Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Toát Yếu

14/04/202110:27(Xem: 3271)
Toát Yếu

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***

buddha-572

 

III. PHẦN THỨ III TỔNG LUẬN:

 

TÁNH KHÔNG BÁT NHÃ

(Với những nguyên lý chỉ đạo của nó)

 

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

TOÁT YẾU

 

 

Đây chỉ là tóm lược 12 chủ đề của phần thứ III Tổng luận, không có gì mới mẻ ở đây. Mục đích giúp độc giả nắm vững những gì đã diễn nói trong phần thứ III Tổng luận với toát yếu ngắn gọn như sau:

 

1. Những phát biểu của Bát nhã Ba la mật về con người liên hệ đến sự sống, cách sống, lối sống hay nói khác về quan niệm sống liên quan đến hạnh phúc hay khổ đau. Đây không phải là những phát biểu hời hợt, mà là một thứ phát biểu triết lý ở tầng cao của Phật đạo nhằm thức tỉnh tâm thức con người. Những gì Bát nhã Ba la mật thuyết đều là những biểu thị ẩn mật, đòi hỏi phải lặn sâu vào tâm thức mới có thể thâm nhập được và một khi thâm nhập được rồi thì đó là máu mủ trí tuệ trong tự thể của chính các ông. Vì vậy, muốn học, muốn hiểu Bát nhã Ba la mật thì tự mình phải đào sâu những biểu thị hay pháp nghĩa hiển hiện của nó.

Nhưng, Bát nhã Ba la mật luôn luôn lưu ý độc giả Bát nhã Ba la mật không ngôn thuyết, không nói năng, luận bàn... Nói như vậy nhưng không phải vậy. Đại Bát Nhã có cả thảy 600 quyển, chiếm 1/3 Đại tạng kinh, hơn 7000 trang sách đánh máy khổ lớn, tổng cộng hơn 5 triệu chữ, truyền tụng qua không biết bao nhiên thời đại, tốn không biết bao nhiêu công sức giấy mực. Vậy mà Bát nhã Ba la mật lúc nào cũng cho là không nói năng luận bàn. Vì những điều Bát nhã Ba la mật muốn nói không phải dành cho trí năng thường tục. Bát Nhã không muốn chúng ta tìm kiếm thứ gì trên mặt nổi của ngôn từ. Những ai muốn học Bát nhã Ba la mật phải lặn sâu vào tâm thức và tự mình đào xới, tự hội những gì mà Bát nhã Ba la mật biểu thị hay hàm ngụ, điều đó có nghĩa là đừng học Bát Nhã trên mặt nổi của ngôn từ mà “học Bát Nhã phải học ở chỗ không có văn tự”, Cổ đức nói như thế. Ngôn ngữ văn tự rất gới hạn không thể diễn tả những gì mà Phật phát biểu. Vậy phải tự mình đào xới giáo nghĩa do Phật nói.

Đó là lối hóa đạo đặc biệt của Bát nhã Ba la mật. Phải “đổ mồ hôi sôi nước mắt” thì mới có miếng ăn, không ai dọn sẵn cho mình! Trâu Bảo Lộc ăn cỏ, trâu Đồng Nai không thể no được!

 

2. Vậy, muốn học Bát nhã Ba la mật phải làm sao? Phải tự mình khám phá những biểu thị của nó. Bát nhã Ba la mật tự biểu thị nhân sinh quan và vũ trụ quan của chính nó qua những cái gọi là nội hay ngoại mà uẩn xứ giới và vạn pháp chung quanh tiêu biểu cho những biểu thị đó. Không có uẩn xứ giới, không có pháp giới. Không có pháp giới thì không có Phật, không có Bồ Tát, không có Bát nhã Ba la mật, không có chúng sanh, không có “thông tin” hay “giao cảm” giữa vạn hữu với con người. Thế giới và con người chỉ có thể hiểu biết qua cái thấy nghe hiểu biết của các quan năng và đối tượng của các quan năng này mà thôi.

Trung tâm của các quan năng này chính là tâm và tâm sở, ngã và ngã sở. Ngã (con người) và ngã sở (pháp giới) trở thành đầu mối của những chuyển biến bất tận của thế giới hiện tượng cũng như nội tâm. Thấy biết có dính ngã vào đó nên có phân biệt, và do phân biệt nên có chấp. Có chấp mới có chia chẻ phân hóa. Thế giới vốn dĩ là một, cái duy nhất một biến thành đa thù. Đó chính là điên đảo, từ đó sầu than khổ não bắt đầu! Muốn yên vui thì đừng phân biệt, không phân biệt khác. Dứt phân biệt thì không chấp, không chấp thì không phân hai, nên nói là bất nhị. Bất nhị thì bất động, tức chẳng chuyển chẳng lai nên được như như, như đó là Như Lai, nên nói là bình đẳng và bình đẳng chính là thanh tịnh.

Tất cả giáo pháp nói về tâm và tâm sở, ngã và ngã sở, những giáo pháp nói về phân biệt hay không phân biệt, chấp hay chẳng chấp, nhị hay bất nhị: Đó là những biểu thị của Bát nhã Ba la mật. Qua những biểu thị này chúng ta có thể hiểu rõ thế giới nội và ngoại như thế nào để từ đó có thể rút ra kinh nghiệm sống, cách sống để cải thiện sinh hoạt tâm linh được tốt đẹp hơn!

 

3. Người thế gian vì mê lầm chấp tâm, chấp pháp cho là thật có, Thánh giả thấy các pháp chỉ là giả danh, không thật như huyễn như mộng, các pháp vốn trì độn vô tri, các pháp là không, không có tánh tướng, thể dụng, các pháp lúc nào cũng như, chẳng lúc nào chẳng như, các pháp như vậy là như vậy, như đó là bình đẳng; bình đẳng nên nói là thanh tịnh. Thánh giả nhập được pháp không, pháp như, sống trong đệ nhất nghĩa, không còn phân biệt chấp trước, nên có cái thấy như thực (yathàbhùtam) trong chân như thật tướng của tất cả pháp, nên các Ngài không bị trói buộc bởi các pháp. Do đó, mới giải thoát mà qua được bờ kia. Rồi từ bờ kia nhìn lại bờ này mới tuyên bố các pháp là không thật, giả danh chỉ là huyễn mộng...

Chỉ cần quán và hiểu rõ một trong mười thí dụ về huyễn mộng, 18 pháp không... thì cũng đủ an thân lập mệnh không cần tầm cầu các pháp môn cao siêu nào khác!

 

4. Cái nhìn của chúng sanh là cái nhìn “nhập thị”, cái nhìn tương đối của thế giới phân hai, thế giới của thiện ác, nhiễm tịnh, xấu tốt, thương ghét, lấy bỏ… nên gọi là Tục đế. Trong khi cái nhìn của Thánh giả là cái nhìn “xuất thị”, cái nhìn trong suốt của thế giới tuyệt đối trong đó không tội-phước, không tốt-xấu, không uế-tịnh, không có minh hay vô minh, không có phiền não hay Bồ đề, không có sanh tử hay Niết bàn…, nên gọi là Thánh đế. Nhưng nói Thánh hay phàm, tuyệt đối hay tương đối cũng còn nằm trong nhị nguyên, thì vẫn đi ngược Phật đạo. Nói như thế chưa phải là chứng tánh, vẫn còn thấy cái hố cách biệt giữa Chân và Tục. Làm sao lấp cái hố phân chia ngăn cách này để đem chúng sanh hội ngộ cùng chư Phật.

Để tìm giải pháp dung hòa, tạo mối thông cảm để có thể đem chúng sanh đến gần cảnh giới Phật, Bồ Tát Long Thọ dùng Trung quán tạo con đường giữa gọi là Trung Đạo. Con đường này không có nghĩa là đưa hai đối thủ đến một thỏa hiệp nào cả mà nó chỉ muốn giữ vai trò trung lập, tạo điều kiện tạm thời để hai bên sánh vai nhau trong việc thực hiện nếp sống bao dung Thánh thiện giữa các thiên chấp của cuộc đời thường trong tư duy cũng như trong tạo tác.

Nói Tục đế, Chân đế hay Trung đạo đế không phải nói về sự phân chia ngăn cách giữa bờ này, bờ kia hay ở giữa hai. Pháp giới chỉ là một, cái duy nhất một. Sư phân chia cốt chỉ cái hư với cái thực, cái mê đối với ngộ, cái bên này hay bên kia. Đứng một bên là thiên chấp, là thiếu sót, cục bộ kể cả đứng ở giữa. Trung đạo tạo nhịp cầu giao duyên bắt ngang hố thẳm Chân Tục để chúng sanh có cơ hội đặt chân lên bờ kia. Nói như vậy có nghĩa Trung đạo chỉ là con đường giữa cố lấp cái hố thẳm Có Không. Có cũng không mà Không cũng không nốt. Khi hiểu ra rằng tất cả đều không thì không thủ tâm chấp tướng nữa.

 

5. Nhưng nói gì đi nữa, Bát nhã Ba la mật phải trả lời thẳng những câu hỏi hết sức thực tế mà phàm phu muốn biết: Bát nhã Ba la mật là gì? Bát nhã Ba la mật có thể đáp ứng những đòi hỏi tâm linh hay không? Phải nắm bắt Bát nhã Ba la mật như thế nào để sống, sống một kiếp sống Thánh thiện?

“Bát Nhã” là trí tuệ, là tri kiến của tất cả chúng sanh. “Ba la mật” là bờ bên kia, bờ giác, bờ giải thoát. Ghép hai cụm từ Bát nhã và Ba la mật với nhau thì có thể nói nhờ trí tuệ giác tánh mới có đời sống tự tại gọi là giải thoát mà có thể lên thuyền Bát Nhã sang bờ kia.

Vì vậy, phải nói tu Bát nhã Ba la mật để được Giác ngộ và Chánh giác, nhờ Giác ngộ và Chánh giác mới có Nhất thiết trí trí. Do đó mới có thể tìm thấy con đường giải thoát mà sang bờ kia. Nhưng đây không phải là một tiến trình nhờ cái này mà có cái kia. Tất cả đều hỗ tương sanh khởi giữa Giác ngộ, Chánh giác và Nhất thiết trí trí khi sao mai chiếu ánh sáng vào cội Bồ đề sau 49 ngày thiền định của Phật.

Với những lý do đó, nên nhà thiền thường nói “không Giác ngộ không phải là Bát Nhã” hay nói “chỉ thành tựu Giác ngộ trong Bát Nhã hay ngược lại”. Đó là những đòi hỏi của tâm linh hay mục tiêu tối hậu của những ai hành trì Bát nhã Ba la mật.

Nhưng thực thi mục tiêu đó không phải dễ, phải tùy thuận Nhất thiết trí trí, phải lấy vô sở đắc làm phương tiện để tư duy ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, là không, vô tướng, vô nguyện, là tịch tịnh, viễn ly... Đó là những tư duy Thánh thiện về cảnh giới mà mình muốn sống. Nhưng tư duy như vậy vẫn còn thiếu sót, phải tư duy ngũ uẩn như bệnh hoạn, như ung thư, như tên đâm, như lửa dữ, như tai ương… Đó là tất cả những tư duy đen tối do ngũ uẩn tạo thành. Một đàng thì tư duy Thánh thiện, đàng khác thì tư duy cái đen tối do ngũ uẩn tạo thành. Vậy, phải tư duy như thế nào mới cho đúng? Cuối cùng kinh bảo phải tư duy ngũ uẩn như vô sanh vô diệt, vô nhiễm vô tịnh... cốt đối trị những thứ phân hóa của cuộc đời thường để từ đó chúng sanh tự mình vươn lên trong ánh sáng giác ngộ mà qua bờ kia.

Vậy, phải khởi quán tất cả pháp không có ngã và ngã sở. Vì ngã và ngã sở là đầu mối của bao kiếp đọa đầy của tất cả chúng sanh. Có ngã, ngã sở là có kiến. Có kiến là có chấp, có chấp là có phiền não. Thân kiến là gốc của phiền não. Lìa thân kiến thì phiền não chẳng sanh. Rốt lại, phải quán tất cả pháp “không pháp nào chẳng đều không”, thì được tự tại. Vậy, quán không, vô tướng, vô nguyện là bước qua được cửa giải thoát. Đó là nắm bắt đúng Bát nhã Ba la mật. Nói như thế nhưng không phải thế. Rốt ráo, không có pháp nào chẳng đều không, Bát nhã Ba la mật cũng không nốt. Vậy, nắm bắt là nắm bắt cái gì?

 

6. Thành tựu Bát nhã Ba la mật tức Giác ngộ. Đây không phải là hai vấn đề riêng rẽ mà đây là sự liên hệ hỗ tương mà yếu tố trọng yếu chính là phải học và thực hành các pháp thực tu thực chứng. Các pháp thực tu thực chứng này còn gọi là các pháp mầu Phật đạo, tư lương Bồ đề Bồ Tát hay còn gọi là Bồ Tát đạo. Đó là phương tiện chánh nẩy sanh Bát Nhã, không có phương tiện đó không có Bát nhã Ba la mật, không có Bồ Tát, không có Phật, Phật đạo hay Đại thừa.

Tuy nhiên, những phương tiện thứ yếu khác không phải là không quan trọng, nhưng mấy ai để ý đến! Phật phải dùng những từ như mật ngữ, pháp ấn, trí ấn, trí tạng hay đại luân tự để nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng trong việc tầm cầu Giác ngộ.

- Ở đâu hay bất cứ pháp hội nào, không những đối với Kinh ĐBN mà còn đối với các kinh điển khác nữa, Phật đều nói đến vô sở hữu, bất khả đắc. Kinh nói: “... pháp vô sở hữu bất khả đắc đó chính là Bát nhã Ba la mật”. Kinh cũng nói: “Vô sở đắc là tướng của Bát nhã Ba la mật; vô sở đắc là tướng của Vô Thượng Bồ Đề; vô sở đắc cũng là tướng của người hành Bát nhã Ba la mật”. Vô sở hữu, bất khả đắc cũng được định nghĩa là “tên khác của Không”. Như vậy, vô sở hữu, bất khả đắc là cụm từ huyền diệu được xem như Thánh chỉ đặt ngang hàng với Bát nhã Ba la mật hay Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Do đó, học và hành Bát Nhã phải luôn nhớ hai cụm từ quan trọng này. Ngày nào còn nắm bắt buông-bỏ có-không... ngày đó còn trầm luân khổ ải!

- Đi song song với Vô sở hữu, Bất khả đắc, từ Vô tướng lại là một thứ Thánh chỉ khác trong việc tu tập Bát nhã Ba la mật. Kinh bảo: “Tu vô tướng là tu Bát nhã Ba la mật, tu như vậy chóng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề”. Vì vậy, Phật lấy thí dụ Phạm Chí Thắng quân nhờ tu pháp môn ly tướng mà chứng được Nhất thiết trí trí.

- Không những Vô tướng giữ vai trò quan trọng trong việc tu tập Bát nhã Ba la mật mà Vô Tánh cũng được nâng lên thành một thứ “diệu tướng” trong sự thành tựu Thánh trí. Phẩm “Diệu Tướng”, Hội thứ III, ĐBN nói: “Các đại Bồ Tát lấy vô tánh làm Thánh đạo” và Phật bảo:Ta lúc bấy giờ, quán tất cả pháp bình đẳng lấy vô tánh làm tánh, do một sát na tương ưng Bát Nhã chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Chúng ta có thể hiểu tầm quan trọng của các từ này trong đạo Phật!

- Phẩm “Học Quán”, quyển 03, mở đầu cho pháp hội thứ I, còn thêm vào đó một số các từ khác như Vô trụ, Vô xả, Vô hộ, Vô thủ, Vô cần, Vô tư, Vô trước làm phương tiện tu hành. Chúng ta cũng có thể thêm vào danh sách đó các từ như Vô thức, Vô niệm, Vô tâm nếu muốn. Tất cả các từ trên dẫn xuất từ Tánh không. Chúng là sở hành của trí, sở hành của Bát nhã Ba la mật cũng là sở hành của Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Chúng như là phương tiện đưa đến thành tựu Bát Nhã hay Giác ngộ, vì chúng hộ trì chánh pháp và chúng cũng là chánh pháp xuất sanh từ Bát nhã Ba la mật.

Ngoài những từ trên, ĐBN luôn luôn lặp đi lặp lại những câu nói như trong phẩm “Thế Gian”, quyển 547, Hội thứ IV, TBBN. Như sau:

- “Pháp Ta đã dạy lấy không, vô tướng, vô nguyện, vô tạo, vô tác, vô sanh, vô diệt, tịch diệt, Niết bàn, pháp giới làm tướng. Vì sao? Vì pháp Phật dạy không có chỗ nương tựa, ví như hư không, không thể biểu thị được”.

- “Tất cả pháp tánh, không sanh, không khởi, không biết, không thấy. Vì tất cả pháp Không, vô sở hữu, không chỗ nương tựa và không có sự lệ thuộc. Do nhân duyên này nên không sanh, không khởi, không biết, không thấy”.

- “Bát Nhã sâu xa có thể hiển bày Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thế gian Không, thế gian xa lìa, thế gian thanh tịnh, thế gian vắng lặng, cho nên nói có thể hiển bày thật tướng thế gian. Vì sao? Vì Không, xa lìa, thanh tịnh, vắng lặng là các tướng như thật của thế gian”.

Những từ như, không, vô tướng, vô nguyện, vô tạo, vô tác, vô sanh, vô diệt, tịch diệt, Niết bàn, xa lìa, thanh tịnh, vắng lặng... nói trong phẩm “Thế Gian”. Đó là tướng như thật biểu thị thế gian. Thông hiểu các từ này là hiểu thế gian, là hiểu Phật pháp, là hiểu Bát nhã Ba la mật hay nói khác những từ này thật sự đóng góp vào sự giác ngộ, vì chúng cũng phát xuất từ giác ngộ như các từ vô sở hữu, bất khả đắc, vô tướng, vô tánh... nói trên.

Quyển 575, phần “Mạn Thù Thất Lợi”, Hội thứ VII, Phật cũng bảo:

“Mạn Thù Thất Lợi! Như Ta đã nói, tất cả các loại pháp môn đều đồng một vị là vị xa lìa, vị vắng lặng, vị giải thoát không có điều chống trái”.

Nhưng phải nói dù cho phương tiện có thiện xảo cách mấy thì cũng chỉ là những lời dạy từ bên ngoài, Nên Phật bảo: “khi hành Bát nhã Ba la mật chẳng thấy tất cả pháp Phật”. Điều đó có nghĩa là đừng nắm bắt từ bên ngoài dù là Bát Nhã hay là các pháp Phật. Tất cả những gì cưỡng bách từ bên ngoài không thể chuyển hóa được nội tâm. Giáo lý và thực hành là chất liệu tốt nhất cũng chỉ là phương tiện giúp bồi dưỡng đức tánh trí tuệ (từ bên ngoài). Ý chí và nghị lực mới chính là năng lực đưa đến nội chứng (tức giác ngộ từ bên trong). Có chứng ngộ là có trí. Có trí là biết tất cả, không cần nắm bắt mà nó sẳn có diệu dụng không thể nghĩ bàn. Đó là không cần nắm bắt mà chính là nắm bắt!

 

7. Câu hỏi được đặt ra: Mục tiêu của việc tu hành Bát nhã Ba la mật là gì? Ai cũng có thể trả lời câu hỏi này một cách dễ dàng: Tu Bát Nhã để Giác ngộ, đạt Chánh giác và Nhất thiết trí trí. Đó là ba mục tiêu chính yếu của người hành trì Bát Nhã.

Biết như vậy, nhưng tìm Bát Nhã ở đâu? Bát Nhã đề cập ở đây phải hiểu là trí tuệ, trí tuệ này phải tìm ở đâu? Kinh bảo chẳng tìm trong sở hành của Bồ Tát, vì sở hành của Bồ Tát là chẳng cầu, cũng chẳng cầu hay lìa 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới và tất cả các pháp Phật. Chẳng cầu ở uẩn xứ giới, vì uẩn xứ giới là cái lôi kéo đưa con người vào cảnh giới đen tối. Do đó, chẳng cầu ở uẩn xứ giới là phải. Nhưng uẩn xứ giới như nhiều lần chúng ta phát biểu nó chính là sanh địa, là môi trường sống của con người, nó là củi lửa gạo nước... lìa nó làm sao sống. Nên, kinh lại bảo là không nên lìa uẩn xứ giới là vì vậy. Nên Phật cũng bảo “6 căn 6 trần 6 thức đưa chúng sanh vào địa ngục và cũng chính những thứ này đưa chúng sanh vào Niết bàn”. Nương vịn vào chúng để tầm cầu nắm bắt là rơi vào sanh tử, chế ngự được chúng thì được an vui giải thoát nên nói là Niết bàn.

Riêng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí hay Nhất thiết trí trí là sở hành của Bồ Tát, đó là trọng tâm của tu hành. Kinh nói tu Bát Nhã mà lìa tâm Nhất thiết trí giống như chim xí to lớn từ trời cao rơi xuống mà không có cánh(1) nếu không bị thương tật thì cũng phải bỏ mạng. Vậy, tại sao không cầu nó như là sở hành? Vì nếu hành mà có mong cầu nắm bắt tức có nương vịn như dây leo nương dậu, như chim nương cành tức còn tùy thuộc trói buộc. Nhưng hành thì vẫn hành mà không nên mong cầu, cũng chẳng nắm bắt cất giữ dù là Nhất thiết chủng trí hay pháp tối cao nào khác được xem như mang lại nhiều công đức nhất.

Vậy, câu hỏi được đặt ra là phải cầu sở hành Bát Nhã ở đâu? Kinh trả lời: “Sở hành Bát nhã Ba la mật của đại Bồ Tát phải cầu ở trong sở thuyết của Thiện Hiện”(2).

Sở cầu của Thiện Hiện là không cầu ở ngũ ấm, lục nhập, lục thức, lục xúc hay ở trong tất cả pháp Phật; cũng không lìa ngũ ấm, lục nhập, lục thức, lục xúc hay tất cả pháp Phật. Sở cầu là như vậy, nên sở hành Bát nhã Ba la mật của đại Bồ Tát phải cầu ở sở thuyết của Thiện Hiện. Sở thuyết của Thiện Hiện là gì? Sở thuyết của Thiện Hiện là hành Không, Vô tướng, Vô tác hay vô nguyện. Thiện Hiện được xem là “Giải Không bậc nhất” trong hàng đệ tử Phật và chính Phật giao cho nhiệm vụ dạy bảo trao truyền cho các Bồ Tát trong các pháp hội Đại Bát Nhã. Vậy những ai theo chân Thiện Hiện tìm sở hành như vậy, thì được xem là chân đệ tử Phật, từ khẩu Phật sanh, từ tâm Phật hóa sanh!

 

8. Một câu hỏi khác được đặt ra là quán cái gì cũng không thì làm thế nào thông đạt Bát nhã Ba la mật?

Không có ở đây, không có ở kia, cũng không ở giữa; không có sự thông đạt, không bị thông đạt, không chỗ thông đạt, không thời thông đạt, không người thông đạt. Tất cả đều giả lập... tất cả đều rỗng không, chẳng có gì để thông đạt! Nếu như thật hiểu như thế tức là thông đạt, thông đạt tuệ.

Cái gì không thể hiểu, không thể biết, không thể nghĩ tưởng nổi; muốn cho người khác hiểu biết thì chỉ còn cách là thí dụ hay lập phương tiện giả nói hay thi thiết. Không giả nói, không thi thiết thì không thể hiểu tất cả pháp. Đó là lập cước của Phật. Trước khi Phật xuất hiện, chúng ta không biết đến ba cõi: Dục, Sắc và Vô sắc. Phật thi thiết có ba cõi, chúng sanh luân hồi không thoát khỏi ba cõi này. Nhờ Phật giả nói do tội chướng mà chúng sanh phải lặn hụp trong ba cõi. Chúng ta hiểu được lời nói này là do giả nói, nên chúng ta biết ba cõi. Nhưng ba cõi cũng không thật, chỉ giả thi thiết. Nhờ có giả nói, có thi thiết mới hiểu. Nên suy ra giả nói, giả thi thiết là một thứ phương tiện hóa đạo đặc biệt trong việc dẫn dắt chúng sanh.

 Vậy, câu nói: Tất cả đều giả lập... tất cả đều rỗng không! Nếu như thật hiểu như thế tức là thông đạt, thông đạt tuệ. Đây không phải là lời bí ẩn. Rốt ráo, tất cả là giả nói, rỗng không, chẳng có gì thông đạt ở đây, hiểu như vậy là thông đạt tuệ!

Kết luận này có thể gây ngạc nhiên mọi người? Ghi nhớ thuộc ký ức tức phải qua trung gian của thức. Nhưng ký ức chỉ có thể cất giữ trong một thời gian ngắn. Còn thâm hiểu, thông đạt bất cứ chi tiết nhỏ nhặt nào nó là tuệ. Tuệ không cần nhớ, không cần kêu gọi đến ký ức, nó trở thành máu mủ trong tự thể, sẵn sàng phát chiếu như tia điện chớp. Nó là một thứ trực giác thực chứng không qua trung gian của bất cứ thứ gì. Biết liền biết, đó là cái diệu dụng hiện tiền của tuệ. Còn chần chừ suy nghĩ là sai, nó thuộc thức. Thức thì không bao giờ với tới tuệ nổi.

Muốn vói tới tuệ thì phải có sự chuyển y và bất cứ sự chuyển y nào cũng bắt nguồn từ Bát Nhã. Nên Kinh nói: “Thế nào là thành tựu thông đạt Bát Nhã? Là không có việc nhỏ nào mà không thông đạt hoàn toàn. Đối với tất cả việc hoàn toàn thông đạt nên gọi là thông đạt Bát Nhã. Như vậy, Bát Nhã đối với tất cả việc đều siêu việt. Nếu thành tựu Bát Nhã như vậy thì các điều thấy, nghe, ngửi, nếm, biết đều thông đạt”. Thấy nghe hiểu biết hết, điều đó có nghĩa là đối với tất cả pháp thông đạt được thật tánh chân thật như như của chúng. Thông đạt thật tánh hay chơn như tất cả pháp thì không còn điên đảo, không bị dính mắc trói buộc nữa. Không bị vướng mắc trói buộc nên có thể phá bỏ vô minh, các triền phược phiền não tương tục, liền giải thoát tức sang được bờ kia!

 

9. Tu hành Bát Nhã có nghĩa là để chứng đắc chăng?

 

- Phẩm “Pháp Giới”, quyển 567, Hội thứ VI, ĐBN. Phật bảo Thắng Thiên vương: “Thiên vương nên biết! Bát nhã Ba la mật xuất thế có khả năng thấy đúng như thật nên gọi là chứng, hậu đắc trí thông suốt nên gọi là đắc”.

Đó là nói theo ngôn ngữ thế tục có chứng có đắc trong việc tu Phật. Nhưng chứng hay đắc chỉ thuộc nội tâm, chỉ có mình tự thầm biết, thầm ngộ, không thể chỉ nói cho người. Nên những đoạn kinh được dẫn chứng sau đây lại nói khác:

 

- Phẩm “Thấy Bất Động”, quyển 521, ĐBN. Nói: Năng chứng, sở chứng, sở hành…của Bồ Tát trọn bất khả đắc, như sau:

“Các Bồ Tát Ma ha tát sở chứng nghĩa thú trọn bất khả đắc, năng chứng Bát nhã Ba la mật cũng bất khả đắc, pháp chứng, kẻ chứng, chỗ chứng, thời chứng cũng bất khả đắc.

Cụ thọ Tu Bồ Đề trình Phật: Bạch Thế Tôn! Các Bồ Tát Ma ha tát quán tất cả pháp đã bất khả đắc, có nghĩa thú nào khá làm sở chứng, có Bát nhã Ba la mật nào khá làm năng chứng, lại có những gì mà thi thiết được pháp chứng, kẻ chứng, chỗ chứng, thời chứng. Như vậy, vì sao chấp do đây chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề? Pháp Thanh văn hay Duyên giác chẳng thể chứng, huống chi muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Bạch Thế Tôn! Nếu hành như thế đấy gọi Bồ Tát hành vô sở đắc. Nếu Bồ Tát Ma ha tát năng hành cái hành vô sở đắc như thế, đối tất cả pháp không bị ám chướng. Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ Tát Ma ha tát nghe như thế mà tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng buồn hối, chẳng kinh chẳng sợ là hành Bát nhã Ba la mật.

Bạch Thế Tôn! Bồ Tát Ma ha tát này khi hành như thế chẳng thấy các tướng, chẳng thấy ta hành, chẳng thấy chẳng hành, chẳng thấy Bát nhã Ba la mật là sở hành của ta, chẳng thấy Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề là sở chứng của ta, cũng lại chẳng thấy cả xứ thời và chứng”.

Chẳng thấy năng sở, chẳng thấy chỗ chứng, thời chứng… thì lấy gì để chứng? Đoạn kinh sau đây, bậc Thánh sẽ trả lời tại sao?

 

- Phần “Na Già Thật Lợi”, quyển 576, ĐBN: Bồ Tát Long Cát Tường (Na Già Thất Lợi) nói với Bồ Tát Mạn Thù Thất Lợi là muốn chứng Vô Thượng Bồ đề. Mạn Thù Thất Lợi bảo: Pháp Vô thượng Bồ đề chẳng thể chứng. Ngài muốn chứng pháp ấy tức là hành hý luận. Vì sao? Vì Vô thượng Bồ đề lìa tướng, tịch diệt. Vậy Ngài muốn trở thành người giữ lấy sự hý luận hay sao? Ví như có người nói như vầy: “Tôi khiến huyễn sĩ ngồi tòa Bồ đề, chứng huyễn Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề”. Lời nói như thế quá ư hý luận. Vì các huyễn sĩ còn bất khả đắc, huống nữa là khiến cho chứng được huyễn đại Bồ đề!

Huyễn đối với pháp huyễn chẳng hợp chẳng tan, chẳng lấy chẳng bỏ, tự tánh đều Không. Chư Phật Thế Tôn nói tất cả pháp chẳng thể phân biệt, đều như huyễn mộng. Nay Ngài muốn chứng Vô thượng Bồ đề, há chẳng phải thành người phân biệt huyễn pháp! Nhưng tất cả pháp đều chẳng thể lấy, cũng chẳng thể bỏ, không thành không hoại, chẳng phải pháp đối với pháp có tạo tác và có diệt hoại. Không có pháp nào đối với pháp nào mà có hòa hiệp, có chia lìa. Vì sao? Vì tất cả pháp chẳng hợp chẳng tan, tự tánh đều Không, lìa ngã, ngã sở, đồng cõi hư không, không nói, không chỉ, không khen, không chê, không cao, không thấp, không tổn, không ích, chẳng thể tưởng tượng, chẳng thể hý luận, bản tánh hư tịch, đều rốt ráo Không, như huyễn như mộng, vô đối, vô tỉ, sao có thể khởi tâm phân biệt nó được”.

Vậy, tu Phật không có nghĩa chứng Phật quả hay đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Phật là danh tự, Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề cũng là danh tự. Danh tự cũng như bất cứ danh tự nào khác là do người khác đặt ra hay người khác gán cho. Chứng hay không chứng cũng tự mình biết, không thể nói cho người. Đó chỉ là nội chuyển, chuyển từ mê sang ngộ không có gì khác. Tu Phật đừng bao giờ nghĩ đến chứng hay đắc. Nếu còn nghĩ tưởng mong cầu nắm bắt là còn sở đắc, thì sẽ không đắc, không hiện quán. Vậy, đừng bao giờ nói đến chứng nói đắc khi tu Phật, nếu không sẽ bị ăn 30 gậy.

 

10. Bây giờ, nói đến công đức Bát Nhã. Nói công đức Bát Nhã là nói đến bố thí Ba la mật: Bố thí mà không thấy mình là người cho, không thấy vật cho, không thấy kẻ nhận, mới được xem là bố thí Ba la mật. Đó là tam luân không tịch, Bố thí như vậy mới được xem là công đức vô lậu không gì bằng, nên nói là công đức vô bờ bến! Đó là loại công đức thường nghe, quá quen tai trong Kinh Phật. Nhưng công đức cao tột lại là công đức trí tuệ.

Không riêng bố thí Ba la mật mà các Ba la mật khác như tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, thiền định và Bát Nhã cũng góp phần vào bố thí vật chất hay tinh thần này nữa. Nơi nào có khổ nơi đó có Bồ Tát! Hạnh nguyện của các Ngài là hy sinh cá nhân mình, sống nhiều đời nhiều kiếp ra vào sanh tử để cứu khổ chúng sanh và làm cho thế gian này mỗi ngày một tươi đẹp trong sáng hơn. Các Ngài lấy thân làm thân giáo tu phạm hạnh, kham nhẫn chịu đựng mọi trạng huống dù bị ngược đãi, lăng nhục, phỉ báng... hay phải chịu trăm ngàn hình phạt dầu sôi lửa bỏng ở địa ngục, thay thế cho chúng sanh vì hạnh nguyện. Các Ngài cũng luôn luôn cải thiện tánh đức trí tuệ để soi sáng mình, người trong việc thành thục chúng sanh, thanh tịnh quốc độ. Tất cả hạnh nguyện cao cả đó chính là công đức trí tuệ.

Nhưng tại sao đoạn kinh sau đây của phẩm “Mạn Thù Sư Lợi”, quyển 575, Hội thứ VII, ĐBN, nói ngược lại những phát biểu trên mà được gọi là công đức chơn thật?

“Mạn Thù Thất Lợi bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Con quán Bát Nhã thâm sâu này không có tướng vô vi, không có các công đức, không sanh, không diệt, không sức, không khả năng, không đến, không đi, không vào, không ra, không tổn, không ích, không biết, không thấy, không thể, không dụng, chẳng phải người tạo tác, cũng không thể làm cho các pháp sanh diệt, không làm cho các pháp là một hay là khác, không thành, không hoại, chẳng phải tuệ, chẳng phải cảnh, chẳng phải pháp phàm phu, chẳng phải pháp Thanh văn, chẳng phải pháp Độc giác, chẳng phải pháp Bồ Tát, chẳng phải pháp Như Lai, chẳng phải chứng hay không chứng, chẳng đắc hay không đắc, chẳng phải tận hay bất tận, chẳng vào sanh tử, chẳng ra khỏi sanh tử, chẳng nhập Niết bàn, chẳng ra khỏi Niết bàn, đối với các pháp của Phật chẳng thành chẳng hoại, đối với tất cả pháp chẳng phải tạo tác hay không tạo tác, chẳng phải có thể nghĩ bàn hay không thể nghĩ bàn, lìa phân biệt, dứt hý luận. Bát nhã Ba la mật này hoàn toàn không có công đức, làm sao Như Lai khuyên các hữu tình siêng năng tu học?

Phật bảo đồng tử Mạn Thù Thất Lợi:

- Những điều ngươi đã nói đó tức là công đức chơn thật của Bát nhã Ba la mật. Các thiện nam thiện nữ nào nếu biết như vậy thì gọi là chơn thật tu học Bát nhã Ba la mật thậm thâm”.

Không có gì là nghịch lý hay phản biện ở đây. Phật nói là để cứu độ chúng sanh chứ Phật nói không phải để huyễn hoặc những người con Phật. Những điều Mạn Thù Thất Lợi nói là những biểu thị của thế giới lưỡng nguyên đối đãi, những mâu thuẫn cùng cực bất tận của cuộc đời thường. Cái mâu thuẫn đó bắt nguồn từ cảm quan và ý thức gây nên. Như nhiều lần chúng tôi nói: Cảm quan và ý thức là cái giúp mình sống, nhưng đôi khi lừa phỉnh mà mình không tự biết. Khi hiểu biết như vậy và nói cho người khác hiểu biết để tránh sai lầm. Đó là công đức.

Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát thừa hiểu điều này nên đại diện chúng sanh để thưa hỏi Phật. Phật bảo: “Những điều ngươi đã nói tức là công đức chơn thật của Bát nhã Ba la mật”. Tất cả pháp chẳng phải chứng hay không chứng, chẳng phải đắc hay không đắc, chẳng phải tận hay bất tận, chẳng vào sanh tử chẳng ra khỏi sanh tử, chẳng nhập Niết bàn hay chẳng ra khỏi Niết bàn, chẳng thành chẳng hoại, chẳng phải tạo tác hay không tạo tác v.v... Thiện nam thiện nữ nào biết như vậy thì gọi là chơn thật tu học Bát nhã Ba la mật thậm thâm. Biết như vậy là biết theo đệ nhất nghĩa đế tức biết như Thánh giả, tức biết nguồn gốc của tất cả mâu thuẫn xung đột bắt đầu từ đâu? Khi biết chúng bắt nguồn từ đâu tức biết được nguyên nhân sanh khởi của nó, nếu biết nguyên nhân sanh khởi thì có thể cứu chữa được. Bệnh này xuất phát từ cảm quan và ý thức. Cảm quan và ý thức lúc nào cũng đưa đến phân biệt chấp trước tạo thành những điên đảo bất tận. Biết như vậy là do sự chiếu soi của Bát Nhã. Biết rồi tự tu hành, lại có thể giúp người khác tu hành. Đó chính là bố thí pháp. Bố thí như vậy, công đức không thể nghĩ bàn. Đó là một thí dụ trong trăm ngàn thí dụ.

Nhưng lạ lùng thay những điều được xem là mâu thuẫn hay nghịch lý “tận cùng thế giới” lại trở thành bình thường, hợp lý trong cơ cấu trí năng Bát Nhã. Nếu “nhập lý” với lối phát biểu đó thì mới có thể tuyên nói thế nào là công đức chân thật của Bát nhã Ba la mật. Ở đây không nói công đức hữu vi hay vô vi như các phẩm “So Lường Công Đức” hay phần “Kim Cương Năng Đoạn” hay các phẩm, các phần khác của ĐBN. Phần “Mạn Thù Thất Lợi” là một phần (không gọi là phẩm) đặc biệt với lối diễn tả ngược đời của nó. Đây không phải là những kêu gọi suông, đây cũng không phải là những kích động cốt đánh thức tâm ngái ngủ ngàn đời của người học đạo, mà ở đây người chứng đạo tất có những tư tưởng thâm trầm đi ngược dòng thế gian. Nên có thể nói chả có gì đặc biệt được biểu thị ở đây đối với các bậc chứng đạo. Công đức hay không công đức chẳng có gì khác nhau trong cái tâm bình đẳng như như. Đó là lối hóa đạo đặc thù của Bồ Tát hiện thân trong cõi này giúp Phật dạy dỗ chúng sanh tại Nam Thiệm bộ châu. Tuy nhiên, tu Bát nhã Ba la mật phải nói là có vô vàn công đức, không thể nghĩ bàn.

 Trước khi chấm dứt thuyết giảng về ĐBN, đoạn kinh cuối cùng của quyển 600, phần Bát nhã Ba la mật, Hội Thứ XVI. Phật bảo:

“Này Thiện Dũng Mãnh! Nếu ai đối với Bát nhã Ba la mật thâm sâu này mà thọ trì, dù chỉ một câu cũng đạt được vô lượng, vô biên công đức; huống gì họ được Kinh Đại Bát Nhã này mà thọ trì, chuyển đọc, ghi chép đầy đủ và cúng dường lưu truyền rộng rãi khắp vì người khác, thì phước đức của người này đạt được không thể nghĩ bàn”.

Thọ trì chỉ một câu còn đạt được vô lượng, vô biên công đức, huống chi thọ trì trên 7.000 trang sách của Đại Bát Nhã Ba La Mật. Thành thật mà nói Bát nhã Ba la mật có vô vàn diệu dụng không thể nghĩ bàn, nó sẽ “đổi đời” hay “lột xác” nếu những ai biết tuân theo những chỉ dẫn của nó! Muốn được như vậy thì phải tích tụ thiện căn công đức, phải vì người mà hy sinh, phải biết cho đi mà chẳng nhận.

 

11. Đọc hết 600 quyển, 16 pháp hội, tổng cộng trên 7.000 trang sách cỡ lớn, chúng ta thấy rằng Bát nhã Ba la mật bao gồm và chi phối tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, nên chúng ta gọi Bát nhã là một Đại tùng thư trong kho tàng Kinh điển Phật học. Nên, quyển 596, phần “Bát Nhã Ba La Mật” Phật xác nhận Bát nhã Ba la mật là sâu xa, là không ngằn mé, là vô biên. Bởi vì, không có bất cứ pháp nào trong càn khôn vũ trụ thoát khỏi sự nhiếp phục của Bát nhã Ba la mật. Vì vậy, không thể khu định Bát nhã Ba la mật vào một khuôn khổ nhất định nào. Nếu chúng ta nhốt nó vào một lâu đài to lớn bằng vàng, bằng kim cương hay bằng ngọc Ma ni huy hoàng tráng lệ cho dù to lớn như hư không, là chúng ta giết nó. Bát Nhã giải phóng mọi trói buộc, để mọi chúng sanh được tự do như chim xí bay lượn trên hư không. Bát nhã phóng xả(1) hay phủi sạch mọi lo nghĩ tính toán. Chính nhờ nét đặc thù này hành giả Bát Nhã mới thật sự khai phóng được nguồn năng lực nội tại để thực hiện một bước nhảy.

Kinh so sánh: “Ví như biển lớn là nơi dung chứa nhiều dòng nước và thường làm chỗ quay về cho các dòng sông. Cũng vậy, nếu Bồ Tát nắm giữ được Bát nhã Ba la mật thâm sâu rộng lớn này mà tinh tấn siêng năng tu học thì vô cùng thông đạt và lợi ích. Phải biết không bao lâu vị này sẽ là biển lớn chứa tất cả pháp, mau thành tựu tất cả pháp khí, thường làm chỗ quay về cho các pháp, nên các pháp thế gian không thể nào quấy nhiễu được”.

 

12. Như đã nói trước, toàn thể Bát nhã Ba la mật chỗ nào cũng tán tụng những công đức oai thần, những diệu dụng thần thông, hay những uy lực huyền bí không thể nghĩ bàn của Bát nhã Ba la mật và Chư Phật cũng thường khuyên rằng muốn được như thế thì phải học Bát nhã Ba la mật. Nhưng, để thực-tế-hóa cuối cùng phần “Bát Nhã Ba La Mật”, quyển 596, Hội thứ XVI, tức Hội cuối cùng trước khi kết thúc thuyết giảng về Đại Bát Nhã, Phật bảo: Bát Nhã kỳ cùng không phải là thực tại cứu cánh, thực tại tối hậu nào cả! Bát Nhã không tự mâu thuẫn, Bát Nhã không muốn nói huyền thuyết diệu, không muốn huyễn hoặc những người con Phật ở đây!

Bát Nhã không vì tất cả pháp đối đãi hay không đối đãi, Bát Nhã không phải là pháp thành tựu hay hoại diệt, không phải là pháp tăng hay giảm, không phải là pháp tập hợp hay xa lìa. Bát Nhã cũng không phải là pháp có lấy, có bỏ, có tạo tác hay không tạo tác... Bát nhã Ba la mật là vô sắc, vô kiến, vô đối, vô tánh, chẳng có chút khá trụ khá vượt, khá vào khá đắc, khá chứng khá thọ, chỗ gọi là công đức. Bát Nhã không vì tất cả pháp như vậy mà hiện tiền.

Tất cả không phải là thực tại cứu cánh, thực tại hiện hữu hay giây phút vĩnh hằng nào cả. Pháp nhĩ tự nhiên thôi! Đừng có tưởng tượng bốc cao mà lạc mất tâm đạo. Chẳng có gì cần thần-thánh-hóa, cũng chẳng có gì kỳ đặc phi thường cần phô diễn ở đây! Đó là lời dạy giản dị nhất mà cũng là lời nói chân thành thiết thực nhất của Phật đối với những ai còn nặng óc mê tín, dị đoan hay tưởng tượng bốc cao.

Phật chỉ muốn nói: Bát Nhã kỳ cùng không phải là thực tại tối hậu nào cả. Phật phủ nhận tất cả những gì gọi là Thần Thánh, phi thường hay kỳ đặc ở đây, Phật không muốn chúng sanh nắm bắt cất giữ bất cứ thứ gì trong tâm dù là pháp được xem là cứu cánh hay thực tại hiện hữu, thực tại vĩnh hằng nào cả! Phật muốn chúng sanh tự chiêm nghiệm, tự chứng lấy cái diệu dụng hiện tiền của Bát nhã Ba la mật. Và một khi thành tựu Bát Nhã hay Nhất thiết trí trí thì diệu dụng tự nhiên phát ra như hoa nở từ cây, như nước rỉ ra từ lòng đất!

 

Kết luận:

 

Đấy là 12 điểm chính đã thuyết giảng của phần thứ III Tổng luận này. Bao nhiêu điểm tóm lược trên dĩ nhiên không thể gói ghém tất cả những gì mà Đại Bát Nhã muốn truyền đạt. Tuy nhiên, nói ít thì thiếu, nói nhiều lại thừa, người học đạo đôi khi ngộ chỉ cần một động tác, một cử chỉ, một lời nói, một cái tát, hay ăn 30 gậy... cũng có thể tỏ ngộ! Nhưng ngộ đó chỉ là đốn ngộ, cái ngộ từng phần. Phật là tiệm ngộ, ngộ toàn triệt nên phải mất ba A tăng kỳ kiếp, học vô lượng, vô số, vô biên pháp môn!

Tóm lại, toàn thể giáo pháp Đại Bát Nhã Ba La Mật nói một cách giản dị là cố thay đổi quan điểm sống của chúng ta. Quan điểm đó có thể nói là cái thấy, cái biết, chỗ đứng hay nói khác là vị trí sống của chúng ta. Quan trọng là chúng ta có chấp nhận thay đổi vị trí này hay không? Nếu không chấp nhận thì bờ mê vẫn là bờ mê, bến giác vẫn là bến giác, ngàn năm mơ mộng chỉ là mây khói hão huyền. Nếu chấp nhận, thì phải học Bát nhã Ba la mật. Đó là con đường hướng thượng duy nhất đưa đến vị trí mới, cảnh giới mới hoàn toàn khác biệt với cảnh giới đọa đày hôm nay! Nhưng cảnh giới mới đó là cảnh giới nào vậy? Cũng không gian đó, cũng thời gian đó, cũng trăng nước đó, chỉ khác là khác ở tâm niệm, nghìn xưa, nghìn sau trăng nước vẫn còn trơ trơ!

 

---o0o---

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,264,711