Nếu tánh chẳng có thời chẳng thể tu, cũng chẳng thể khiển, điên đảo sở khởi chẳng phải thật có, nên chẳng thể tu cũng chẳng thể khiển. Vì sao? Vì tất cả pháp lấy vô tánh làm tánh, xa lìa tự tánh nên chẳng phải thật vật. Vì chẳng thật vật nên không tu không khiển.

Nếu các đại Bồ Tát đối trong các pháp trụ kiến như thật, tu hành Bát nhã Ba la mật, đối tất cả pháp không tu không khiển, đó gọi tu Bát nhã Ba la mật. Nếu các Bồ tát năng hành như thế, năng trụ như thế tu hành Bát nhã Ba la mật mau được viên mãn”. (Q.598, phần “Bát nhã Ba la mật”).

Điên đảo, thanh tịnh, triền cái ái hành, đau khổ yên vui, phiền não Niết bàn... tất cả đều không có tự tánh. Nếu không có tự tánh, thì không phải là thật vật. Vì không phải thật vật nên không cần tu, không cần khiển.

Kinh nói: “Vì không có sự đoạn trừ nên mới hiển bày ý niệm về khổ đoạn. Nghĩa là trong đó không có một chút khổ nào để đoạn trừ nên gọi là khổ đoạn. Nếu khổ tự tánh có chút chơn thật thì mới có thể đoạn trừ, nhưng tự tánh khổ không chút chơn thật nên không có chỗ để đoạn trừ, chỉ thấy khổ không có nữa nên gọi khổ đoạn. Nghĩa là biết khắp khổ trọn không tự tánh chút phần khá được nên gọi khổ đoạn. Nếu mọi người đối với khổ mà hoàn toàn không phân biệt và phân biệt khác thì gọi là khổ tịch tĩnh, tức là làm cho khổ không còn có ý nghĩa phát sanh nữa”. (Q.599, phần “Bát nhã Ba la mật”).

Không có gì để đoạn trừ nên mới hiển bày ý niệm về khổ đoạn. Nếu khổ tự tánh có chút chơn thật thì mới có thể đoạn trừ, nhưng tự tánh khổ không chút chơn thật nên không có chỗ để đoạn trừ, chỉ thấy khổ không có tự tánh nên gọi khổ đoạn. Mấu chốt là thấy hay không thấy “khổ không có chút chân thật hay không?”

Đó là pháp dễ hiểu. Nhưng làm sao không thấy khổ? Đời đầy trăm cay nghìn đắng, nào tứ khổ, nào bát khổ. Ai cũng thấy biết như vậy. Tu hành mới khó và còn khó hơn nữa là đừng thấy đừng biết. Không thấy biết thì không phải tu phải khiển. Không ai có thể bịt tai, bịt mắt mà có thể sống. Điều đó có nghĩa thấy biết vẫn thấy biết nhưng phải đóng cửa các giác quan đừng để nó rong ruổi mà sanh động niệm. Đó là điều hết sức khó khăn. Chỉ có người tu luyện đạt được diệt tận định thì mới có thể thực hiện giải pháp này. Nhưng làm sao tu nổi diệt tận định. Vậy thì phải phủi hết, phóng xả hết thì mới có hy vọng.

 

7/. Rốt ráo không phải học:

 

 Không chỗ phan duyên thì không có tàng chứa cất giữ, không chỗ tàng chứa cất giữ thì không có chỗ bám, không chỗ bám thì không chỗ hành. Một chu kỳ sanh diệt bất tận. Biết như vậy thì ngoài không phan duyên, trong không chỗ bám, trong ngoài rỗng không trong suốt, phá vỡ được chu kỳ sanh diệt, thì được an nhiên tịch lặng. Bởi chấp đắm tâm tức tâm là ngã, là ngã sở. Tâm nương nơi ngã, tâm từ ngã ái sanh. Tâm vốn không bỗng phát vô minh điên đảo, rồi sanh ra lo âu phiền muộn mới tìm cách tháo gỡ. Suốt đời loanh quanh hết buộc rồi gỡ, tự mình làm rối mình! Phật đã bẻ gãy, đập vỡ tan tành chuỗi dây nhân duyên mà được tự tại.

Vậy, đừng chấp tâm, chấp pháp. Vì sao? Vì các pháp không có tự tánh, lấy vô tánh làm tự tánh. Nên đối với tất cả pháp không thủ, không chấp, không trụ, không trước. Rốt ráo, không cần học, không cần tu, cũng không khiển tu nữa.

Khi các Bồ tát quán biết các pháp như thế là không phải học. Không học uẩn xứ giới sanh hay diệt; không vì nhiếp phục hay không nhiếp phục uẩn xứ giới mà học, không vì uẩn xứ giới nhiếp phục hay dời chuyển mà học; không vì uẩn xứ giới hướng vào hay an trụ mà học. Một khi đối với tất cả pháp không thủ, không chấp, không trụ, không trước, không tham ái... thì cần học, cần tu, cần khiển cái gì?

Nói thì quá dễ nhưng thực hành đến chỗ đó mới siêu xuất! Làm sao không học mà thành đạo Bồ đề? Phật nói không biết bao nhiêu giáo pháp, bao nhiêu pháp môn mà rốt lại tuyên bố “đối với tất cả pháp không thủ, không chấp, không trụ, không trước thì không cần học, không cần tu nữa!” Nói như thế nhưng không phải thế. Nói “không phân biệt, không chấp, không thủ, không trụ, thì không hành...” Đó chính là học, là hành Bát Nhã.

Giáo pháp dễ hiểu, ai cũng có thể hiểu, nhưng không phải dễ học, dễ hành! Hiểu như vậy, biết như vậy, rồi ngày ngày tập luyện, quán tưởng đến một lúc nào đó thì Bát Nhã sẽ là máu mủ, là tự thể của chính ông. Những gì ông nghĩ tưởng nói ra đều là Bát Nhã. Tự ông biểu lộ cái diệu dụng của nó. Bấy giờ, ông không còn là tên ăn mày chân lý nữa. Ông đã có chìa khóa để mở kho tàng trí tuệ rồi. Ông là ông chủ của Tam thiên đại thiên này với muôn vàn thần thông trí tuệ. Muốn chứng minh sự thật đó không? Nếu muốn thì chính ông phải thành đạt những gì mà Bát nhã Ba la mật đã thuyết.

 

Kết luận:

 

Đấy là 13 điểm chính đã thuyết giảng của phần thứ III Tổng luận này. Bao nhiêu điểm tóm lược trên dĩ nhiên không thể gói ghém tất cả những gì mà Đại Bát Nhã muốn truyền đạt. Tuy nhiên, nói ít thì thiếu, nói nhiều thì thừa, người học đạo đôi khi ngộ chỉ cần một động tác, một cử chỉ, một lời nói, một cái tát, hay ăn 30 gậy... cũng có thể tỏ ngộ! Nhưng ngộ đó chỉ là đốn ngộ, cái ngộ từng phần. Phật là tiệm ngộ, ngộ toàn triệt nên phải mất ba A tăng kỳ kiếp, học vô lượng, vô số, vô biên pháp môn!

Tóm lại, toàn thể giáo pháp Đại Bát Nhã Ba La Mật nói một cách giản dị là cố thay đổi quan điểm sống của chúng ta. Quan điểm đó có thể nói là cái thấy, cái biết, chỗ đứng hay nói khác là vị trí sống của chúng ta. Quan trọng là chúng ta có chấp nhận thay đổi vị trí này hay không? Nếu không chấp nhận thì bờ mê vẫn là bờ mê, bến giác vẫn là bến giác, ngàn năm mơ mộng chỉ là mây khói hão huyền. Nếu chấp nhận, thì phải học Bát nhã Ba la mật. Đó là con đường hướng thượng duy nhất đưa đến vị trí mới, cảnh giới mới hoàn toàn khác biệt với cảnh giới đọa đày hôm nay! Nhưng cảnh giới mới đó là cảnh giới nào vậy? Cũng không gian đó, cũng thời gian đó, cũng trăng nước đó, chỉ khác là khác ở tâm niệm, nghìn xưa, nghìn sau trăng nước vẫn còn trơ trơ!

 

 

---o0o---

 

 

TỔNG LUẬN TOÀN BỘ.

 

 

Mười 13 điểm nói trên chỉ là đại cương những gì mà chúng tôi thấy biết từ Đại Bát Nhã Ba La Mật. Chắc chắn ở một trình độ cao minh hơn sẽ cho Quý vị một cái nhìn rộng lớn sáng sủa hơn. Ở đây, phần lớn chúng tôi cố gắng khám phá các biểu thị cũng như pháp nghĩa hiển hiện của Bát nhã Ba la mật. Tuy nhiên, 13 điểm nói trên không thể gói ghém hết tất cả các giáo nghĩa của toàn thể Đại tùng thư này. Vì vậy, mới có phần “nói thêm”. Nhưng đây cũng chỉ là phần ôn lại, giải thích thêm, không có gì mới mẻ:

 

1- Đại Bát Nhã Ba La Mật được xem như là một Đại tùng thư bao gồm tất cả pháp Phật từ Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Bồ tát thừa cho đến nhất Phật thừa, gọi chung là tất cả pháp mầu Phật đạo, các thiện pháp, các pháp hi hữu, tư lương Bồ đề Bồ tát, Bồ tát đạo hay còn gọi là 81 khoa danh tướng Bát Nhã. Đó là: “Năm uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu duyên sở sinh, bốn duyên, sáu đại, mười hai nhân duyên, sáu độ (lục độ Ba la mật), ngã giả, sinh giả, thọ giả, mệnh giả, hữu tình giả, dưỡng dục giả, chúng số giả, tác giả, sử tác giả, khởi giả, sử khởi giả, thọ giả, sử thọ giả, kiến giả, tri giả, 18 pháp không, Tứ đế, chân như, pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dịch tánh, bình đẳng tánh, ly sinh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghị giới, bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, bốn niệm xứ, bốn chính cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, thất giác chi, Bát chánh đạo, không giải thoát môn, vô tướng giải thoát môn, vô nguyện giải thoát môn, Bồ tát thập địa, năm nhãn, sáu thông, mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả, mười tám pháp bất cộng, pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí, Đà la ni môn, Tam ma địa môn, Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất hoàn quả, A la hán quả, Độc giác Bồ đề, Bồ tát hạnh, quả vị Giác ngộ Tối cao”.

Tất cả các pháp môn Phật học này còn gọi là các pháp thực tu thực chứng, nên phẩm “Khéo Học”, quyển 333 , Hội thứ I, Phật bảo: “Này Thiện Hiện! Nên biết, 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, tứ vô sở úy, đại từ, đại bi v.v…đối với các chúng đại Bồ tát là thầy, là hướng đạo, là ánh sáng, là đuốc, là đèn, là hiểu, là biết, là trí, là tuệ, là cứu, là hộ, là thất, là nhà, là bờ, là bến, là về, là đến, là cha, là mẹ. Nói tóm lại, tất cả Phật pháp đối với các đại Bồ tát là thầy, là hướng đạo... là đến, là cha, là mẹ”.

Không có Bộ kinh nào trong kinh điển Phật học liệt kê đầy đủ các pháp môn Phật học như Kinh Đại Bát Nhã, nên Kinh này mới được gọi là mẹ của chư Phật, sanh ra chư Phật, sanh ra các pháp thế gian và xuất thế gian. Nhưng trọng tâm của Kinh này không phải là nói riêng về các pháp mầu Phật đạo mà nói về trí Bát Nhã như Kinh Pháp Hoa nói về tri kiến Phật. Nên Phẩm “Chuyển Sanh”, quyển 07, Hội thứ I, ĐBN. Nói: “Nếu hỏi thẳng: Pháp nào có thể gồm thâu tất cả thiện pháp, thì nên đáp ngay rằng: Đó là Bát nhã Ba la mật sâu xa”.

Đó cũng là trọng điểm cần lưu ý độc giả. Nên bất cứ pháp hội nào Phật cũng khuyên học Bát nhã Ba la mật nếu muốn Giác ngộ, đạt Chánh giác hay Nhất thiết trí trí. Không có Bát Nhã không có Bồ tát, không có Phật, không có tất cả pháp thế gian hay xuất thế gian. Vì vậy, Bác Nhã mới được xem là nguyên tắc chỉ đạo của Tánh Không xuất sanh các biện tài vô ngại và các công đức không thể nghĩ bàn.

 

2- Theo Phật sử, trong nhiều đời kiếp, Phật cũng tu pháp môn này, nên thừa hiểu Bát nhã Ba la mật là gì và cũng thừa hiểu tánh cách hữu ích của nó đối với vấn đề nhân sinh trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần ra sao? Đó là lý do tại sao Phật phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp gian khổ tầm cầu, tu học để cuối cùng được giác ngộ. Nhưng ngộ không phải là độc quyền của Phật, mà ngộ là phần thưởng của Phật dành cho tất cả chúng sanh kể từ khi Phật giác ngộ. Vì vậy, khi ngộ rồi Phật thấy rằng chúng sanh đang lặn ngụp trong bể sanh tử, để cứu rỗi chúng sanh Phật thuyết Đại Bát Nhã Ba La Mật, cái gọi là dạy bảo trao truyền Bát nhã Ba la mật hay nói khác là Phật trao truyền đuốc tuệ này cho thế hệ mai sau.

Nhưng Bát nhã Ba la mật như chúng ta đã biết, không phải là pháp dễ học, dễ tu, dễ chứng. Những gì Phật hiểu và chứng khác hẳn những gì chúng sanh hiểu và sống. Phật hiểu và chứng cái gọi là đệ nhất nghĩa đế (Thánh đế), chúng sanh hiểu và sống là theo công ước và các tập tục thế gian (Tục đế). Cả hai thế giới này nghịch chiều, đối chọi lẫn nhau. Nên đôi khi chúng ta đọc ĐBN tưởng chừng như Kinh tự mâu thuẫn. Phật thấu suốt cả hai thế giới này. Nhưng Phật không trụ mà vượt qua và vượt trên cả hai, nên mới có thể chỉ cho chúng sanh thấy những thuận nghịch của chúng. Phật vượt qua và vượt trên cả hai thế giới vô sinh - vô diệt, vô nhiễm - vô tịnh, vô tướng - vô vi… trên mọi đối tác trần gian là do thâm nhập do được Bát Nhã. Nên Bát Nhã mới được suy tôn và qui hướng hơn bao giờ hết.

 

3- Tại sao Phật làm được như vậy? Vì Phật biết rõ thế giới của chúng sanh là thế giới của phiền não. Phiền não bao giờ, ở đâu cũng đưa đến mất mát, đổ vỡ làm chướng ngại đạo Bồ đề. Đoạn phiền não thì tâm thể sẽ rỗng không, sẽ được như như, bình đẳng, thanh tịnh. Đó là cái cần nói cần nhấn mạnh trong việc tu hành. Khi tâm thể thấy rỗng không, như như, bình đẳng thì được thanh tịnh, cái gọi là tịch lặng an nhiên, mục đích rốt ráo của việc tu hành để phát sanh trí tuệ. Vì vậy, những từ không, như như, bình đẳng, thanh tịnh này mới được xem như là các đại luân tự, các pháp ấn của Như Lai. Vì chúng là thân ấn, ngữ ấn, tâm ấn và trí ấn của chư Như Lai. Đó chính là giải thoát, là Niết bàn, là sát na hiện tại vĩnh hằng của cảnh giới này, không có cảnh giới nào khác. Đây cũng là lần lưu ý thứ hai. Những từ không, như như, bình đẳng hay thanh tịnh này biến thành pháp mầu của tất cả chúng sanh trong việc thọ trì Bát nhã Ba la mật. Ai đạt được pháp ấn này thì không cần cõng Phật đi tìm Phật, không cần hành cước vạn dặm, không cần Thầy Tổ ấn tâm.

 

4- Thế giới của chúng sanh là thế giới của chia chẻ phân hóa, thế giới so đo, phân biệt đối trị... Nó là biểu tượng do thức vọng gây ra. Từ đó, sanh ra đủ thứ sai lầm, từ xung đột (conflit), mâu thuẫn (contradiction) cho đến điên đảo, thiên chấp. Có lẽ chúng tôi không đủ già dặn để nói hết những thứ phức tạp này. Đứng về phương diện chiết tự thì xung đột và mâu thuẫn ý nghĩa gần như nhau. Kinh nghiệm cho biết rằng xung đột có nghĩa quyết liệt, mạnh bạo hơn nếu nó đi liền với bạo hành. Bởi vì, bạo hành lúc nào ở đâu cũng gây tang tóc, đau thương.

Còn mâu thuẫn thì sao? Làm sao sống mà không có mâu thuẫn. Mâu thuẫn là điều tất yếu xảy ra không nhiều thì ít trong cuộc sống luôn luôn va chạm, nứt rạn này. Nhưng mâu thuẫn không đến nỗi tệ. Mâu thuẫn giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và mới, giữa cái trì trệ lạc hậu với phát triển đổi mới. Đó là điều dĩ nhiên. Nhưng nó lại là một thứ cách mạng, một thứ đổi thể, lột xác cần thiết trong sự thăng tiến đối với bất cứ xã hội, bất cứ thời đại nào. Riêng, thiên chấp thì quá tệ, nó là nguồn gốc của đổ vỡ, mất mát trong thế giới nhị nguyên đối đãi, thế giới của hữu hay vô, của tốt xấu, uế tịnh, v.v...

Tất cả đời sống của chúng ta bắt nguồn từ những nhận thức rối rắm này. Nó là gốc rễ của những thực tại đau thương. Ngày nào còn bị lôi cuốn trong hấp lực của nó thì ngày ấy chúng sanh không thể thoát khỏi những bạo hành của nó. Phải vượt qua và vượt trên thế phân hai mới thấy được thật tướng các pháp, mới đạt được Thánh đạo. Biết như vậy, nên trên con đường thức tỉnh giác quan nội tại để đạt chánh giác, phải vượt qua và vượt trên thế đảo nghịch của cuộc đời thường, nhận thức mới được nâng lên một tầng cao hơn gọi là huệ, huệ đến từ bờ kia.

 

5- Bát Nhã là không, không trụ ở cao thấp, phải trái, chân tục, Thánh phàm, có không v.v... Bát Nhã không trụ bất cứ chỗ nào. Bát Nhã chỉ muốn chỉ rõ cho chúng sanh thấy vạn hữu là đa thù như thế nào để chúng sanh tự chọn lấy lối sống, cách sống cho phù hợp với sinh hoạt tâm linh. Bát Nhã quá nhiều lần phát biểu không có bờ này, không có bờ kia, cũng không có giữa. Có giữa cũng gọi là có biên, có biên là có nghiêng chấp thì tâm không còn tự do trong tư tưởng hay hành động. Trụ vô sở trụ là chỗ trụ của Bát Nhã. Đó là điểm cần yếu cần nhấn mạnh thứ ba mà Bát Nhã luôn luôn lưu ý hành giả Bát Nhã trong việc luyện tâm, luyện trí. Có trụ là có nương chấp, có mong cầu dù là mong cầu pháp tối cao mang lại nhiều công đức nhất.

 

6- Tất cả pháp là không (nhất thiết pháp không), đó là chỗ “tự hội” của Phật, cái tự hội này đã gây nhiều phản ứng không những đối với những người ngoài đạo Phật mà cả trong đạo Phật nữa. Chúng tôi không biết dùng từ gì để diễn tả cái tự hội này. Nhưng Kinh nói “các pháp tự không chứ không phải là không có mà gọi là không”. Đừng xem cái Không này như một thứ hư vô hóa toàn triệt. Các pháp hiện hữu giữa lòng chân tánh của vạn hữu, ai cũng thấy cũng xúc chạm được nhưng tại sao lại bảo là không? Dĩ nhiên, không ai có thể chấp nhận điều này một cách dễ dàng dù lời nói này phát ra từ kim khẩu của Phật. Để giải thích, phẩm “Bồ Tát Pháp Dũng”, quyển 399, Hội thứ I, ĐBN. Phật lấy thí dụ:

“Thí như cây đàn không hầu nương vào các loại nhân duyên hòa hợp mà có tiếng sanh, nhân duyên của tiếng ấy là cái cần, cái ống, khe hở, cái trục, sợi dây v.v... tác ý của nhạc công. Như vậy, từng yếu tố một chẳng có thể sanh tiếng, khi hòa hợp tất cả yếu tố lại, tiếng nó mới phát; tiếng ấy phát sanh không từ đâu đến, khi diệt không đi về đâu”.

Ở đây Phật giải thích tất cả pháp là do nhân duyên hòa hợp (còn gọi là duyên khởi(1) hay duyên sanh) giống như cây đàn không hầu không riêng cái cần, cái ống, cái trục, sợi dây hay tác ý của nhạc công... mà có tiếng. Tất cả các thứ ấy hợp lại mới có tiếng phát ra. Cũng vậy, tất cả các pháp không tự sanh, phải có các yếu tố chính cùng các yếu tố phụ hợp lại mới sanh. Như cây lúa là do hạt lúa (nhân chính=tự) nhờ có đất nước, hơi ấm mặt trời, phân bón, sự chăn sóc (nhân phụ=tha)... mới tạo thành cây lúa. Tất cả các yếu tố hợp lại (tự và tha) mới có cây lúa. Nên nói lúa có được là do nhân duyên hòa hợp mà có, nếu không có nhân duyên hòa hợp là không, còn gọi là Tánh không hay Bản tánh không. Mọi vật đều như vậy, mọi hiện hữu đều như vậy.

Để giải thích thêm cái Không này, Ngài Long Thọ bảo tất cả pháp hiện hữu không ở ngoài nhân duyên, cũng không ở trong nhân duyên riêng có, nên bảo tất cả đều không có tự tánh. Vì không có tự tánh nên bảo là Không. Đó là những biểu thị của “Duyên khởi” qua cái nhìn của Trung quán để giải thích tại sao Bát Nhã bảo tất cả pháp đều không, một giáo lý làm đảo nghịch trào lưu tư tưởng vô tiền khoáng hậu này.

Vì vậy, TT Thích Tâm Thiện trong phần trình bày thiên khảo luận về “Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh không”, phát biểu:

“Chúng ta biết rằng, Duyên khởi (Paticcasamuppàda) là giáo lý vô cùng quan trọng, có một không hai trong lịch sử tôn giáo và triết Đông-Tây. Đây cũng là giáo lý thống nhất được ghi lại trong hệ thống Kinh tạng Nam truyền và Bắc truyền. Như Phật nói: Ngài và các Đức Phật thời quá khứ đều chứng đắc giác ngộ từ giáo lý Duyên khởi. Từ đó, cho thấy tính cách quan trọng của giáo lý này. Ở đây, nếu muốn hiểu một phần nào đó về TÁNH KHÔNG, thì trước hết phải nghiên cứu về Duyên khởi, vì nó là con đường "độc nhất vô nhị" dẫn đến tri nhận thực tại Tánh Không. Duyên khởi và Tánh Không là hai mặt của một thực tại, dầu nó được giải minh trên bất kỳ bình diện nào, công ước hay tuyệt đối, tục đế hay chân đế. Duyên khởi, trên mặt hiển thị, là hiện tượng của Tánh Không; và Tánh Không, trên cái nhìn tuyệt đối, là bản chất của Duyên khởi. Đây là một loại hệ luận, mà nói theo ngôn ngữ của Hoa Nghiêm là “tương tức”, “tương nhập” - cùng sinh khởi và cùng hiện hữu”.

Duyên khởi trở thành quan trọng trong việc giải thích nhất thiết pháp không, nên được trình bày ở đây để chúng ta hiểu biết thêm về vai trò của triết thuyết Tánh không trong sinh hoạt tâm linh của chúng ta. Đó cũng là triết thuyết không tiền khoáng hậu, thay đổi bộ mặt Phật giáo đã một thời ngự trị một cách êm thắm trên dòng tư tưởng cổ đại của Ấn độ khi xưa! Tánh Không ở đây có thể xem như một sự xả chấp, buông bỏ chẳng khác.

 

7- Muốn tránh mất mát trong cái nhìn ngây ngô trên muôn sự muôn vật, Phật bảo phải quán các pháp là danh giả, không thật, các pháp là không, như huyễn như mộng, như tiếng vang, như hòn bọt nổi, như trăng đáy nước, như hoa đốm giữa hư không, như thành bằng hương khói. Hơn nữa, các pháp vốn trì độn, vô tri; nó như vậy là như vậy, như đó thường tại, chẳng lúc nào chẳng như. Nếu thấy biết tất cả pháp như vậy, thì tâm như như, bình đẳng, nên nói là thanh tịnh. Chỉ cần ngộ nhập bất cứ pháp nào trong thập dụ nói trên đều được thanh tịnh. Đây là điểm lưu ý khác mà Kinh thường lặp đi lặp lại nhiều lần.

Tu 84.000 pháp môn không ngoài mục đích là đạt tịnh. Vì vậy, đạo Phật mới được gọi là Thanh-tịnh-đạo. Muốn thế thì phải quán các pháp như huyễn như mộng, quán các các pháp là không, các pháp trì độn, như hòn bọt nổi, như thành bằng hướng khói v.v...

 

8- Ai cũng hiểu: Thấy và biết là những quan năng lúc nào cũng song hành. Nhưng đây không phải là những kẻ đồng hành "êm thắm", có chức năng như nhau. Máy ảnh và tấm ảnh là cái thấy. Người chụp ảnh và người xem ảnh là cái biết. Máy ảnh và tấm ảnh là vô tri, vô thức, nó chỉ ghi lại “nguyên trạng” cảnh giới không thêm không bớt. Nhưng người chụp ảnh và người xem ảnh lại sanh ra vui buồn tức có cảm thọ, ý thức dính vào đó.

Cũng vậy, uẩn xứ giới vừa là máy ảnh, vừa là tấm ảnh, vừa là nhiếp ảnh gia, cũng vừa là người xem. Tất cả mấu chốt của cuộc sống đều tùy thuộc vào những tương quan giữa các thành phần này hay nói khác là tương quan giữa thấy, nghe, hiểu biết của con người (Tâm) và vạn hữu (Vật) bao quanh nó. Không riêng về Đại Bát Nhã Ba La Mật, đạo Phật nói chung xây dựng cơ đồ không ngoài các quan hệ này: Tâm và vật, con người và vạn hữu hay nói khác giữa nhân sinh và vũ trụ, từ đó nẩy sanh các quan điểm khác nhau về cuộc sống. Quan điểm cuối cùng được coi là chân lý, đó chính là chân như quan Bát Nhã. Chân như quan đó là gì? Nói một cách giản dị và ngắn gọn là Cái chân tướng như thực (yatha bhutam, “the reality as it is”) cùng khắp của tất cả pháp, cũng gọi là chân như, pháp giới, pháp tánh v.v...  gọi chung là thập nhị như, thập nhị không: 1. Chân như có nghĩa chân thực, thường như. Thể tánh của các pháp chân thực thường như. 2. Pháp giới: Giới nghĩa là chỗ nương. Chân như là chỗ nương của các pháp. 3. Pháp tánh: Tức là thể tánh của các pháp. 4. Bất hư vọng tánh: Pháp tánh chân thực, xa lìa hư vọng. 5. Bất biến dị tánh: Tức pháp thể không biến đổi. 6. Bình đẳng tánh: Lìa tướng sai biệt của các pháp, bình đẳng không hai. 7. Ly sanh tánh: Tức lìa sanh diệt. 8. Pháp định: Tức pháp tánh thường trụ. 9. Pháp trụ: Trụ trong pháp vị chân như. 10. Thật tế: Cái chân thật cùng cực, cái biên tế cuối cùng của sự vật. 11. Hư không giới: Tức lý thể của chân như cùng khắp. 12. Bất tư nghị giới: Lý thể chân như dứt bặt mọi suy tư nói năng, không thể nghĩ bàn(2). Tất cả giải thích trên về chân như nói trên tuy ngắn gọn, cô đọng, nhưng rất hữu ích cho việc thấu triệt về chân như. Người nào hiểu được một trong thập nhị chân như thì được xem là giác ngộ.

Thông thường khi nói đến chân như, Kinh sách thường liệt kê 12 thứ chân như căn bản này. Nhưng trong thực tế, chân như theo nhiều tông phái khác nhau còn được gọi là Hư không giới, Đoạn giới, Ly giới, Diệt giới, Cảnh giới vô tánh, Cảnh giới vô tướng, Cảnh giới vô tác, Cảnh giới vô vi, Cảnh giới an ổn, Cảnh giới tịch tịnh, Cứu cánh Niết bàn, Tánh không, Bổn vô, Như Lai tạng, Phật tánh, Pháp thân, Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm, Viên Thành Thực Tính, Bản lai diện mục v.v... Đó là cái thể tính chân thật tuyệt đối của tất cả pháp mà chỉ có Như Lai với Như Lai mới thấu triệt các như này. Nên các Ngài mới được gọi là chư Như Lai. Như Lai là chân thật nghĩa, bất hư vọng tánh, Như Lai là Giác ngộ cùng khắp. Nếu ai hiểu và thâm nhập được các như này thì chẳng khác nào Như Lai hay ít nhất cũng được gọi là tùy Như Lai sanh.

 

9- Chúng sanh thì đầy vọng tưởng nên không thấy cái như thật. Nhưng vọng tưởng phát xuất từ đâu? Vọng tưởng là những vọng thức hay còn gọi là vọng niệm xuất hiện trong tâm thức của chúng ta một cách mơ hồ. Chúng có thể là ký ức, tập khí của thời xa xưa, bỗng đến rồi đi, bỗng ẩn rồi hiện giống như những cụm mây trời vô định hướng. Vọng tưởng, vọng niệm tạo nhiều phiền nhiễu, nó gậm nhấm lần mòn tiềm năng nội tại tích tập trong mỗi người chúng ta. Một chuỗi dài tu luyện cốt bồi dưỡng, vun xới tiềm năng bị hao mòn đó. Vì vậy, tu một phần để tránh phiền não mê mờ. Tất cả pháp tu nhất là niệm Phật hay tham thiền quán tưởng, không phải diệt vọng mà là để đình vọng. Đình vọng không có nghĩa là diệt vọng mà là đừng để nó sinh, nếu nó đã sinh thì đừng để nó tiếp tục thì có thể đạt được trí.

 

10- Trí này tức Nhất thiết trí trí, Đại viên cảnh trí, Phật trí, Vô sư trí, Hậu đắc trí, Vô phân biệt trí, Vô trước trí, Vô tận trí... được thành lập bởi vô số, vô biên các pháp môn kết hợp không riêng gì pháp môn niệm Phật hay tham thiền nhập định. Cứ thử kéo ra một pháp sẽ kéo theo những pháp khác. Tất cả pháp môn kết nối nhau như một cuộn chỉ mà đầu mối là Tánh không. Kéo đầu mối ra sẽ kéo theo các pháp liên hệ. Kéo các pháp như huyễn như mộng, các pháp trì độn, các pháp không thì kéo theo các pháp như. Kéo pháp như ra thì kéo luôn pháp giới, kéo pháp giới thì sẽ kéo theo pháp tánh, pháp trụ, pháp vị, bình đẳng tánh... Kéo bình đẳng tánh ra, thì kéo theo pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới v.v... Nghĩa là kéo thập nhị chân như ra thì kéo theo 18 pháp không, Tứ đế, 12 nhân duyên v.v... Phải chăng sự thành tựu Bát Nhã là kết quả của tất cả các tinh thể bất khả phân này hợp lại? Ở đâu có Tánh không thì ở đó có thập dụ, có thập bát không, thập nhị chân như, Tứ đế, 12 nhân duyên, lục Ba la mật v.v... và v.v... Do đó, học Bát Nhã phải học tất cả pháp, pháp thế gian và pháp xuất thế gian thì có thể trở thành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Đó là điều chắc chắn! Chư Phật lúc nào cũng xác định và khuyến khích như vậy, vì là thực chứng chứ không phải do tưởng.

 

11- Bây giờ, chúng ta nắm lấy đầu mối là pháp Không (Tánh không hay Bản tánh không) để luận về bản chất của nó. Không, không có nghĩa là rỗng không, không có gì, cũng không có nghĩa là Hữu đối với Vô, cũng không phải là cái không chi. Không đây biểu thị trên cả hai phương diện TÂM và VẬT. Nếu ta tách chúng làm hai phần riêng rẽ, thì TÂM vẫn là TÂM và VẬT vẫn là VẬT, và chúng ta sẽ không thể tìm thấy ý nghĩa nào trong Bát nhã Ba la mật. TÂM hay VẬT trong thực tế cũng như trong tư duy có một liên hệ mật thiết như hình với bóng, nó là một thứ liên hệ bất-khả-phân đối với con người trần tục.

VẬT (y báo) không có chủ thể, không có tự tánh, duyên hợp giả có nên nói là không. Vạn hữu như sông núi, nhà cửa, xe cộ... hiện tiền mắt có thể thấy, tay có thể xúc chạm được mà bảo là không có, là điều hết sức vô lý. Giáo lý Tánh không cho rằng không đây là không có tự tánh, không có chủ thể nên gọi là không. Vì không có tự tánh, không có chủ thể nên không thể tự sanh. Sanh bảo là có, nhưng giả có là vì duyên hội. Hết duyên thì hoại diệt nên bảo là không.

TÂM (Chánh báo) không, là rỗng không, nó chỉ cho trạng thái của một thứ gọi là vô thức, vô niệm, vô tâm mà trong nhà thiền diễn tả như một cái thùng thủng đáy, không dung chứa bất cứ thứ gì dù là một hạt bụi nhỏ nhiệm như vi trần trong hư không.

Vì vậy, khi nói đến pháp Không hay Tánh không Bát Nhã là nói đến trạng thái rỗng không của cả TÂM lẫn VẬT. Tổ Đề Đa Ca nói:

 

Ngộ rồi đồng chưa ngộ

Không pháp cũng không tâm.

 

Vậy, cái không của Kinh Bát Nhã chẳng qua là một bài triết học nói về xả chấp, buông bỏ, phủi sạch để tâm được vô thức, vô niệm, vô tâm. Nên Kinh Kim Cương nói: “Như lai thường dạy rằng các Thầy Tỳ khưu nên biết pháp ta nói ra ví như chiếc bè đưa người sang sông, pháp còn phải bỏ huống chi phi pháp”.

 

12- Nếu nói thấy vạn hữu không là một chuyện, thấy tâm không là một chuyện khác, rồi bảo rằng: Chủ động chính là tâm, không phải cảnh. Đó lại là một thứ sai lầm khác nữa, vì còn nặng đầu óc phân hai: “A” với “phi A”, năng với sở, chủ với khách. Vậy, phải thấy cả VẬT lẫn TÂM đều không, phải có cái thấy đồng nhất thì mới có thế nói tất cả đều sạch trong sạch ngoài, rốt ráo rỗng không trong suốt như hư không. Trạng thái đó gọi là như như bất động. Vào giây phút ấy cũng TÂM đó, cũng VẬT đó nên nói “tức TÂM tức VẬT”. Đạt tới trình độ như vậy không có nghĩa là không còn gì cả. Ngài Thạch Đầu nói “Người hội muôn vật làm tự mình, ấy là Thánh nhân...” Đó là nhập pháp giới, nên có cái thấy “không mà chẳng không”, một thứ huệ nhiệm mầu xuất hiện gọi là “diệu hữu chân không”.

Đắc Không, tức giác ngộ thì đạt được Nhất thiết trí trí. Có trí thì khởi đại Bi làm lợi ích cho đời, nên nói đạt cái “không mà chẳng không”. Đó cũng là ý nghĩa của câu “Vin vào cái có mà chẳng có, tựa vào cái không mà chẳng không”. Đó là diệu hữu chân không. Tất cả yếu chỉ Tánh không là như thế!

 

13- “Tựa vào cái không mà chẳng không”. Đó là điểm nối kết giữa các mắt xích của Trí, Bi. Phương tiện thiện xảo và Tánh không của hệ thống Đại thừa giáo trong sự thực thi các chương trình cứu rỗi của Bồ tát. Tự thân của Bát Nhã thì không thể thành tựu một kết quả thực tiễn nào, nó hoạt dụng ngang qua Phương tiện sinh ra từ đại Bi”(3).

Bát Nhã tự nó không thành tựu một kết quả thực tiễn nào cả, nên nói là không. Bát Nhã chỉ có thể hoạt dụng ngang qua phương tiện sanh ra từ đại Bi, nên có vô vàn công đức không thể nghĩ bàn. Đó là cái diệu dụng “không mà chẳng không”, nên gọi là “diệu hữu chân không”. Chỉ có thể giảng luận ra như thế đối với qui trình “Phi mà Bất phi”. Một giáo lý lúc nào cũng nói phân hai để cuối cùng chỉ rõ sự hợp nhất nhiệm mầu của nó. Vậy, học Bát Nhã không phải là không có gì. Chính nhờ cái tưởng “không có gì” mà phát khởi đại Bi làm lợi ích vô lượng, vô số, vô biên chúng hữu tình! Đó là Tánh không và Diệu hữu chân không!

 

14- Bồ tát sống trong phân biệt nhưng không thấy sai biệt, sống trong sai biệt nhưng không thấy phân biệt. Bởi vì đối với các Ngài đâu cũng là chân như pháp giới. Tất cả pháp không nằm ngoài chân như pháp giới. Vì vậy, dù muốn dù không các Ngài cũng phải sống trong cảnh giới này. Nên các Ngài mới dấn thân lăn xả vào chúng quần sanh mà không ngại ngùng, thực thi các công hạnh khó hành để cứu độ chúng sanh mà không hề mệt mỏi. Đó là điểm đặc sắc nổi bật của Bát Nhã hay đạo Phật gọi là Bồ tát hạnh hay Bồ tát đạo.

Nguyện và hạnh của Bồ tát là lòng thương yêu lân mẫn, quyết tâm ... cứu giúp thế gian, vì thế gian mà làm nhà cửa, vì thế gian làm chỗ nương tựa, chỉ cho thế gian con đường cứu cánh, vì thế gian làm hòn đảo, vì thế gian làm ánh sáng, vì thế gian làm người dẫn đường, vì thế gian làm chỗ đi đến, phát tâm siêng năng tinh tấn hướng đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề”. (Q. 548, TBBN)

Đó là chất xúc tác mạnh mẽ trong mối tương thân tương ái giữa con người, nó cũng như ngọn lửa truyền thừa mà nhờ đó đạo Phật được duy trì mãi với thời gian. Phát khởi đại Bi, mong cầu giác ngộ để cứu rỗi chúng sanh thoát khỏi bể khổ, không tiếc thân mạng hay số kiếp. Vì vậy, đối với các Ngài thời gian là phi thời gian, số kiếp phi số kiếp. Đó chính là chỗ ẩn áo của Bồ tát đối với các chúng sanh khác. Tinh thể của Bồ tát là như vậy, nên luôn luôn được cổ võ và tán tụng trong toàn thể Đại Bát Nhã Ba La Mật, khác với các Thanh văn hay Duyên giác.

 

15- Đạo Phật biến thể rất nhiều nhưng có hai “thành phần” quan trọng còn tồn tại gần như song hành mãi đến nay: Đó là Tiểu Thừa và Đại Thừa. Về phương diện tu hành hai thừa không khác nhau, nhưng về vấn đề phục vụ chúng sanh thì hoàn toàn khác nhau.

Tiểu thừa tu là cốt để giải phóng cá nhân, chủ trương phá ngã, diệt tội để thoát khổ, thoát khỏi luân hồi sanh tử. Vì vậy, giáo pháp cơ bản của Tiểu Thừa thuộc hệ Pali và văn học A Hàm gồm có Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), Bát chính đạo, thuyết Vô ngã (s: anātman) và Niết bàn. Ngoài ra, Tiểu thừa còn chú trọng đến luật Luân hồi, Nhân quả và Nghiệp báo. Vì vậy, người tu Tiểu Thừa tu để được giác ngộ cá nhân, nên ẩn mình tìm chỗ thanh vắng, tu hạnh viễn ly hay A lan nhã (còn gọi là hạnh đầu đà) để sớm chứng thật tế rồi vào Niết bàn mà không đếm xỉa đến các chúng sanh khác đang oằn oại trong bể sanh tử. Hình ảnh đặc trưng của Tiểu Thừa là A la hán, người sạch hết lậu, không còn luân hồi sanh tử nữa, thật sự giải thoát và đạt Niết bàn.

Trong khi Đại Thừa cũng chủ trương phá ngã diệt tội, nhưng luôn luôn hướng về việc thành thục chúng sanh, thanh tịnh Phật độ. Vì vậy, giáo pháp của Đại Thừa thêm phần tu lục độ là bố thí, trì giới, an nhẫn, tinh tấn, thiền định và Bát nhã Ba la mật, với mục đích thượng cầu quả Phật, hạ hóa chúng sanh. Hình ảnh đặc trưng của Đại Thừa là Bồ tát. Hạnh nguyện của các Ngài là phục vụ chúng sanh, nơi nào có khổ nơi đó có Bồ tát, và Bồ tát không vào Niết bàn khi một chúng sanh cuối cùng chưa diệt độ!

Ai học Phật đều biết vấn đề này. Vì vậy, trong toàn thể ĐBN nói riêng và Kinh điển Đại Thừa nói chung, từ đầu chí cuối đều chê trách Tiểu thừa như hột giống rải trên hư không, sợ trần sa hoặc, chỉ lo tu để mau giải phóng cá nhân, rồi trốn vào Niết bàn, không kể đến các sanh linh khốn khổ khác. Nên Phật đề cao vai trò của Bồ tát trong việc cứu độ chúng sanh, thanh tịnh Phật độ của những người hành Bồ tát đạo.

Nhưng đừng xem đây là sự mâu thuẫn trong quan niệm hay chủ trương khác nhau giữa hai Thừa, mà hãy xem đây là tiến trình xây dựng của đạo Phật theo đà phát triển trong việc phục vụ con người. Đây không phải là lời biện hộ, Kinh Pháp Hoa chủ trương sát nhập Tiểu Thừa và Đại Thừa vào một thừa duy nhất là Nhất Phật thừa hay Phật thừa, là một thí dụ về việc thống-nhất-hóa đạo Phật mà chính Phật đề xướng 26 thế kỷ trước.

Ngày nay, Tiểu thừa thức tỉnh, cũng phục vụ đại chúng chẳng khác Đại thừa theo nhu cầu và đà phát triển của xã hội.

 

16- Tôn chỉ hồi hướng cho kẻ khác.

Bây giờ nói về hành đạo. Phật đạo được chiêm ngưỡng bởi khả năng hành thiện để hồi hướng cho kẻ khác, là bản chất cố hữu của những người hành Bồ tát đạo, của những người tu Đại thừa để đi đến giác ngộ. Đó là dấu hiệu tương thân tương ái của tất cả tín đồ Phật giáo. Chúng ta thừa biết bản chất xã hội của Bồ tát Đại thừa như thế được phản ảnh mãnh liệt trong sinh hoạt của Bồ tát với tôn chỉ hồi hướng cho kẻ khác. Tu hành không có nghĩa là đứng bên lề xã hội, quên đi những nỗi khổ đau của các chúng sanh khác. Vì sao? Vì mục tiêu tối hậu của những người tu không phải co mình trong cô tịch, tu tất cả các thiện pháp để chứng thật tế rồi nhập Niết bàn, giải thoát cho riêng mình mà quên đi đồng loại đang chịu nhiều thống khổ của cuộc sống đọa đày.

Ngày nay, người tu không có mặc cảm là Tiểu thừa. Trên thực tế bây giờ người tu Tiểu Thừa rộng mở tâm hồn, có tinh thần dấn thân hơn, hy sinh vì kẻ khác nhiều hơn. Họ muốn trở thành những chiến sĩ dũng cảm trong chiến trường cứu đói, cứu khổ,... rất phù hợp với tôn chỉ tối cao của đời sống đạo chẳng khác Đại thừa.

Phải có tinh thần hy sinh gian khổ như Trì địa Bồ tát trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ(4), thường đến các nẻo đường, bến đò, chỗ đường xá lở xụp, gánh đất đá đắp lại cho ngay ngắn hoặc làm cầu cống, đẩy xe trâu mắc sình, kéo thuyền ngược nước, cõng người, chuyển vật đến nơi đến chốn mà không nhận tiền thuê, nếu có nài nỉ lắm thì chỉ lấy một quan tiền. Đó mới xứng đáng với tinh thần Bồ tát đạo.

Thời đại mới có những nhà bác học, bác sĩ, kỹ sư... suốt đời cặm cụi trong các phòng thí nghiệm thuộc các lãnh vực khoa học kỹ thuật như tìm các nguồn năng lượng mới, chế tạo các phương tiện chuyên chở hiệu quả hơn, tạo các sản phẩm công nghiệp giúp tiện nghi cho đời sống hay các sản phẩm thuộc chương trình không gian như hỏa tiễn, vệ tinh, phi thuyền... trong các ngành khảo cứu không gian hay các chương trình truyền thông, truyền hình hay tiên đoán thời tiết v.v... Trong ngành y khoa cũng có vô số bác học suốt đời tận tụy tìm kiếm các loại thuốc hay phương pháp trị liệu để ngừa hay trị những bệnh ngặt nghèo hay ngăn chận bệnh dịch do siêu vi trùng gây nên v.v... Ngoài ra, trong ngành nông nghiệp cũng vậy, các chuyên viên, các kỹ sư canh nông tìm tòi pha giống(gene) thực vật hay động vật để nâng cao năng xuất lương thực về phẩm cũng như lượng; phát triển các loại thức ăn mới dễ sản xuất, dễ vận chuyển mà hàm lượng dinh dưỡng cao; hoặc nghiên cứu trồng trọt hay chăn nuôi dưới đáy biển, mục đích gia tăng thêm lương thực trong khi diện tích sản xuất trên đất liền bị hạn chế v.v... như Nhật bản chẳng hạn. Các khoa học gia, bác học, bác sĩ, kỹ sư, các chuyên viên v.v... trong mọi ngành nghề trên là tiêu biểu cho tinh thần Bồ tát trong thời đại mới, thời đại của khoa học kỹ thuật, thời đại digital, đáng được xưng tụng và cổ võ hơn bao giờ hết!

Phải cập nhật tinh thần Bồ tát đạo theo đà tiến hóa của nhân loại, trong việc cứu khổ chúng sanh. Phật đạo ngày xưa đã đề xướng “ngũ minh” tức người tu Phật phải có năm loại kiến thức: Nội minh: Phải biết nội điển của Phật giáo để hoằng pháp. Nhân minh: Phải biết phương pháp lý luận để giảng dạy, viết sách hay diễn thuyết. Thanh minh: Phải biết ngôn ngữ văn tự. Công xảo minh: Phải biết về khoa học, kỹ thuật. Và Y phương minh: Phải biết về y khoa: Ngừa bệnh và trị bệnh, để giúp đời. Vì vậy, người học đạo xưa hay nay phải cắp sách đến trường, phải học các ngành nghề chuyên môn như các chúng sanh khác để ra tay cứu độ chúng sanh. Ngày nay, không những tu sĩ mà thường dân cũng làm công việc cứu nhân độ thế như nhóm Bác sĩ không biên giới hay con tàu y khoa của Pháp đi chữa bệnh khắp nơi trên thế giới. Đó là các tổ chức thiện nguyện, nêu gương sáng của tâm đại Bi. Đó cũng là tinh thần của Đại học Na lan đà (Nalanda University) vào thế kỷ thứ V đến XII của Phật giáo Ấn độ khi xưa!

 

17- Nghịch đảo hay không đảo nghịch, thuận hay nghịch, mâu thuẫn hay không trong Bát Nhã?

Đoạn Kinh quyển 574, phần “Mạn Thù Thất Lợi”, Hội thứ VI, ĐBN phát biểu táo bạo như sau:

“Xá lợi Phất bạch Phật:

Bạch đức Thế tôn, như Mạn Thù Thất Lợi giảng, Trí Bát Nhã vượt ngoài tri kiến của chư Bồ Tát mới phát tâm”.

Mạn Thù nói với Xá lợi Phất: “Điều tôi giảng nói không những chỉ vượt ngoài tri kiến của họ, mà còn vượt ngoài tri kiến của các vị A la hán đã thành tựu đạo nghiệp. Không ai có thể hiểu biết như thật lời giảng của tôi. Tại sao? Bởi vì phàm tâm không vươn tới Bồ Đề nổi, trí năng cũng không thể; Bồ Đề ở trên thấy, nghe, nhớ, nghĩ; nó không sinh, không diệt, vô tướng. Bồ Đề vì là như tính, nên không nói là hữu hay vô. Không phải là sở tri, sở đắc”.

Xá Lợi Phất nói: “Này Mạn Thù, há không có Pháp giới mà chư Phật chứng nhập. Tại sao? Bởi vì Pháp giới là Phật và Phật là Pháp giới, nên Pháp giới không tự chứng Pháp giới. Pháp giới tức hết thảy các pháp đều không; và Tánh không này là Bồ đề, không hai, không phân biệt. Bởi vì không hai nên không có trí giải; không có trí giải nên không có ngôn thuyết; không có ngôn thuyết nên không có tướng tác và vô tác, hữu và phi hữu, không có tướng quyết định. Đó là tự tánh của vạn hữu. Sự biểu lộ đây kia chỉ là tạo tác do tâm.

“Thưa Ngài Xá Lợi Phất, phạm tội tức thành tựu bất khả tư nghì tức xuất sinh Thật tướng. Thật tướng tức không hai. Chúng sinh vốn bất khả tư nghì nên không có thác sinh lên trời không đọa vào các đường dữ, không chứng nhập Niết bàn. Những kẻ phạm tội không đọa vào địa ngục. Phạm tội và bất khả tư nghì thảy là Thật tướng, và Thật tướng vốn không hai, không sinh, không diệt, không đến không đi, không nhân không quả, không thiện không ác, không dẫn vào ác đạo hay thiên đường, không đưa tới Niết bàn hay sinh tử. Tại sao? Bởi vì trong Pháp giới chân thật không có thiện hay ác, cao hay thấp, trước hay sau.

“Thưa Ngài Xá Lợi Phất, Tì khưu phạm trọng tội không bị đọa vào địa ngục, tịnh tu giới hạnh không sinh lên thiên đường. Kẻ phạm tội không rơi vào nẻo sinh tử, không bị khinh bỉ, không bị xa lánh, không bị cấm nhận cúng thí v.v…và kẻ tịnh tu không có chứng Niết bàn, không có tán dương, không có thân cận, không có cúng thí v.v...Tại sao? Bởi vì trong Pháp giới chân thật chỉ có tướng nhất như; phạm hay không phạm không phân biệt”.

Bấy giờ Mạn Thù bạch Thế Tôn: “Bồ Đề là tội ngũ nghịch, ngũ nghịch tức Bồ Đề. Tại sao vậy? Bởi vì Bồ Đề và ngũ nghịch thảy đều phi hữu, không có tự tánh. Không có tri và tri giả, kiến và kiến giả, giác và giác giả, phân biệt và phân biệt giả. Nên nói Bồ Đề tức ngũ nghịch. Nếu ai coi Bồ Đề là khả đắc hay khả hành, kẻ ấy đam mê chấp ngã”.

Thật hết chỗ nói! Mạn Thù bảo Xá Lợi Phất: “Tì khưu phạm trọng tội không bị đọa vào địa ngục, tịnh tu giới hạnh không sinh lên thiên đường, kẻ phạm tội không rơi vào nẻo sinh tử, không bị khinh bỉ, không bị xa lánh, không bị cấm nhận của cúng thí v.v…và kẻ tịnh tu không có chứng Niết bàn, không có tán dương, không có thân cận, không có cúng thí v.v... và v.v... Thật trái lẽ quá sức phải không?

Rồi Mạn Thù Bồ tát bạch Thế Tôn “Bồ đề là ngũ nghịch, ngũ nghịch tức Bồ đề!”

Bồ đề là giác ngộ cùng khắp, Bồ đề là chân thật nghĩa, Bồ đề là Phật. Tại sao Mạn Thù Thất Lợi có thể tuyên bố một cách “ngược đời” như thế? Bởi vì, tất cả cái gì chúng sanh nghĩ đều thuận dòng thế gian. Còn Mạn Thù Bồ tát hay Văn Thù Sư Lợi Bồ tát được coi là đại trí, cũng là cổ Phật tức chứng ngộ, đã chứng ngộ thì ngược dòng thế gian. Lối nói có vẻ nghịch đảo theo pháp thức thường tục, nhưng chẳng có gì nghịch đảo đối với Thánh giả. Bởi vì, chỉ có Thánh giả mới hiểutrong Pháp giới chân thật chỉ có tướng nhất như; phạm hay không phạm không phân biệt”.

Cũng như câu nói: Trần trần không phải bụi mà “trần trần là báu”. Khi hiểu thế nào là bụi trần lăng xăng làm khổ mình khổ người. Biết như vậy, nên tránh được bụi. Tránh bụi, nên không bị bụi trần làm ô nhiễm. Vì vậy, mới nói trần trần là báu.

Cũng vậy, câu nói “Mỗi vọng niệm đều là hóa thân Phật”. Đây, không phải là lối nói nghịch đảo, chẳng có gì là nghịch đảo ở đây. Biết vọng, vọng đến đừng theo, tức vọng yên thì chân hiện, chân hiện tức chứng pháp thân, pháp thân biến hóa để tế độ chúng sanh thì gọi là hóa thân. Nói vắn tắt là thế.

Đoạn phiền não để được Niết Bàn, chẳng khác nào bỏ hình bắt bóng. Bởi vì gốc của bóng là hình hay nói khác có hình nên có bóng. Vậy bỏ hình bắt bóng hay bỏ bóng bắt hình có ích gì? Cả hai chỉ là một. Mê cũng là nó mà ngộ không khác nó. Nên câu nói “phiền não tức Bồ đề”, “sanh tử tức Niết bàn” cũng là câu nói tỉnh thức!

Một khi hiểu thế nào là nghịch đảo thì nó không còn là nghịch đảo nữa! Biết cả thuận lẫn nghịch, biết tất cả dù chi tiết nhỏ nhiệm nào, biết khắp, đó là tỉnh thức. Tỉnh thức tức Giác ngộ. Cái Giác ngộ của bậc đã đạt Thánh trí tự giác như Phật, như Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. Nên phần “Bố Thí Ba La Mật”, quyển 580, Hội thứ XIII, ĐBN. Kinh bảo: Đối với cảnh nghịch tâm không sân hận, đối với cảnh thuận tâm không ái nhiễm. Nếu nghịch hay thuận đều biết đúng, nó hỗ trợ, làm duyên dẫn đến Nhất thiết trí. Bồ tát như vậy trong tâm không bị xen tạp đối với tất cả thời, tất cả cảnh”.

cũng cùng phần “Bố Thí Ba La Mật” nói trên, Kinh bảo tiếp: “Phiền não tức Bồ đề là ơn đức lớn của Bồ tát, phải kính trọng như kính trọng Thế Tôn!”

Càng khổ, càng phiền não thì tâm chí càng tinh luyện, tâm chí càng tinh luyện thì công hạnh sớm thành, công hạnh sớm thành mới thâm nhập vào lẽ nhiệm mầu của kiếp sống. “Thượng Đế ban khổ cho con người để hoàn tất con người”, đó là câu nói của người từng trải, đã nếm quá nhiều cay đắng, mới có những tư tưởng quá đẹp như vậy. Tổ Hoàng Bá Hi Vận nói bóng bẩy hơn:

 

“Chẳng phải một phen sương lạnh buốt

Làm sao mai nở ngát mùi hương?”

 

Thiền sư D.T. Suzuki cũng là người đầy kinh nghiệm trong lãnh vực này, giải thích về tư cách của một người chứng đạo như sau: Nhưng với người Đại Thừa, mọi phương tiện “lành và khéo” đều được quyền xử dụng, nếu tâm đã sáng, trí đã sạch làu. Họ sống trong một thế giới “phi thiện phi ác”, và một khi an trụ trong đó thì dầu họ làm gì vẫn không thể có khuôn thước đạo đức nào đánh giá hoặc phê phán họ được; đó là những hành động chẳng “hữu đạo” mà cũng không “vô đạo”. Những cặp danh từ đối đãi ấy mất hết chỗ đứng trong cái tâm tự do tự tại, tùy thích dọc ngang trên thế giới ngang dọc của sai biệt và mâu thuẫn”. 

Bây giờ, chúng tôi không cho đây là một đoạn Kinh nghịch đảo táo bạo, cốt gây kích động đối với mục đích dựng dậy cái tâm ngái ngủ ngàn đời của chúng sanh nữa. Ở đây Mạn Thù Thất Lợi Bồ tát cũng không phải lật úp hay vặn chéo những nghĩ tưởng thế gian mà ở đây Mạn Thù Thất Lợi đại diện bậc chứng ngộ nói lên tư tưởng của đệ nhất nghĩa đế, thế giới vô sai biệt, thế giới không hữu không vô, không thiện không ác, không tội không phước v.v...

Giới luật sẽ trở thành một thứ “kỷ luật chết” đối với hoạt dụng của tâm và trí khi hai thứ này được rèn luyện đến độ tuyệt kỹ, chúng tự phát khởi tùy cơ, ứng dụng tùy thời, qua lại tự do tùy tiện mà không một khuôn thước trí năng bình thường nào của thế nhân, cả đến bậc La hán đã thành xong đạo nghiệp có thể đo lường tâm của bậc đại trí như Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. Tổ sư có dạy: “Kiến sắc phi can sắc, văn thinh bất thị thinh”, nghĩa là thấy sắc không can gì sắc, nghe tiếng cũng không can hệ đến tiếng. Hay như câu: “Ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tuyết”, gặp sắc đẹp hoặc nghe tiếng hay như hoa trồng trên đá; thấy tài lợi và danh vọng như bụi rớt vào tròng(mắt). Nếu người đạt đến trình độ như vậy thì vào thanh lâu hay tửu điếm chẳng khác nào đạo tràng thanh tịnh của mình (dâm phòng tửu tứ vô phi thanh tịnh đạo tràng)(5).

 

18- Hệ lụy và giải thoát. Tất cả những gì liên hệ giữa cá nhân hay tập thể trong cuộc sống chung từ vật chất đến tinh thần đều được coi là những hệ lụy (trói buộc) của cuộc sống. Những hệ lụy đó có thể do mình, do người hay do hoàn cảnh xã hội tạo nên.

Nhưng làm sao sống mà tránh khỏi “cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”, chỉ có chết, nói “theo nghĩa bình dân” của nó, mới có thể thoát khỏi những trói buộc của cuộc sống! Sống đã là khó mà chết cũng không phải dễ! Chết không phải hết, cũng không phải là giải pháp trọn vẹn? Vì vậy, chúng ta phải kêu gọi đến tôn giáo. Không có bất cứ tôn giáo nào mà không đề cập đến vấn đề giải thoát hay giác ngộ. Chỉ có giải thoát hay giác ngộ mới có thể tháo gỡ được các trói buộc thế gian này. Vì vậy, tôn giáo mới được qui hướng, mới được kính trọng trọn vẹn trong đời sống tâm linh của con người.

Một trong những trói buộc lớn nhất không phải là gia đình mà là bổn phận đối với xã hội hay quốc gia, dân tộc. Ai cũng thấy cũng biết, vì dễ thấy dễ biết nên xin gác vấn đề này qua một bên. Cái khó thấy vì nó sờ sờ trước mắt nhưng lại coi như lẽ đương nhiên. Vì vậy, mới không thấy, không thấy chứ không phải khó thấy. Đó chính là qui ước, các thói quen, tập tục của cuộc sống thế tục.

Thói quen hay tập tục là cái gì có trước khi cha mẹ sanh. Ông nói như vậy, cha nói như vậy, rồi tới đời con, đời cháu tiếp nối. Ông nói đó là thiện, đó là ác, cha con cháu chít chắt... đều rập khuôn, cứ thế mà trôi chảy theo dòng thời gian mà không cần biết trong thiện có ác, trong ác có thiện trải qua bao nhiêu thế hệ. Làm sao có thể tháo gỡ chiếc áo cũ rích này?

Còn qui ước là gì? Đó là những qui định hay luật lệ do con người thỏa thuận đặt ra để bảo vệ cuộc sống chung. Nói khác, con người phải tạo ra luật lệ để bảo vệ an ninh, trật tự và phải tôn trọng hay tuân hành cái gì do con người tạo ra đó trong việc tạo dựng hạnh phúc chung cho toàn thể cộng đồng. Như vậy, qui ước là cái giúp chúng ta sống, nhưng đồng thời trói buộc chúng ta! Người lái xe theo luật giao thông của Pháp qui định phải lái bên tay phải, có lẽ bị tai nạn hoặc chết hoặc bị thương nếu hắn lái xe bên Anh (6), mặc dầu hai quốc gia trên chỉ cách nhau một eo biển hẹp (Manche). Đó là luật lệ, là qui ước!

Đông hay Tây, xuôi hay ngược, phải hay trái... là tiêu chuẩn căn bản do chính con người thỏa thuận với nhau. Thỏa thuận với nhau để cùng thi hành, để cùng hưởng, cùng chịu. Thiếu qui ước, làm sao xã hội thăng tiến? Đó là cái hạn cuộc của cuộc đời thường! Làm sao chấp trì Bát Nhã đây?

Đạo pháp muốn giải phóng con người ra khỏi mê lộ của thế gian, trong khi thế gian pháp lại đặt ra những qui chế liên quan đến trật tự và an ninh xã hội để tránh xung đột, chống đối. Tự do của người này là giới hạn tự do của kẻ khác, quyền lợi của nhóm này lại là cái mất mát thiệt thòi của nhóm khác v.v... Con người phải đi trong cái vòng tròn do chính mình tạo ra. Đi ra ngoài hay đi ngược lại là vi luật, là tự sát. Đó là cái hạn cuộc của cuộc sống. Luân lý, đạo đức hay tôn giáo chỉ cấm đoán hay răn đe về phương diện tinh thần, trong khi chế tài của hình luật lại quá khắt khe, đôi khi tước đoạt cả mạng sống.

Ngũ giới là giới cấm nhỏ nhất của hàng Phật tử tại gia. Sát, đạo, dâm, nói dối, rượu chè, sì ke ma túy không ngăn chận được tội lỗi của những kẻ đầy dục vọng điên cuồng hay tham ái vô minh... Vì sao? Vì các hình phạt đó chỉ có tính cách răn đe như giết người khi chết sẽ bị đọa địa ngục, gian tham thì sẽ biến thành ngạ quỷ, dâm dục thì sẽ bị đọa vào loài súc sanh v.v...  Đó chỉ là những đe dọa tương lai thuộc về luân hồi sanh tử. Còn đối với những ai tham lam vô độ thì chỉ có lời khuyên là thiểu dục tri túc (muốn ít, biết đủ) hay hơn nữa là khuyên tu thập thiện đạo v.v... Tôn giáo chỉ làm được như vậy không hơn không kém.

Thật quá khó khi đứng trước ngưỡng cửa của đạo và đời. Sống cách ly chăng? Nếu tất cả mọi người đều sống cách ly hay xuất gia hết, thì ai là người gánh vác cơ đồ chung cho nhân loại? Đâu là đạo? Đâu là đời? Đạo hay đời theo đạo Phật chỉ là duyên nghiệp của tiền kiếp, không có sự lựa chọn. Biết như vậy, nếu vì duyên nghiệp phải sống cuộc đời phàm phu tục tử thì phải cố gắng cởi bỏ tham ái, lìa dục, đồng thời phải tu tập các thiện pháp, nhất là lục Ba la mật, để thoát vòng kiềm tỏa của ba cõi. Đạo chỉ khuyến dẫn nhiều hơn là áp đặt, chỉ có con người tự nguyện tìm con đường hướng thượng, tự tu tự hành tự thành Phật đạo để giải thoát các hệ lụy thế gian!

 

19- Tu hay không tu? Hai vấn đề thường được nêu ra, nếu không muốn nói là tranh luận trong ĐBN hay trong đạo Phật nói chung. Quan niệm bản thể hay chân tánh của chúng sanh là Bản hữu (Phật tánh vốn sẵn có từ xưa) hay Tu sanh (do tu hành mới có)?

- Bản hữu là bản tánh của chúng sanh vốn vô cấu ngầm chỉ cho tâm Bồ đề thanh tịnh hay Phật tánh vốn sẵn có của tất cả chúng sanh. Trong phần “Na Già Thất Lợi”, Văn Thù Sư Lợi nói với Bồ tát Na Già Thất Lợi:

“Vì các loài hữu tình bản lai đều có diệu pháp của chư Phật, tất cả đã có như vậy nên không thối lui Phật trí. Do đó, các hữu tình đều có thể an lập nơi diệu pháp của Phật, tuệ giác không động, biết pháp Tánh không, không danh, không tướng, không nương, không trụ, không lấy, không chấp, không ngăn ngại, không dính mắc, giống như hư không, không tàng chứa, không nắm giữ, vô thượng vắng lặng, cùng cực vắng lặng, không sanh không diệt, không nhiễm không tịnh, không thành không hoại, chẳng có chẳng không”. Nói như thế có nghĩa là chúng sanh đã có sẵn tâm Bồ đề hay Phật tánh kể từ lúc chưa sanh. Đó là quan niệm Bản hữu, cái sẵn có!

- Còn nếu nói bản tánh của chúng sanh là do tu hành mà được thì gọi là Tu sanh hiển đắc tức phải nương vào phạm hạnh tu hành đoạn trừ vọng chấp để trở về cái nguyên thể của thuở ban đầu, nghĩa là do ngoại trần cướp mất tâm, nên phải tu tập để trở về cái bản nguyên khi xưa tức gọi là tu sanh.

Duy Thức Tông khi nói về chủng tử trong A lại da thức có nêu ra hai loại chủng tử: Chủng tử sạch và dơ. Khi thanh lọc loại bỏ được tất cả chủng tử dơ, chỉ còn giữ lại chủng tử vô cấu thanh tịnh thì chứng Thánh. Như Lai tạng thường được nói trong các Kinh khác cũng có hai thứ: Khi còn nằm trong triền phược gọi là Như Lai tại triền, thì vô minh si ám nên gọi là chúng sanh ngu muội. Khi thoát khỏi cái vỏ triền phược, chứng Thánh thì gọi là Như Lai thoát triền. Vậy triền phược hay giải thoát, sanh tử hay Niết bàn không hai, cũng đều phát xuất từ thân tứ đại này. Lau sạch bụi mặt gương tâm thì giải thoát.

Câu nói thường được nghe là còn luân hồi là còn tái sanh, “sanh để trả nghiệp”. Chấm dứt không còn luân hồi sanh tử nữa tức giải thoát. Muốn thế phải tu. Cuộc sống hiện thực cho thấy rằng nhờ có lầm lỗi nên tu để được Thánh thiện hơn. Đó là ý thức, là lương tâm nằm trong phạm vi luân lý, đạo đức hay tôn giáo của cuộc sống. Vì vậy, chúng ta có xu hướng nghiêng về Tu sanh. Cuộc sống thực tế cho biết, đã là chúng sanh thì phải tái sanh trong lục đạo luân hồi, nên cần phải tu. Tu để loại bỏ chủng tử dơ, tu để Như Lai tạng thoát triền, tu để giải thoát.

 

20- Làm sao đổi thể hay lột xác? Làm sao con thiềm thừ thoát xác, con cá chép hóa rồng? Đó chỉ là mộng mị phải không?

 

- Phẩm "Thanh Tịnh", Hội thứ V, quyển 559, ĐBN. Thiện Hiện bạch Phật:

- “Bạch Thế Tôn! Bát Nhã sâu xa chính là Ba la mật rộng lớn, đối với tất cả pháp không trói buộc, không dính mắc. Mặc dù chứng Bồ đề nhưng không có sự chứng, mặc dù chuyển vận bánh xe pháp nhưng không có sự chuyển. Không có pháp có thể chỉ rõ, không có pháp có thể hiển bày, không có pháp có thể đắc, không có pháp có thể chuyển, không có pháp có thể vận. Vì tất cả pháp hoàn toàn không sanh, cũng không diệt. Vì không sanh diệt nên không chuyển xoay.

Thế Tôn bảo Thiện Hiện:

- Đúng như vậy! Đúng như vậy! Vì sao? Vì trong pháp vô tánh lấy không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, vô sanh, vô diệt, hoặc chuyển, hoặc xoay đều không thể đắc. Nếu người nào có thể tuyên thuyết, chỉ dạy được như thế thì gọi là người tuyên thuyết Bát nhã Ba la mật thiện tịnh. Trong đây hoàn toàn không có người giảng thuyết, người lãnh thọ, cũng không có người chứng đắc Niết bàn, cũng không có người nói pháp ruộng phước. Vì ruộng phước không nên tánh phước cũng không. Danh ngôn biểu thị đều chẳng thể đắc, nên gọi là Bát nhã Ba la mật rộng lớn.

Bấy giờ, Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Bát Nhã sâu xa là vô biên Ba la mật, như hư không rộng lớn không biên giới vậy. Đây là chánh đẳng Ba la mật, vì tánh tất cả pháp bình đẳng vậy. Đây là viễn ly Ba la mật, vì tất cả pháp hoàn toàn Không vậy. Đây là khó hàng phục Ba la mật, vì tất cả pháp chẳng thể đắc vậy. Đây là không dấu vết Ba la mật, vì tất cả pháp không danh tự, hình thể vậy. Đây là vô hành Ba la mật, vì tất cả pháp không qua lại vậy. Đây là vô đoạt Ba la mật, vì tất cả pháp chẳng thể nắm bắt vậy. Đây là vô tận Ba la mật, vì tất cả pháp không thể tận vậy. Đây là vô sanh Ba la mật, vì tất cả pháp chẳng thể sanh vậy. Đây là vô tác Ba la mật, vì các tác giả chẳng thể đắc vậy. Đây là vô tri Ba la mật, vì các sự hiểu biết chẳng thể đắc vậy. Đây là vô chuyển Bát nhã Ba la mật, vì các việc sanh tử chẳng thể đắc vậy. Đây là vô cấu Ba la mật, vì phiền não sạch vậy. Đây là vô nhiễm Ba la mật, vì chỗ nương tựa chẳng thể đắc vậy. Đây là vô hoại Ba la mật, vì lìa biên giới trước vậy. Đây là như huyễn Ba la mật, vì tất cả pháp đều không sanh vậy. Đây là như mộng Ba la mật, vì tánh các ý thức bình đẳng vậy. Đây là vô hý luận Ba la mật, vì biết tánh các hý luận bình đẳng vậy. Đây là vô tư lự Ba la mật, vì các pháp tư lự hoàn toàn không có vậy. Đây là vô động chuyển Ba la mật, vì an trụ pháp giới vậy. Đây là lìa nhiễm Ba la mật, vì tất cả pháp chẳng hư vọng vậy. Đây là vô tác dụng Ba la mật, vì tất cả pháp không phân biệt vậy. Đây là vắng lặng Ba la mật, vì tướng tất cả pháp chẳng thể đắc vậy. Đây là vô phiền não Ba la mật, vì lìa lỗi lầm vậy. Đây là không hữu tình Ba la mật, vì Niết bàn của hữu tình chẳng thể đắc vậy. Đây là vô đoạn Ba la mật, vì tất cả pháp không phát khởi vậy. Đây là không hai bên Ba la mật, vì đối với tất cả pháp không chấp trước vậy. Đây là không chấp trước Ba la mật, vì bậc Nhị thừa không phân biệt vậy. Đây là vô phân biệt Ba la mật, vì biết tánh các sự phân biệt bình đẳng vậy. Đây là vô lượng Ba la mật, vì pháp không lường vậy. Đây là vô khởi Ba la mật, vì lìa ngã pháp vậy. Đây là hư không Ba la mật, vì đối với tất cả pháp đều không ngăn ngại vậy. Đây là bất sanh Ba la mật, vì tất cả pháp đều chẳng sanh khởi vậy. Đây là vô thường Ba la mật, vì tất cả pháp thường vô tánh vậy. Đây là khổ Ba la mật, vì pháp bức não tánh bình đẳng vậy. Đây là vô ngã Ba la mật, vì không chấp trước tất cả pháp vậy. Đây là Không Ba la mật, vì tất cả pháp chẳng thể đắc vậy. Đây là vô tướng Ba la mật, vì tất cả pháp lìa các tướng vậy. Đây là vô nguyện Ba la mật, vì tất cả pháp không có sự thành tựu vậy. Đây là lực Ba la mật, vì tất cả pháp chẳng thể khuất phục vậy. Đây là vô lượng Phật pháp Ba la mật, vì quá số lượng vậy. Đây là vô sở úy Ba la mật, vì tâm không khiếp sợ vậy. Đây là chơn như Ba la mật, vì tất cả pháp chẳng hư vọng vậy. Đây là bản thể Ba la mật, vì tất cả pháp không tự tánh”.

Phật xác nhận:

- “Đúng như vậy! Đúng như vậy! Như lời ngươi nói”.

Thoáng đọc đoạn Kinh này chúng ta không khỏi thất vọng? Bát Nhã không có sự chứng, không có pháp có thể chỉ rõ, không có pháp có thể hiển bày, không có pháp có thể đắc, không có pháp có thể chuyển, không có pháp có thể vận. Bát Nhã là pháp không sanh, không diệt nên phước điền tánh đức cũng không. Bát Nhã là viễn ly, không dấu vết, vô hành, vô cấu, vô nhiễm, vô tịnh, vô hoại, như huyễn như mộng. Bát Nhã là vô tư lự, vô động chuyển, vô tác dụng, vô phiền não, vô đoạn. Bát Nhã là không phân biệt, không chấp trước, vô khởi, vô ngã, không, vô tướng, vô nguyện...

Khi Thiện Hiện phát biểu như vậy, Phật xác nhận là đúng! Vậy, Bát Nhã mang lại tác dụng gì cho người thọ dụng? Cái gì cũng không, học như vậy có ích lợi gì? Làm sao lột xác được? Nhưng lạ lùng thay nếu thấu hiểu những gì mà Thiện Hiện phát biểu và tuân theo một cách khôn khéo, đó là lột xác, là đổi thể hay chuyển y.

 

- Phần “Bát nhã Ba la mật”, cuối cùng trước khi chấm dứt toàn bộ 16 pháp hội, quyển 598, Phật bảo:

“Này Thiện Dũng Mãnh! Vì tất cả pháp chẳng thể tùy lấy, chẳng thể chấp thọ, không năng tùy lấy không năng chấp thọ. Vì sao? Thiện Dũng Mãnh! Không có chút pháp nào khá chấp thọ, cũng không chút pháp năng chấp thọ. Vì sao? Vì hoặc năng chấp thọ hoặc sở chấp thọ đều chẳng thể đắc. Thiện Dũng Mãnh! Vì tất cả pháp đều chẳng chắc thật như việc huyễn vậy. Vì tất cả pháp đều tánh chẳng tự tại, trơ lì chẳng thể đắc vậy. Vì tất cả pháp đều như bóng sáng chẳng thể lấy vậy.Vì tất cả pháp thảy đều hư ngụy, không tự tánh vậy. Vì tất cả pháp đều như nhóm bọt chẳng thể bắt nắm vậy. Vì tất cả pháp đều như bọt nổi khởi rồi chóng diệt vậy. Vì tất cả pháp như quáng nắng do điên đảo mà sanh. Vì tất cả pháp đều như cây chuối, lõi không chắc thật vậy. Vì tất cả pháp đều như trăng trong nước chẳng thể bắt lấy vậy. Vì tất cả pháp đều như cầu vồng hư dối phân biệt vậy. Vì tất cả pháp đều không có tác dụng nên không thể phát sanh. Vì tất cả pháp đều như nắm tay rỗng không nên tánh, tướng nó không thật.

Này Thiện Dũng Mãnh! Các Bồ tát sau khi quán sát như vậy rồi, đối với tất cả pháp không thủ, không chấp, không trụ và không trước. Này Thiện Dũng Mãnh! Nếu các Bồ tát giữ gìn lòng tin sâu sắc đối với tất cả pháp, không còn chấp trước, không chấp chặt, không tham ái là hành Bát nhã Ba la mật. Thiện Dũng Mãnh! Nếu các Bồ tát hành như vậy, trụ như vậy mà tu hành Bát nhã Ba la mật thì mau được viên mãn.

Lại nữa, này Thiện Dũng Mãnh! Khi các Bồ tát học như vậy là không học về uẩn xứ giới; không vượt qua uẩn xứ giới mà học. Không học về uẩn xứ giới sanh; không học về uẩn xứ giới diệt. Không vì nhiếp phục uẩn xứ giới mà học; không vì không nhiếp phục uẩn xứ giới mà học. Không vì uẩn xứ giới nhiếp phục hay chuyển dời mà học; không vì uẩn xứ giới hướng vào hay an trụ mà học”.

Tất cả pháp như trò huyễn, trơ lì chẳng thể đắc, như bóng sáng chẳng thể nắm bắt, hư ngụy như hòn bọt nổi khởi rồi chóng diệt, như quáng nắng, như trăng trên mặt nước, như cầu vòng, như nắm tay rỗng không...  chẳng năng tùy lấy, chẳng thể chấp thọ hoặc năng chấp thọ hoặc sở chấp thọ đều bất khả đắc. Bát Nhã đã quá nhiều lần trong suốt đại phẩm nhắc nhở chẳng khác tâm lão bà lúc nào cũng dặn dò khuyên bảo trẻ thơ. Có lẽ nếu theo đúng những chỉ dẫn này, chúng ta sẽ không còn gì để nói, để học, để hành, để chấp thủ hay nhiếp phục nữa?

Nói như thế nhưng không phải thế. Học, hành, thọ trì, nhiếp phục... vẫn tiếp tục nhưng đừng thủ, đừng chấp, đừng trụ, đừng trước, đừng mong chờ, nắm bắt... Rồi cái gì đến sẽ đến. Cơ hội lúc nào cũng sẵn sàng đến với chúng ta. Vô minh điên đảo đến nhanh chừng nào, giác ngộ cũng đến nhanh như vậy, thì lo gì có đổi thể lột xác hay không?

Bát Nhã “thật sự khai phóng tất cả năng lực nội tại tích tập từ nhiều đời kiếp trong mỗi người chúng ta, cái năng lực bấy lâu bị co cụm, và bị vặn chéo”(7) bởi nếp sống vị kỷ cá nhân mà chúng ta không lẩn trốn vào đâu được. Bát Nhã sẽ đập vỡ thùng keo sơn để giải phóng toàn bộ trí năng tiềm ẩn trong ta. Cái gì trước kia mong chờ nắm bắt, ôm giữ, cất giấu bây giờ trở thành vô nghĩa. Thế giới sẽ trải rộng ra khi chúng ta sẵn sàng dọn mình lột bỏ cái vỏ sò ích kỷ để thay thế vào đó bằng Trí và Bi. Rồi ra, chúng ta có thể làm chủ trọn vẹn một kho tàng vô tận với đầy quyền năng giúp mình và kẻ khác vui sống.

 

21- Vậy, muốn đổi thể, lột xác thì phải làm sao?

 

- Phẩm “Tịnh Đạo”, quyển 74, Hội thứ I, ĐBN. Xá lợi Tử hỏi Thiện Hiện:

- “Tôn giả! Tất cả pháp Phật đều mang lại vô lượng vô biên các nhóm công đức nên gọi là đạo Bồ đề. Nhưng công đức như vậy do đâu mà có?

Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Công đức như vậy đều do thế lực của Bát nhã Ba la mật mà đạt được. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì Bát nhã Ba la mật bao giờ cũng là mẹ của tất cả thiện pháp. Tất cả thiện pháp của Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai đều từ đó mà xuất sanh.

- Xá Lợi Tử! Bát nhã Ba la mật này có khả năng nhiếp thọ khắp tất cả thiện pháp. Thiện pháp của Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai đều nương nơi đây mà an trú.

- Xá Lợi Tử! Chư Phật quá khứ tu hành Bát nhã Ba la mật đạt đến chỗ viên mãn rốt ráo, đã chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân vi diệu, độ vô lượng chúng sanh. Chư Phật vị lai tu hành Bát nhã Ba la mật đạt viên mãn rốt ráo, sẽ chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân vi diệu, độ vô lượng chúng sanh. Chư Phật hiện tại trong mười phương thế giới tu hành Bát nhã Ba la mật đạt viên mãn rốt ráo, hiện chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân vi diệu, độ vô lượng chúng sinh”.

Kinh nói Bát nhã Ba la mật bao giờ cũng là mẹ của tất cả thiện pháp (thế gian và xuất thế gian). Chư Phật ba đời tu hành Bát nhã Ba la mật đạt đến chỗ viên mãn rốt ráo, đã chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân vi diệu, độ vô lượng hữu tình là do nhiếp thọ tu hành các pháp tu này. Đó là do công đức Bát Nhã tạo ra.

 

- Phẩm “Quán Chiếu”, quyển 404, Hội thứ II, ĐBN. Phật bảo:

“Này Xá lợi Tử! Nếu có ai hỏi Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đem sự thật mà nói, pháp nào có thể bao trùm tất cả thiện pháp? Phật đáp ngay: Đó là Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Vì Bát nhã Ba la mật này là mẹ của tất cả thiện pháp, hay sanh các công đức của các Ba la mật và năm loại mắt”.

Không còn gì để ngờ vực nữa, toàn thể Đại Bát Nhã chỗ nào cũng khuyến dẫn đọc tụng, thọ trì, chánh ức niệm, vì người diễn nói, truyền bá sâu rộng Bát nhã Ba la mật. Đồng thời phải lấy tràng hoa thượng diệu, hương bột, hương xoa, y phục, anh lạc, tràng phan, bảo cái, ngọc diệu, kỹ nhạc, đèn sáng... mà vì cung kính cúng dường!

 

- Hơn thế nữa, phẩm “Thông Đạt”, quyển 566, Hội thứ VI, ĐBN. Phật bảo trời Tối Thắng: “Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát tu học một pháp mà có thể thông đạt tất cả pháp, pháp đó là Bát nhã Ba la mật...”

Dùng một pháp có thể biết tất cả pháp, đạt tất cả pháp mà không lìa một pháp. Pháp đó chính là Bát Nhã, pháp Không hay Bản tánh không. Pháp này giải thích tất cả càn khôn vũ trụ, vì trời đất vũ trụ không thể thoát ly khỏi hấp lực của nó. Nó là nguyên tắc chỉ đạo của tất cả các nguyên tắc chỉ đạo, nó là bộ phận mẹ sanh ra chư Phật và tất cả pháp.

Vậy, muốn làm chủ trọn vẹn kho tàng vô tận với đầy đủ quyền năng để giúp mình, người vui sống. Chúng ta phải có chìa khóa để mở kho tàng đó. Nhưng may mắn thay chúng ta không cần chẻ xương bán tủy như Bồ tát Thường Đề, chư Phật đã trao sẵn cho chúng ta cái chìa khóa mầu nhiệm đó từ khi các Ngài chứng ngộ. Chìa khóa đó chính là Đại Bát Nhã Ba La Mật  mà chúng ta đang phụng trì. Hãy ôm lấy nó như phần thưởng để khai thông tất cả nguồn năng lực đầy sáng tạo (Trí) và từ hòa (Bi) đang ấp ủ trong trái tim ta để thực thi các hạnh nguyện mà chúng ta hằng mong ước. Nếu làm được như thế thì con thiềm thừ thoát xác, con cá chép hóa rồng, sẽ tung tăng bay lượn khắp không gian vô tận.

 

22- Đạo ở đâu? Đạo không còn là bí ẩn đối với kẻ đi tìm chân lý nữa. Phẩm “Mạn Thù Thất Lợi”, quyển 574, Hội thứ VII. Phật hỏi:

- “Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi đối với Phật pháp lẽ nào không mong cầu?

- Bạch Thế Tôn! Nay con chẳng thấy có pháp nào chẳng phải Phật pháp thì cầu chỗ nào?

- Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi đối với Phật pháp đã thành tựu rồi chăng?

- Bạch Thế Tôn! Con nay đều chẳng thấy pháp khá gọi Phật pháp, thì thành tựu cái gì?”

Chúng ta phải hiểu câu nói của Bồ tát được xem là trí tuệ vào bậc nhất trong hàng Bồ tát khi Ngài tuyên bố: “Con chẳng thấy pháp nào chẳng phải là Phật pháp thì cầu chỗ nào?” Ai cũng biết Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi hay Văn Thù Sư Lợi, một bậc đại trí, là vị cổ Phật, hiện thân làm Bồ tát, giúp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo hóa chúng sanh ở cõi Nam Thiệm bộ châu này. Ngài biết rõ pháp nào cũng là pháp Phật. Vậy, cầu làm gì? Hay nói cách khác Bồ tát Mạn Thù biết pháp Phật không do ai làm ra, pháp Phật có sẵn trong thân, pháp Phật có sẵn ngoài thân, pháp Phật tràn đầy trong trời đất. Chỗ nào cũng là pháp, pháp nào cũng gọi là pháp Phật thì cầu làm gì?

Đó là hiểu đạo, hiểu Đạo thì thấy Đạo. Đạo chính là tự thể, là máu mủ của chính ông. Ông là đạo, thì cầu đạo chỗ nào? Cũng vậy, Phật thuyết pháp 49 năm mà nói:

 

“Từ đêm Ta thành Đạo

Đến khi nhập Niết bàn

Ở trong khoảng giữa ấy

Ta trọn không có nói

Duyên tự pháp trụ

Nên Ta nói thế ấy”.

 

Phật cũng không làm ra pháp, pháp có khắp trong trời đất, duyên tự pháp trụ. Pháp nhĩ tự nhiên. Hiểu pháp tức là pháp. Hiểu đạo tức là Đạo. Pháp đó chính là Phật, Phật chính là đạo.

Bây giờ, chúng ta ai cũng biết đạo phát xuất từ đâu rồi. Vậy, đến lúc cần úp sách lại, không mượn chữ, mượn lời hay mượn pháp nữa. Không nói khổ nói lạc, không nói sanh tử Niết bàn, không nói phiền não hay Bồ đề, không nói đạo hay vô đạo... Quên đi tất cả tội lỗi, phước nghiệp, trí đức, quên luôn cả Bát nhã Ba la mật. Còn nhớ là còn bị nó trói.

 

Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Thiền sư Đạo Minh (Trần Tôn Túc) pháp tự đời thứ tư của Nam Nhạc Hoài Nhượng, truyền thừa của Hoàng Bá Hy Vận, cùng thầy Tăng giảng kinh uống trà. Sư bảo thầy Tăng:

- Ta không cứu ông nổi đâu!

Tăng nói:

- Mỗ đây không hiểu, xin thương tình chỉ thị.

Sư đưa cái bánh dầu lên chỉ thị, nói:

- Cái này là cái gì?

Tăng đáp:

- Sắc pháp.

Sư nói:

- Cái gã nấu dầu này!

Nếu có thể bàn thì chúng tôi tự hỏi: Cái bánh thì nói là cái bánh, tại sao lại nói là sắc pháp? Bởi vì tập khí nghe kinh, đọc sách, giảng luận lâu ngày nên sặc mùi kinh kệ, quên đi là mình đang sống, sống một đời tự tại. Đừng mắc phải bệnh này. Phải phủi sạch tất cả mọi tương duyên, không để bất cứ thứ gì ràng buộc, nếu không bị Sư mắng: “Cái gã nấu dầu này”. Tại sao bị mắng là gã nấu dầu? Vì cái bánh mà nói là sắc pháp, nói như vậy là nói láo, nên bị Diêm vương nấu dầu.

Học Bát nhã Ba la mật là khai phóng, tự mình làm chủ lấy đời mình, sống trong tỉnh thức dần dà thì được tịch lặng an nhiên thôi.

 

Kết luận:

(Cho phần Tổng kết toàn bộ)

 

Tất cả Kinh điển thuộc hệ Bát Nhã, có rất nhiều pháp môn, mỗi pháp môn có giá trị riêng của nó như trong một xâu chuỗi mà mỗi viên ngọc tròn trịa đều đặn không những tự nó chiếu sáng làm tăng giá trị cho chính nó mà còn nâng giá trí rạng rỡ cho toàn thể chuỗi ngọc. Nói như vậy không có nghĩa tu học Bát nhã Ba la mật là phải học một pháp môn hay học toàn thể tất cả pháp môn. Tu hành 81 khoa danh tướng Bát Nhã được gọi là các pháp mầu Phật đạo đã được xem là quá nhiều quá khó, không biết bao nhiêu đời kiếp mới có thể hoàn tất nói chi đến 84.000 pháp môn. Phẩm “Thông Đạt”, quyển 566, Hội thứ VI, ĐBN. Phật bảo trời Tối Thắng: “Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát tu học một pháp mà có thể thông đạt tất cả pháp, pháp đó là Bát nhã Ba la mật”. Phẩm “Pháp Tánh”, quyển 569, Hội thứ VI, ĐBN. Phật bảo: “Thiên vương nên biết! Đối với các pháp ta đã nói ở trước, Bồ tát nào chỉ tu một hạnh là đầy đủ các pháp. Như vậy, một hạnh cũng sanh về cõi Phật thanh tịnh. Vì sao? Vì trong mỗi một hạnh đầy đủ các hạnh”.

Vậy, tùy theo điều kiện, tùy theo ước nguyện, căn cơ tu một pháp đến chỗ rốt ráo thì cũng có thể biết tất cả pháp; tu một hạnh được đầy đủ tất cả hạnh, cũng được sanh về cõi Phật thanh tịnh, còn muốn gì hơn! Hãy theo chỉ dẫn này mà tu tập thì có thể vuông tròn hạnh nguyện.

Thích nghĩa cho phần Tổng luận:

(1). Duyên khởi: Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên (các điều kiện) hòa hợp mà thành, lý này gọi là duyên khởi. Tức là bất cứ vật gì trong thế giới hiện tượng đều nương vào những điều kiện nhân duyên mà sinh ra, tồn tại, biến hóa (vô thường) và tiêu diệt. Đó là pháp tắc mà đức Phật đã chứng ngộ được. Như 12 chi duyên khởi đã được giải thích rõ trong các Kinh điển A hàm. (Tóm tắt theo Phật Quang Tự điển)

(2). Phỏng theo Phật Quang tự điển.

(3). Khảo luận của Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền luận quyển hạ.

(4). Kinh Thủ Lăng Nghiêm.

(5). Phật Học Phổ Thông, khóa thứ VI - VII, Phật-Học-Viện Quốc-tế xuất bản.

(6). Luật giao thông của Anh quốc: Lái xe bên trái.

(7). Phần “Mạn Thù Thất Lợi”, Q. 575, Hội thứ VII, ĐBN.

(8). An trụ chỗ vắng lặng nhiệm mầu chính là thiền quán nhằm tạo cơ hội chứng ngộ.

 

 

---o0o---

 

 

ĐẠO VÀ ĐỜI

 

 

Những gì Phật chứng, Phật thuyết trong toàn bộ Đại Bát Nhã này nhiều nhất là nói về trí Phật, kế đến nói về tác dụng của tâm và tâm sở, ngã và ngã sở hay nói khác là những liên hệ giữa người với vật hay nói khác giữa người với vạn hữu chung quanh. Nhưng, ở đây không phải Phật cố ý nói lên tác dụng có tánh cách tiêu cực hay tích cực, bi quan hay lạc quan của cuộc sống. Phật chỉ cố nói đến một thứ vận hành gần như là qui luật chi phối toàn thể sinh hoạt tâm linh của kiếp sống con người, mà dưới ảnh hưởng của nó có thể mang lại hạnh phúc hay khổ đau tùy theo hoàn cảnh sống, cách sống hay quan điểm sống của thế gian. Tất cả ảnh hưởng đó dù là chủ quan hay khách quan đều được giải thích một phần nhỏ qua giáo lý nhân quả, nghiệp báo hay luân hồi. Nghiệp là do tạo tác thi vi và quả tức kết quả của tạo tác thi vi mà tác giả phải trực tiếp hay gián tiếp phải gánh chịu tương đương với nghiệp.

Nghiệp có nghiệp riêng, nghiệp chung hay cộng nghiệp do một cá nhân, một nhóm người hay cả cộng đồng phải tự gánh chịu mà không thể “đổ thừa” cho hoàn cảnh xã hội hay lịch sử. Còn luân hồi trong lục đạo ở 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc cũng chỉ là sự tái sanh để trả nghiệp hay hưởng quả trong tương lai, đối với những tạo tác do chính mình gây tạo trong quá khứ hay hiện tại. Nhưng nói riêng về nghiệp là bi quan, cũng bất công, thiên chấp; nếu nói về giải thoát Niết bàn là lạc quan, cũng là một thứ thiên chấp khác nữa; chỉ nói không nghiệp không quả, không Niết bàn có lẽ hợp với lẽ đạo hơn.

Nhưng, Đạo Phật không đóng khung trong khuôn khổ hạn hẹp với các quan niệm về nghiệp báo, nhân quả hay luân hồi thuộc phần nhỏ của Tiểu thừa Phật đạo. Ý chí (Trí) và tình thương (Bi) của Đại thừa là lý tưởng trong việc xây dựng cộng đồng thế giới. Thiếu ý chí, thiếu tình thương, thì đời sống biến thành thao trường của những bạo lực mù quáng. Hãy xem thế giới thực tại phơi bày ra sao trong thế giới đầy biến động này để tìm lấy hướng đi chung. Đó là ý nghĩa của đạo và đời được đặt ra trước khi chấm dứt thiên Tổng luận này.

 

Có vay thì phải có trả. Đó là tự nhiên! Không ai có thể trốn khỏi qui luật này. Không ai có thể tự than “Tôi sanh ra đời dưới một vì sao xấu”, cũng không thể nói có cái gì đó đặt để cho mình, gọi là “định mệnh”. Đổ thừa cho số mệnh hay định mệnh do một quyền lực bí ẩn nào đó là sự qui trách vu vơ, thiếu trách nhiệm. Khôn là trách mình, dại là trách người. Mình làm mình chịu là nhân bản, là công bằng!

Tại sao có những đứa trẻ xuôi ngược trên bãi rác mênh mông đầy hôi thối, dưới ánh nắng thiêu đốt của mặt trời để nhặt những túi nylon, những bao bì bằng plastic hay những chai lọ bẩn thỉu để đổi lấy miếng ăn? Tại sao trẻ em của các quốc gia nghèo đói chậm tiến không cơm ăn, sữa bú, ốm o chết lần chết mòn trên cánh tay của mẹ? Tại sao những người da đen sống cuộc đời nô lệ, cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm, bị đối xử còn kém hơn các con chó ở các quốc gia Tây Âu xưa cũng như nay? Chén cơm chưa đủ mặn mồ hôi và nước mắt thì chưa thấm mùi đời. Phải nếm đủ mùi tân khổ (cay đắng) mới hiểu giá trị của cuộc sống. Thượng đế bảo vậy? Tại ông Trời hay số mệnh chăng? Vô lý! Không có Thượng đế hay ông Trời nào muốn đày ải chúng sanh. Thiên đế, Trời cũng do tu thập thiện mà ra. Còn nói là do số mệnh, lại còn vô lý hơn nữa, không có số mệnh nào an bài ở đây. Tất cả đều do nghiệp, nghiệp riêng của từng cá nhân phải trả do mình gây ra. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ. Nghiệp chung, nghiệp tập thể mới đáng sợ!

Ở thời đại phong kiến khi quan niệm “thế thiên hành đạo” ra đời. Những kẻ có chút ít khôn ngoan hay sức mạnh, tự cho mình là con trời, đã nắm giữ quyền hành, cái gọi là “thế thiên hành đạo”, một thứ khoác lác mị dân, chỉ cốt tước đoạt tài sản và sanh mệnh của bao con dân vô tội. Người tạo các chủ thuyết như vậy chỉ để trục lợi cho bản thân, mà không cần biết bao nhiêu sanh linh quằn quại đọa đày trong các chiến trường máu lửa hay các công trường xây dựng lâu đài vĩ đại uy nghi để cho cá nhân hưởng thụ. Dân đen trở thành nô lệ của chế độ quân chủ chuyên chế, một thứ quái thai của thời đại cổ xưa! Ở đây dân đen không có một chọn lựa nào hết! Đổ thừa cho thiên mạng (mạng trời) chăng?

Tiến lên một chút, những người có tư tưởng cấp tiến, muốn thỏa mãn nguyện vọng của dân đen, nên luôn luôn nổi dậy làm cách mạng lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến này và thay vào đó chế độ quân chủ lập hiến, để mọi tầng lớp dân chúng có quyền tham dự vào chính trường trong việc quản trị tài sản chung của quốc gia, cũng như tài sản riêng của từng cá nhân sống trong quốc gia đó. Nhưng chủ thuyết này cũng không chận đứng nổi tham vọng của những kẻ độc đoán nắm chính quyền vẫn còn đó.

Tiến lên chút nữa, dân chúng muốn hoàn toàn loại bỏ giai cấp thống trị gọi là vương quyền để thay thế vào đó chế độ dân quyền. Dân chúng tạo hiến pháp, chia các cơ quan công quyền thành ba loại khác nhau là hành pháp, lập pháp, tư pháp và bầu cử các đại biểu tham dự vào các cơ quan công quyền trên, để thay thế cho dân chúng trong việc quản trị quốc gia dân tộc. Chế độ dân chủ lập hiến thay thế cho chế độ quân chủ lập hiến ra đời. Đó là một sự tiến bộ vượt bực.

Nhưng chế độ này cũng chưa hoàn chỉnh, vẫn còn hố cách biệt giữa những người khôn ngoan giàu có đối với những người gọi là “dân phu khu đen” nghèo khổ ít học. Chế độ tư bản ra đời với những quyền lực “hợp pháp hợp hiến” của nó.

Để chấm dứt tình trạng chênh lệch này, chế độ cộng hữu nẩy sanh. Những nhà làm công việc xã hội muốn đem lại một thế quân bình mới. Chủ trương tài sản của quốc gia chính là tài sản của toàn thể dân chúng. Đại biểu của dân chúng là những người được bầu lên để quản trị tài sản chung đó và nó phải được phân chia đồng đều cho tất cả mọi người dân. Nhưng chế độ này lại tạo thành một giai cấp mới còn tàn độc hơn chủ nghĩa tư bản. Karl Marx, một kinh tế gia, một sử gia, một nhà xã hội học, một lý thuyết gia chánh trị, một phóng viên thời đại của thế kỷ XIX, với chủ thuyết cộng hữu mà vô hình chung chia thế giới làm hai khối, giết hại lẫn nhau không kể xiết!

Biết bao sanh linh vô tội chết mòn mỏi trong cảnh tù đày hay phơi thây ngoài chiến trường hoặc chôn thây trong những nắm mồ tập thể… là do tham vọng hay tư tưởng gây nên bởi mệnh Trời theo đạo Lão khi xưa hoặc thời cuộc nói theo chánh trị hôm nay? Hãy tự thấu rõ nguyên nhân để tránh hậu quả. Đừng bao giờ kết án vu vơ để trốn tránh tội ác đã phủ lên đầu những dân đen thấp cổ, bé họng.

Ai đọc thế giới sử cũng không quên một cuộc chiến tranh qui mô xảy ra hơn chín lần phát động của cái gọi là Thập tự chinh từ cuối thế kỷ thứ XI cho đến cuối thế kỷ thứ XIII giữa các quốc gia Tây Âu do sự kêu gọi của đức Giáo Hoàng, tiến hành bởi các vị vua và những người quý tộc tình nguyện cầm cây thập tự giá tiến về Trung Đông với mục tiêu phục hồi vùng Đất Thánh (Jerusalem) do các dân tộc thuộc Hồi giáo chiếm đóng. Dù giải thích với danh nghĩa nào hoặc chính trị hay kinh tế, các sử gia xưa cũng như nay đều cho nguyên do của các cuộc động binh tàn khốc này không ngoài lý do tôn giáo giữa các quốc gia Công giáo hay Kitô với các quốc gia Hồi giáo(1).

Lịch sử không dừng ở đó. Sự nổi dậy của một nhóm khủng bố gốc Hồi giáo có tên là Isis tại Trung đông sau chiến tranh Iraq, tàn sát những người da trắng và các liên minh của họ một cách man rợ. Những người trong và ngoài cuộc đều kết án là bọn khủng bố gây chết chóc đau thương bởi nhóm Isis này là để trả thù nợ máu truyền kiếp do đoàn Thập tự giá năm xưa gậy nên. Không biết những phê phán đó có chủ quan hay không? Nhưng nhìn cách chém giết man rợ không có duyên cớ, nên kết luận là do “hận”. Hận đó có thể là do quyền lợi kinh tế, hận đó là do màu da sắc áo dân tộc hay hận đó do tôn giáo gây nên hay có lẽ, là tổng hợp của tất cả các nguyên do trên?

Một thí dụ khác liên quan đến Phật giáo mà những người theo đạo Phật hôm nay đều rõ: Sự tàn sát của những người Hồi giáo đối với Viện đại học Nalanda tại Ấn Độ. Viện Đại học này tọa lạc gần Rajgir trong bang Bihar, Ấn Độ; một vùng đất tập trung nhiều di tích lịch sử và tôn giáo, kể cả Bồ đề Đạo tràng, nơi Đức Phật thành đạo. Khu vực này là trung tâm của vương quốc cổ Magadha (Ma kiệt đà), nổi tiếng do Đại đế Ashoka (vua A Dục) thống trị, có ảnh hưởng lớn lao trong việc bảo trợ và truyền bá Phật giáo khắp Á châu.

Viện Đại học Nalanda nguyên thủy được thành lập từ năm 413 và bị tiêu hủy vào năm 1193, bởi một viên tướng Hồi giáo người Thổ Nhĩ Kỳ (gốc Afghanistan là Muhammad of Ghor). Viên tướng Bakhtiyar Khilji đã thiêu sống và chặt đầu hàng ngàn Tăng sĩ vì hắn cố gắng bằng mọi giá tiêu diệt Phật đạo. Các tài liệu còn lưu lại nói rằng có hơn 3.000 sinh viên Tăng sĩ được tập họp và nhận lệnh nếu người nào đặt tay lên kinh Koran tuyên bố bỏ đạo thì được tha mạng sống, người nào chống lại sẽ bị chặt đầu. Tất cả đều không bỏ đạo. Thế là 3.000 tín đồ Phật giáo, 3.000 cái đầu rơi xuống, máu chảy thành sông, thây chất thành núi. Còn việc đốt phá tòa thư viện đã diễn ra trong suốt nhiều tháng và “khói từ những bản sách viết tay bị đốt cháy đã tụ lại như một tấm màn đen bao phủ khắp những ngọn đồi phía dưới suốt nhiều ngày liên tiếp”. Đạo Phật Ấn độ bắt đầu suy thoái từ đó!

 Không những tín đồ Phật giáo bị tàn sát mà cả những tín đồ khác nằm trên lộ trình tiến quân của tướng Bakhtiyar Khilji từ Thổ Nhĩ Kỳ xuyên qua các quốc gia láng giềng của Ấn độ cũng bị số phận máu lửa như vậy. Thật quá khủng khiếp!

Mới đây nước Myanmar (tên cũ là Miến Điện) có tiếng là mộ đạo, 89.3% dân chúng của quốc gia nầy theo đạo Phật và dưới thời Thủ tướng Ne Win, Phật giáo từng được đưa vào Hiến pháp là quốc giáo. Thủ tướng U Nu là người đem lại vẻ vang cho đạo Phật tại Đông Nam Á, cũng bị rơi vào cuộc khủng hoảng giữa nhóm chủ nghĩa Phật giáo dân tộc cực đoan Miến và nhóm Hồi giáo người Rohingya sống ở bang Rakhine. Sự khủng hoảng này bắt đầu từ trước năm 1970 và bùng nổ dữ dội vào Ngày 09/10/2016 khi một toán võ trang trong “nhóm ly khai của Tổ chức Đoàn kết Rohingya” tấn công nhiều trạm cảnh sát biên phòng thuộc bang Rakhine làm cho 9 cảnh sát viên bị tử nạn. Vũ khí và đạn dược cũng bị cướp đi. Lại có thêm các cuộc tấn công lớn đã diễn ra tại thị trấn Maungdaw của Myanmar nữa.

Dân Miến và quân đội mở chiến dịch “càn quyét” các làng do người Rohingya thuộc đạo Hồi sinh sống ở phía Bắc của bang Rakhine này. Trong cuộc “bố ráp” khởi đầu, hàng chục người đã thiệt mạng và nhiều người đã bị bắt giữ. Số thương vong đã gia tăng theo từng cuộc đàn áp. Những vụ bắt bớ tùy tiện, giết chóc, cướp bóc, hãm hiếp tàn bạo nhắm vào thường dân Rohingya thuộc đạo Hồi, giống như bất cứ một sự xung đột nào khác. Theo báo cáo của giới truyền thông, hàng trăm người Rohingya đã bị giết và nhiều người đã trốn khỏi Myanmar với tư cách tị nạn trong các khu vực lân cận như Bangladesh. Cuối tháng Mười một, Tổ chức theo dõi Nhân quyền HRW công bố hình ảnh vệ tinh cho thấy rằng có khoảng 1.250 ngôi nhà của người Rohingya trong năm ngôi làng đã bị thiêu rụi bởi các lực lượng an ninh. Dân thiểu số Rohingya gốc Hồi ở bang Rakhine phải bế bồng chạy loạn qua các quốc gia láng giềng, nhiều nhất là vượt Sông Naf để vào Bangladesh tại thị trấn Palongkhali. Liên Hiệp Quốc nói rằng có tới 537.000 dân sắc tộc Rohingya đã tới Bangladesh trong vòng 7 tuần,  kể từ hôm 16/10/2017. Con số này còn tăng hơn thế nữa sau đó.

Ở đâu dân tỵ nạn Rohingya cũng bị đuổi xô gần như không còn đất sống. Ủy ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc mở cuộc điều tra, các cơ quan như Giáo hội Vatican, bộ ngoại giao Hoa kỳ, các chánh phủ như Mã Lai Á, Thái Lan, Indonesia... cáo buộc tình trạng này như là một “tội ác chống lại nhân quyền”, “thanh lọc sắc tộc” hay “diệt chủng” v.v... Nhưng đến nay vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng nào có thể xoa dịu mối đau thương quá to lớn đối với những người Rohingya gốc Hồi giáo này(3).

Những người thuộc đạo Phật tại Myanmar phải ý thức về trường hợp này. Đây không phải là cuộc di dân kinh tế, chính trị hay mệnh trời, cũng không thể nói đây là nghiệp riêng, nghiệp chung hay cộng nghiệp của những người Hồi giáo hôm nay, phải trả cái quả báo to lớn cho ông cha của mình khi xưa, mà đây tạm nói là những nạn nhân thời cuộc đảo điên gây ra, cần phải giúp đỡ. Hãy quên quá khứ đau buồn và phải nhìn hiện tại và tương lai trong mối bao dung của tứ vô lượng.

Chúng ta lên án Công giáo trong cuộc Thập tự chinh chăng? Chúng ta kết tội Hồi giáo tại Trung đông trong các cuộc bạo động thảm sát xưa và nay chăng? Chúng ta qui trách nhóm chủ nghĩa Phật giáo dân tộc của Myanmar v.v... ? Tất cả là do những người lãnh đạo ẩn náu dưới chiêu bài tôn giáo gây tội ác này chăng? Không! Không có bất cứ một thứ tôn giáo chánh thống nào lại chủ trương bạo động cả. Đừng buộc mà phải mở!

Những cuộc di tản chính trị, kinh tế, tôn giáo hay chủng tộc lúc nào, ở đâu, bao giờ cũng trở thành mối quan ngại chung cho toàn thể cộng đồng quốc tế. Không ai trên thế giới có thể quên được cuộc thảm sát của những người Hồi giáo đối với dân tộc Do Thái, buộc con dân của quốc gia này phải sống tha hương cầu thực trên toàn thế giới. Cũng không ai quên được tội ác diệt chủng của Đức quốc xã một lần nữa đổ lên đầu dân tộc này khi họ bị tập trung để đưa vào “hỏa lò”.

Rồi đến chiến tranh Đông Dương từ sau Hiệp định Genève năm 1954 kéo dài đến năm 1975 của người Việt, Miên, Lào. Bom đạn máu lửa xảy ra từng giờ từng phút, từng giây gây tử vong cho các dân tộc này khoảng từ 2-4 triệu kể cả quân đội đồng minh tùy theo thống kê, con số này ngang hàng hay hơn tổng số các dân tộc tử vong trên toàn thế giới trong Đệ nhị thế chiến. Chưa hết, sau năm 1.975 cũng tại ba quốc gia này, lại từng đợi người được mệnh danh là “Boat people” hoặc theo đường bộ hoặc chèo thuyền vượt biển tìm tự do đã bị bắt cóc, hãm hiếp hoặc chôn xác dưới lòng biển. Rồi đến năm 1990, những người dân Serbs chạy tứ tán qua các quốc gia Tây Âu trong chiến tranh Kosavo. Đến năm 2011 cho tới bây giờ đất nước Syria chỉ có 22 triệu dân mà 6,5 triệu phải bỏ nhà bỏ cửa ra đi lánh nạn, trong đó có hơn 3,2 triệu người hiện sống trong các trại tỵ nạn trên vùng đất Turkey (Thổ nhĩ kỳ). Đất nước Syria chỉ còn là đống gạch vụn, một vùng oanh kích tự do. Thật quá thương tâm không những cho dân tộc Syria mà cả đến những người Trung Đông và Bắc Phi lưu vong, đi đến đâu bị đuổi xô tới đó, phải sống lạc loài vô định. Còn nữa, đến năm 2016 lại xảy ra việc di tản cả triệu người Rohingya gốc Hồi giáo tại Myanmar như đã nói trên. Mới đây Trung Cộng bị cáo buộc đã tập trung cải tạo hơn 2 triệu dân thiểu số gốc Uighur, Kazakhstan và những sắc dân theo Hồi giáo sống ở miền Tân Cương Trung Quốc, gần Kazakhstan.

Ai đã từng sống trong các trại cải tạo, các trại tỵ nạn, các nhà tù hay các trại tập trung do chiến tranh hoặc các hỏa lò thiêu sống hay hơi ngạt của những kẻ bạo tàn kỳ thị... mới hiểu cảnh khổ đau cả thể xác lẫn tinh thần... Con người ở trong bất cứ cảnh huống nào, dù tận cùng của địa ngục trần gian, còn hơi thở là còn hy vọng sống. Chính nguồn cảm hứng tuôn trào từ cuộc sống đau khổ, rồi từ cái đau khổ đó mà nảy sanh đại bi, phát nguyện thương yêu muốn cưu mang cho tất cả những người cùng đau khổ như mình.

Tôi chứng kiến một đoạn phim (film) thời sự, bọn Isis hành hình những người hợp tác với chánh quyền chống lại chúng, ở nơi nào mà chúng tạm chiếm. Những tù binh bất đắc dĩ này bị đưa đi hành huyết. Họ được dẫn đến một cái mương hẹp trên một khoảng đất trống. Vừa tới đó khi tiếng súng phát ra, tất cả những nạn nhân đáng thương đó dành nhau nhảy vào cái mương sâu chưa được một thước. Họ dành nhau nhảy vào đó không phải dành sống, mà họ dành được chết trước, chết để được an thân. Quá thảm! Ở thời đại Phật, Phật thấy đau, già, bệnh, khổ... đã là mối động tâm lớn của Phật. Ở thời đại chúng con, thảm cảnh nhân loại như thế đó!

 

Ở đây chúng tôi không phải bàn về pháp chế sử hay lịch sử của các tôn giáo trong xã hội loài người. Ở đây chủ đích của chúng tôi cũng không muốn bàn về định mệnh, nghiệp riêng hay chung của cá nhân hay tập thể. Ở đây chúng tôi cũng không muốn cáo buộc bất cứ hành vi gây tội ác nào, mà ở đây chúng tôi cốt nêu lên thái độ sống, cách sống hay nói khác là quan niệm sống của mỗi con người chúng ta trong mối tương quan giữa con người với con người, giữa con người với quốc gia, giữa các quốc gia với nhau hay giữa các quốc gia với cộng đồng quốc tế... trong sự sống còn của nhân loại.  

Hiến chương Liên Hiệp Quốc được xem là qui ước quan trọng, một thứ luật lệ tối cao của cộng đồng quốc tế cũng không thể chận đứng những hành động điên rồ tạo nguy hại cho toàn thể nhân loại. Ở thời đại digital này chỉ cần một chữ nhập vào (enter) hay một cái bấm nút, cả thế giới trở thành tro bụi. Đó là cách tự sát nhanh chóng nhất của con người.

Nhưng chết từ từ, chết chậm rãi còn đau đớn hơn mà nhân loại chưa đặt vào tình trạng báo động. Đó là tình trạng suy hóa của môi sinh từ không khí, sông nước, biển cả, rừng núi, cỏ cây, cả đến đất đai nữa v.v... Con người sanh theo cấp số nhân trong khi lương thực tăng theo cấp số cộng, còn đất cát càng ngày càng tế phân từng mảnh vụn, thu hẹp bởi nạn nhân mãn. Vì vậy, nên con người phải khai thác, tận dụng thiên nhiên càng nhiều càng tốt để tiếp tục sống còn. Đó là vấn đề!

Khí Ozone do các chất thuộc dạng freon tạo thành, không tự có trong thiên nhiên mà do con người tạo ra có tính độc hại rất cao. Khí này chủ yếu được hình thành từ các hoạt động công nghiệp như nhà kiếng (green houses), khu kỹ nghệ, khai thác quặng mỏ, xử dụng khí đốt, xử lý rác thải, cháy rừng… Khí này làm cho tầng ozone (Ozone layer) bao chung quanh trái đất trở nên mỏng ra, có chỗ bị thủng, các chuyên viên không gian và các khoa học gia tiên đoán phải mất hàng chục năm (ít nhất phải mất 30 năm hay nhiều hơn) mới tái tạo lại được.

Hậu quả của sự suy thoái của tầng ozone này là không ngăn chận được tia tử ngoại (ultra violet) của ánh sáng mặt trời mà ảnh hưởng của nó một mặt gây nguy hại đến sức khỏe của nhân loại như tạo nhiều bệnh lý cho cả người lẫn vật; mặt khác là làm nhiệt độ của quả địa cầu tăng dần, gây nên bão tố, lụt lội, tuyết tan, mực nước biển dâng lên, diện tích chăn nuôi trồng trọt bị thâu hẹp lại. Sức nóng càng ngày càng tăng làm cho việc trồng lúa gặp nhiều trở ngại (hạn hán, sâu rầy, năng suất thâu hoạch kém về phẩm cũng như về lượng). Các chuyên gia nông nghiệp ước đoán ít nhất có đến 600 triệu các dân tộc dùng lúa gạo bị rơi vào tình trạng đói kém. Nhiệt độ của quả cầu cũng làm cho hằng trăm sinh vật bị diệt chủng v.v... và v.v...

Đó là chỉ nói đến những ảnh hưởng của chất ozone do con người tạo ra chưa kể việc thải hồi các độc chất như công ty hóa chất của Đài loan có cơ sở tại Việt nam đã đâm vào biển cả của quốc gia này chất formosa làm cho hàng trăm ngàn loài thủy tộc bị tiêu diệt mà không biết bao nhiêu thế kỷ mới có thể phục hồi, là một thí dụ. Ngoài ra, các công ty của Trung Quốc cũng như một số các quốc gia khác thải hồi bừa bãi những độc chất có tánh cách phóng xạ hay nồng độ toxic cao trên đất nước Phi châu hay trên các vùng biển hẻo lánh... Trước các vấn đề đó, vai trò của các khoa học gia, các lãnh tụ Kinh tế, chính trị hay tôn giáo thế giới phải có thái độ như thế nào?

Chúng ta biết rằng: Đe dọa càng lớn, trách nhiệm của nhân loại càng cao. Đã có các hội nghị thượng đỉnh giữa các quốc gia diễn ra nhằm đối phó với các hiểm họa này. Tuy nhiên, kết quả không được rõ rệt lắm! Các tôn giáo không thể im lặng trước các vấn đề sinh tồn của nhân loại. Vai trò của các tôn giáo phải đặt vào vị trí nào trong việc bảo toàn nhân loại đây?

Riêng Đại Bát Nhã cũng như các Kinh khác của Phật đạo chủ trương phá ngã, diệt tội, thành thục chúng sanh, thanh tịnh Phật độ. Đó là tôn chỉ lớn trong việc xây dựng cộng đồng xã hội. Đơn vị nhỏ nhất để xây dựng cộng đồng chính là cá nhân. Một cá nhân trong sáng, thanh tịnh, thì gia đình được thanh tịnh, vui tươi, hạnh phúc. Một gia đình thanh tịnh thì xóm làng, quận thanh tịnh. Xóm, làng, quận, tỉnh thanh tịnh thì cả nước được thanh tịnh. Cứ thế mà lan rộng cho cả thế giới. Vậy, trách nhiệm chung của cộng đồng bắt đầu từ cá nhân. Muốn thế thì mỗi cá nhân phải tự hiểu quyền lợi và trách nhiệm của mình.

Ngày nay, thế giới gặp quá nhiều nguy cơ, ngoài nguy cơ do thiên nhiên tạo thành như đã nói trên, còn có nguy cơ của chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề chạy đua vũ trang của các cường quốc. Cái nguy hại to lớn là sự phát triển bom hạt nhân (nuclear bomb). Các quốc gia thi đua vũ khí đã chế ra những quả bom nguyên tử to lớn như bom hydrogen Tsar bomba (king of bombs) của Liên Sô, có sức ép từ 50 cho đến 100 megatons, chiều dài 26 bộ, đường kính 7 bộ và nặng khoảng 60.000 cân Anh, loại vũ khí giết người có mức độ tàn phá không thể tưởng tượng nổi gắp 3.300 lần sức tàn phá ở Hiroshima. Nếu thả một quả bom như thế xuống thành phố Sài gòn thì một con ruồi ở Vũng tàu cũng chết. Bán kính tàn phá của nó trên cả trăm cây số và nhiệt độ tăng hàng ngàn, hàng chục ngàn hay hơn nữa, nên nói một con ruồi bị chết, chẳng có gì quá đáng. Đó là tôi nói chuyện xưa cách đây hơn nửa thế kỷ (khoảng 1955 đến 1965 dưới thời Khrushchev). Ngày nay, các cường quốc muốn tiêu diệt nhau nhanh chóng, đã chế tạo các hỏa tiễn có tốc độ cao và to lớn có thể mang đầu đạn nguyên tử để bắn qua các lục địa, hay cất giấu bomb hạt nhân trên quỹ đạo trái đất để có thể tấn công đối thủ mau lẹ hơn, ghê gớm hơn. Đó là một sự tiến bộ vượt bậc, nhân loại đã thực hiện một bước nhảy, “một bước nhảy khá dài về đàng sau”, đã thành công trong việc giúp nhân loại tự sát một cách nhanh chóng nhất.

Nhưng chết oằn oại chậm rãi mới là cái chết đáng sợ. Chúng tôi muốn nói đến các bệnh dịch do siêu vi trùng (virus) gây nên. Có ba trường hợp lớn trong lịch sử nhân loại được cơ quan Y tế thế giới (WHO) ghi nhận là: 1. Xảy ra tại Trung Quốc từ ngày 1/11/2002 tới 7/8/2003, có một loại dơi truyền virus corona (SARS=Severe Acute Respiratory Syndrome dạng CoV) qua heo, rồi từ heo truyền sang người, gây tang tóc cho 32 quốc gia trên thế giới, khiến 8.422 người nhiễm bệnh‌, trong đó 916 người t‌ử von‌g; tai nạn thứ 2. xảy ra tại Trung Đông được xác định đầu tiên tại Saudi Arabia vào năm 2012, cũng cùng loại với siêu vi Virus corona (MERS= Middle East Respiratory Syndrome dạng CoV) khiến 851 người tử vong. Bệnh này phát xuất từ dơi truyền sang lạc đà, sau đó truyền sang người nhưng tác hại kém hơn; và tai nạn thứ 3. cũng do coronavirus đồng loại với SARS và MERS, có tên mới là  COVID-19 (4). Người ta cho rằng bệnh này phát xuất từ chợ bán súc vật (wet market) tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Đây là loại hội chứng hô hấp cấp tính mới, nghiêm trọng nhất, truyền nhiễm qua không khí, phát triển rất nhanh chóng. Nguồn gốc bệnh này chưa xác định rõ ràng. Tính từ ngày 12/12/2019 cho đến ngày 04/03/2021, Johns Hopkins University báo cáo có hơn 130.548.634 trường hợp bị nhiễm Covid-19 và số tử vong lên hơn 2.842.144 người. Theo Worldometer Coronavirus USA tường trình cho đến nay có tất cả 131.222.773 người bị nhiễm, số tử vong lên đến 2.855.315 và khoảng 221 quốc gia và các lãnh thổ trên thế giới bị nhiễm. Con số này còn tăng thêm từng giờ, từng phút, từng giây vì còn quá sớm chưa có thể tổng kết hết được. Đó là con số đáng ngại, ngoài việc gây đau thương chết chóc lan tràn trên 221 quốc gia, đồng thời gây khó khăn trầm trọng cho nền Kinh tế toàn cầu trong vài năm sắp tới nữa. Nếu nạn này do thiên nhiên gây nên thì chẳng có gì đáng trách, nhưng nếu thật sự phát triển siêu vi trùng để tạo vũ khí gọi là bom vi trùng (virus bomb), một loại vũ khí sinh hóa (biological weapon) để giết người hàng loạt, là tội phạm lớn đối với nhân loại, cho dù là sơ xuất.

Thử tưởng tượng một thứ chiến tranh xảy ra khi con người tận dụng tất cả các loại vũ khí như vậy để giết hại lẫn nhau, thì nhân loại sẽ đi về đâu? Thế giới không ngớt bị đe dọa dưới hình thức này hay hình thức khác, nên phải cùng nhau cảnh giác!

Hơn bao giờ hết, phải có sự đoàn kết giữa các quốc gia trên thế giới, phải có sự chia sẻ và cưu mang lẫn nhau mới mong tránh khỏi diệt vong. Không thể kêu gọi suông, tôn giáo phải có bổn phận hướng dẫn quần chúng trong việc bảo vệ sự sống còn cho toàn thể nhân loại! Đừng bao giờ cho đây là vấn đề chính trị nằm bên lề tôn giáo. Người tu không phải quay lưng với cuộc sống, mà ngược lại phải đối diện với cuộc sống. Albert Einstein từng nói: Thế giới sẽ bị hủy diệt không phải bởi những người làm điều ác, mà bởi những người đứng khoanh tay nhìn mà không làm gì cả”(5). Đó là trách nhiệm chung của nhân loại kể cả những vị tu Bồ tát đạo, không thể thoái thác được! Tu là rộng mở tâm hồn, mở rộng đại bi trong bất cứ trạng huống nào. Thế mới tốt!

 

Kết luận:

 

Tất cả cái gì được ghi lại trong toàn thiên Tổng luận này đều “nặng mùi” giáo điều, toàn thuyết về Phật pháp, kỹ thuật tu trì quán tưởng và nhất là trí tuệ Phật. Tác giả “y Kinh giải nghĩa”, mượn lời Phật, Tổ để giải thích lời của Phật, Tổ. Chúng tôi sợ cảnh “luận từ chương, khảo Kinh điển” mà người ta thường gọi là bọn tông đồ tri giải, nhưng nhiều chỗ trong thiên Tổng luận này, khó tránh khỏi. Vào lúc cuối cùng trước khi dừng bút lại nói về đạo và đời, một thứ động niệm đối với người tu “khép kín”. Tuy nhiên tu, hành và sống là các phương cách song hành trực tiếp thể hiện sinh hoạt của cuộc đời kể cả Tăng lẫn Tục. Thật khó có thể ngoảnh mặt làm ngơ trước ngưỡng cửa của cuộc sống đối với những biến cố đau lòng đang và sẽ xảy ra cho nhân loại.

 Nếu sống, học hỏi, đọc tụng sách vở thế nhân bằng những thứ nhục cảm tham ái thường tục không thôi, chắc chắn lạc mất tâm đạo. Nhưng tu viễn ly, gò bó trong một khuôn khổ nào đó, cũng chưa hẳn là hoàn chỉnh. Có đời mà không có đạo, không phải là điều tốt. Trái lại, có đạo mà thiếu đời chưa hẳn là toàn diện. Không có đời làm gì có đạo, đó là cái có thể tin được. Dung hợp cả hai, có lẽ là phương-tiện-lực tác động đem lại nhiều sinh lực mới.

 Quan điểm tác giả của thiên Tổng luận này là cố gắng kết hợp đạo và đời với kinh nghiệm nội chứng riêng, diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ riêng đối với những gì đã chứng kiến nói theo hoàn cảnh khách quan, chứ không phải để biểu lộ cá tính. Đó chỉ là tâm huyết, tâm đạo của một tục gia đối với Đạo và Đời. Tuy nhiên, chỉ e rằng những kiến giải cá nhân có tánh cách chủ quan do khát vọng tâm linh, có thể gây động niệm cho cả mình lẫn người. Nhưng, cái gì xảy ra trong cuộc sống cứ để nó phô diễn tự nhiên theo cái trôi chảy xuôi ngược của dòng đời miễn giữ được tâm đạo.

Có va chạm thực tế, mới có những kích động xảy ra. “Dòng luân lưu của nhân sinh hay cái trôi chảy của cuộc sống, không phải là lối quán tưởng siêu hình hay luyện trí suông mà có thể chứng nhập trạng thái siêu nhiên, dung thông tất cả mâu thuẫn hay tán loạn trong sinh hoạt của cuộc sống”(6). Nếu Thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhatta) không chứng kiến cảnh già yếu, chết chóc, đói khổ, bệnh tật,... tại các cửa thành Ca tỳ la vệ (Kapilavastu) và những điều đó không trở thành mối động tâm lớn đối với Ngài, thì con đường cứu khổ không được vạch ra và có lẽ Phật đạo không xuất hiện ở thế gian. Chính những kích động của cuộc sống trôi chảy mới là chất liệu sinh động, có thể đánh thẳng vào tầng sâu kín nhất của trí năng để từ đó nẩy sanh cái thiên chất phong phú đầy diệu dụng của Trí và Bi. Chúng ta biết rằng chấn động càng lớn thì dao động càng to, dao động càng to mới có thể tạo nên những dư âm kỳ diệu. Nếu Chúa không bị đóng đinh trên Thánh giá thì Chúa không phải là Chúa. Lịch sử tôn giáo trở thành lịch sử tâm chứng cá nhân cũng bởi những lý do đó.

Cứ nghiệm lại xem nghiệp quả của những thống khổ bắt đầu từ đâu ra? Phải chăng bắt nguồn từ cái thân và trái tim nầy: Nóng, lạnh, đói, khát, bệnh tật, yêu thương hay bị đời hất hủi khinh khi... Tất cả các nổi cay đắng, thương đau về vật chất lẫn tinh thần này đều bắt nguồn từ tham ái thủ giữ. Mà tham ái thủ giữ là do bởi thân tâm tiếp xúc với lục trần. Thân là chỗ nương của lục căn, nên sự khổ thọ vui sướng lấy thân làm gốc. Nếu cái gốc đã trừ, thì cái ngọn tự nhiên khô héo. Nhân đã không còn thì quả cũng tự diệt. Tất cả tu hành nói thì nhiều nhưng rốt lại chỉ nằm trong yếu chỉ này thôi!

Lại nữa, ngã và ngã sở tạo thành thân kiến chướng ngại pháp lành. Nên trong đoạn kinh sau đây, phẩm “Bình Đẳng”, quyển 570, Hội thứ VI, ĐBN. Phật dạy Thắng thiên vương Bát Nhã: “Này đại vương! Bình đẳng là quán các pháp không sinh, không diệt, tự tánh vắng lặng. Tất cả phiền não, giả dối, phân biệt, không sinh không diệt tự tánh vắng lặng, gọi là bình đẳng. Danh tướng, vọng tưởng không sinh, không diệt, tự tánh vắng lặng gọi là bình đẳng. Diệt trừ các điên đảo, không sinh tâm phan duyên gọi là bình đẳng. Khi tâm năng duyên đã diệt, thì vô minh hữu ái đều vắng lặng. Si ái đã diệt, nên không sinh ngã và ngã sở, gọi là bình đẳng. Ngã và ngã sở diệt, thì danh sắc vắng lặng, gọi là bình đẳng. Vì danh sắc diệt nên biên kiến chẳng sanh gọi là bình đẳng. Chấp đoạn, chấp thường đã diệt thì thân kiến vắng lặng, gọi là bình đẳng.

Này đại vương! Tất cả phiền não năng thủ sở thủ chướng ngại pháp lành đều nương vào thân kiến mà sinh ra. Bậc đại Bồ tát diệt được thân kiến thì tất cả nghiệp tạo tác và kết sử đều đoạn dứt và vắng lặng. Ví như cây lớn, nếu nhổ gốc rễ thì cành lá đều bị khô héo. Cũng như người không đầu thì chết. Tất cả phiền não cũng vậy, nếu đoạn thân kiến thì kết sử tự diệt.

Này đại vương! Nếu có người quán các pháp không có ngã, thì năng thủ và sở thủ đều vắng lặng”.

Giáo pháp này quá thậm thâm, là pháp bảo trí tuệ: Tất cả gốc rễ phiền não đều nương vào thân kiến mà thân kiến là sào huyệt của ngã. Diệt thân kiến, ngã, ngã sở không nơi nương tựa thì tất cả kiết sử do đâu mà phát sanh? Rốt lại tu hành cốt là phá thân kiến hay nói khác là phá ngã!

Nếu quán các pháp không có ngã, thì năng thủ, sở thủ đều vắng lặng thì được bình đẳng và thanh tịnh, nên được an vui.

Đời có trăm lần vui nhưng có vạn lần sầu. Quá khứ đầy khổ đau, hiện tại cũng chẳng cải thiện được mấy, tương lai mong mỏi khá hơn, nhưng nào có được toại nguyện. Đó là ba thời bất khả đắc. Nếu có nghĩ đến ba thời, nghĩ đến khổ đau tội lỗi thì tốt nhất là niệm Phật, niệm năm mười phút sẽ vơi đi. Nghĩ đến quá khứ cũng niệm, nghĩ đến hiện tại cũng niệm, nghĩ đến tương lai cũng niệm. Nghĩ bất cứ thứ gì dù tốt hay xấu đều niệm Phật. Đi đứng nằm ngồi sáu thời đều niệm. Như vậy, là sống trong chánh niệm thì đời bớt khổ!

 

Chúng ta không thể “bắt đứng” cuộc sống đang trôi chảy, bởi vì nó là như vậy. Tu, hành và sống, những yếu tố trọng yếu trong sinh hoạt xã hội cũng như tâm linh không thể tách rời nhau được! Dung hợp cả ba là thuận đạo. Vậy, nếu có chí hướng cao hơn thì một mặt: Trên cầu Vô thượng Bồ đề (tu), mặt khác, dưới hóa độ chúng sanh theo tôn chỉ bất diệt của những người hành Bồ tát đạo (hành). Rồi ra, nắng mặc nắng, mưa cứ mưa tha hồ ngang dọc đổ xuống cái nghiêng ngã của cuộc sống (sống)!

 

“Sống là động nhưng lòng luôn bất động

Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương

Sống hiên ngang danh lợi xem thường

Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến (7)

                         (Vô danh thị).

 

Nếu làm được như vậy thì không còn một đời thương vay khóc mướn(8), không còn sớm nắng chiều mưa(9) nữa, thì được thong dong. Nghĩa là sống trong tỉnh thức, luôn luôn an trụ trong chánh niệm tức lúc nào cũng rõ ràng thường biết, tự mình làm chủ cuộc đời mình thì có thể xa lìa phiền não. Rồi dần dần đường mê đảo ngược thì được tự tại!

 

Thích nghĩa cho phần đạo và đời:

(1). Viết theo tài liệu “Thập Tự Chinh” của Vikipedia.

(2). Viết theo cuốn “Nalanda University” do Akhilesh Pillalamarri biên soạn.

(3). Viết tóm tắt theo các bản tin tổng hợp.

(4). Loại hội chứng hô hấp cấp tính mới có tên là Covid-19 (viết tắt của chữ Co=corona, vi= virus, d= disease, năm 2019), do một bác sĩ của WHO đặt ra.

(5). “The world will not be destroyed by those who do evil, but by those who watch them without doing anything”. - Albert Einstein.

(6). Tư tưởng của Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận.

(7). Bài thơ này tương truyền do Sa môn Thích Hạnh Hải sáng tác, nhưng chẳng có gì làm chắc. Câu trước tác cuối cùng thật bất hữu, chỉ thấy xuất hiện thường xuyên trong văn học của đạo và đời. Ai cũng có đọc qua, nhưng đáng tiếc là không ai biết gốc gác tác giả!

(8). Sống cuộc đời vay mượn, chẳng có gì là mình!

(9). Chỉ biết sống bằng con tim với những thứ tình cảm vụn vặt: Sáng thì cười, chiều khóc… không tự chủ được.

 

Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

San Jose, CA- ngày 24-02-2020

 Cư Thin Bu.

 

 

HẾT

 

 

Chân Thành Cảm Ơn:

 

TT Thích Nguyên Tạng:

Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức

Chủ biên Trang nhà Quảng Đức.

 

Phiên bản điện tử:

 

Dò lỗi chính tả: Thanh Phi, Thanh Hạnh.

 

Layout và online: Tâm Từ, Nguyên Thanh.

 

Diễn đọc: Kim Phương Quảng Tịnh;  Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên.


 Lồng nhạc: Quảng Phước; Quảng Thiện Hùng Jordan Le.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn