Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

46. Phẩm “Trí Hướng Đến" (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu; Diễn đọc: Cư Sĩ Quảng Tịnh; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước)

06/07/202009:02(Xem: 4663)
46. Phẩm “Trí Hướng Đến" (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu; Diễn đọc: Cư Sĩ Quảng Tịnh; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***

 Phẩm Trí Hướng Đến_photo

 

PHẨM “TRÍ HƯỚNG ĐẾN"

 

Phần sau quyển 316 đến phần đầu quyển 318, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với quyển thứ 17 , phẩm “Xu Hướng Nhất Thiết Trí”, MHBNBLM)


Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu

Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh

Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước






 

Tóm lược:

 

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Đối với Bát nhã Ba la mật sâu xa như thế, ai có thể phát sanh tin, hiểu?

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ Tát, từ lâu đối với quả vị Giác ngộ tối cao phát tâm hướng cầu, tinh cần tu hành, đã từng cúng dường trăm ngàn muôn ức Phật, ở chỗ chư Phật phát nguyện rộng lớn, thiện căn thuần thục, được vô lượng thiện hữu nhiếp thọ thì đối với Bát nhã Ba la mật sâu xa như vậy, mới có khả năng phát sanh tin, hiểu.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát đối với Bát nhã Ba la mật sâu xa như thế có khả năng phát sanh tin hiểu, thì phải có tánh gì, tướng gì, trạng gì, mạo gì?

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy điều phục tánh tham, sân, si làm tánh; xa lìa tướng tham, sân, si làm tướng; xa lìa trạng thái tham, sân, si làm trạng; xa lìa diện mạo tham, sân, si làm mạo.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ Tát ấy điều phục tánh tham - vô tham; sân - vô sân; si - vô si làm tánh; xa lìa tướng tham - vô tham; sân - vô sân; si - vô si làm tướng; xa lìa trạng thái tham - vô tham; sân - vô sân; si - vô si làm trạng; xa lìa diện mạo tham - vô tham; sân - vô sân; si - vô si làm mạo.

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ Tát thành tựu tánh, tướng, trạng, mạo như thế thì đối với Bát nhã Ba la mật sâu xa ấy mới có khả năng phát sanh tin, hiểu.

Nếu đại Bồ Tát có khả năng tin hiểu Bát nhã Ba la mật sâu xa này thì mới có khả năng hướng đến Nhất thiết trí trí; nếu có khả năng hướng đến Nhất thiết trí trí thì mới có khả năng làm chỗ hướng về cho tất cả hữu tình.

Thiện Hiện lại bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Đại Bồ Tát ấy có khả năng làm việc khó làm đó là mang giáp mũ kiên cố(1) thế này: Ta sẽ độ thoát tất cả hữu tình, đều khiến chứng đắc Niết bàn rốt ráo. Tuy đối với hữu tình làm việc như vậy, nhưng hoàn toàn chẳng thấy có hữu tình nào được an lập(2).

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng như lời ông đã nói. Đại Bồ Tát ấy có khả năng làm việc khó làm, đó là mang giáp mũ kiên cố như vầy: Ta sẽ độ thoát tất cả hữu tình, khiến đều chứng đắc Niết bàn rốt ráo. Tuy đối với hữu tình làm việc như vậy, nhưng hoàn toàn chẳng thấy có hữu tình nào được an lập.

Lại nữa, Thiện Hiện! Giáp mũ mà đại Bồ Tát ấy đã mang, đội chẳng thuộc sắc. Vì sao? Vì sắc rốt ráo vô sở hữu. Không có (phi) Bồ Tát, không (phi) giáp mũ nên nói giáp mũ kia chẳng thuộc sắc(3). Giáp mũ mà đại Bồ Tát ấy đã mang, đội chẳng thuộc thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì thọ, tưởng, hành, thức rốt ráo không có sở hữu. không có Bồ Tát, không giáp mũ nên nói giáp mũ kia chẳng thuộc thọ, tưởng, hành, thức.

Này Thiện Hiện! Giáp mũ mà đại Bồ Tát ấy đã mang, đội chẳng thuộc 12 xứ, 18 giới. Vì sao? Vì 12 xứ, 18 giới rốt ráo không có sở hữu. Không có Bồ Tát, không giáp mũ nên nói giáp mũ kia chẳng thuộc 12 xứ, 18 giới. Giáp mũ mà đại Bồ Tát ấy đã mang, đội chẳng thuộc tất cả pháp Phật từ tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, tứ Thánh đế, 12 duyên khởi, 37 pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao. Vì sao? Vì tất cả pháp Phật rốt ráo không có sở hữu. Không có Bồ Tát, không giáp mũ nên nói giáp mũ kia chẳng thuộc tất cả pháp Phật.

Này Thiện Hiện! Giáp mũ mà đại Bồ Tát ấy mang, đội chẳng thuộc tất cả pháp. Vì sao? Vì tất cả pháp rốt ráo không có sở hữu. Không có Bồ Tát, không giáp mũ nên nói giáp mũ kia chẳng thuộc tất cả pháp.

Đại Bồ Tát ấy chẳng phải vì độ thoát một số ít hữu tình mà mang giáp, đội mũ, cũng chẳng phải vì cầu một phần nhỏ trí mà mang giáp, đội mũ, mà đại Bồ Tát ấy vì cứu vớt tất cả hữu tình khiến nhập Niết bàn nên mang giáp, đội mũ. Đại Bồ Tát ấy chỉ vì cầu chứng đắc Nhất thiết trí trí mà mang giáp, đội mũ. Do nhân duyên này đại Bồ Tát ấy chẳng rơi vào bậc Thanh văn, Độc giác.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bát nhã Ba la mật như vậy rất sâu xa không có người năng tu, không có pháp sở tu, cũng không có chỗ tu, cũng không do pháp này mà được tu tập. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Chẳng phải trong ý nghĩa sâu xa của Bát nhã Ba la mật này có một phần nhỏ thật pháp có thể đạt được để gọi là người năng tu và pháp sở tu, hoặc chỗ tu tập, hoặc do pháp này mà tu tập.

Bạch Thế Tôn! Nếu tu hư không là tu Bát nhã Ba la mật. Nếu tu tất cả pháp(4) là tu Bát nhã Ba la mật. Nếu tu pháp chẳng thật(5) là tu Bát nhã Ba la mật. Nếu tu vô sở hữu là tu Bát nhã Ba la mật. Nếu tu không nhiếp thọ là tu Bát nhã Ba la mật. Nếu tu trừ khiển(6) là tu Bát nhã Ba la mật.

Phật hỏi: Này Thiện Hiện! Tu trừ khiển những gì mà được coi là tu Bát nhã Ba la mật?

Thiện Hiện đáp: Bạch Thế Tôn! Tu trừ khiển sắc là tu Bát Nhã; tu trừ khiển thọ, tưởng, hành, thức là tu Bát nhã Ba la mật. Nếu tu trừ khiển mười hai xứ, mười tám giới là tu Bát nhã Ba la mật; tu trừ khiển tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, tứ Thánh đế, mười hai duyên khởi, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng… là tu Bát nhã Ba la mật. Tu trừ khiển Nhất thiết trí là tu Bát nhã Ba la mật; tu trừ khiển Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí là tu Bát nhã Ba la mật.

Lúc bấy giờ, Phật bảo cụ thọ Thiện Hiện: Này Thiện Hiện! Nên nương vào Bát nhã Ba la mật sâu xa để nghiệm biết đại Bồ Tát bất thối chuyển. Nếu đại Bồ Tát đối với Bát nhã Ba la mật, tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí chẳng sanh chấp trước, thì nên biết đó là đại Bồ Tát bất thối chuyển.

Nếu đại Bồ Tát đối với pháp không nội cho đến pháp không không tánh tự tánh chẳng sanh chấp trước, thì nên biết đó là đại Bồ Tát bất thối chuyển. Nếu đại Bồ Tát đối với chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế… chẳng sanh chấp trước, thì nên biết đó là đại Bồ Tát bất thối chuyển. Nếu đại Bồ Tát đối với tất cả pháp Phật chẳng sanh chấp trước, thì có thể nghiệm biết đó là đại Bồ Tát bất thối chuyển.

Này Thiện Hiện! Có các đại Bồ Tát bất thối chuyển tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật, chẳng quán chiếu lời lẽ và sự dạy bảo của kẻ khác cho là chơn yếu. Có các đại Bồ Tát bất thối chuyển tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật, chẳng phải chỉ tin người có sở tác. Có các đại Bồ Tát bất thối chuyển tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật, chẳng bị tâm tham dẫn dắt, chẳng bị tâm sân dẫn dắt, chẳng bị tâm si dẫn dắt, chẳng bị tâm kiêu mạn dẫn dắt, chẳng bị các loại tâm tạp nhiễm khác dẫn dắt. Có các đại Bồ Tát bất thối chuyển tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật chẳng lìa bố thí, chẳng lìa tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật. Có các đại Bồ Tát bất thối chuyển nghe nói Bát nhã Ba la mật thậm thâm như vậy, tâm họ chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng hãi, chẳng chìm, chẳng đắm, cũng chẳng thối bỏ; đối với Bát nhã Ba la mật sâu xa hoan hỷ, ưa nghe, thọ trì, đọc tụng, rốt ráo thông suốt, gắn chặt tư duy, như thuyết tu hành, không hề mệt mỏi.

Này Thiện Hiện! Nên biết, đại Bồ Tát bất thối chuyển ấy vì đời trước đã nghe nghĩa lý Bát nhã Ba la mật thậm thâm, thọ trì, đọc tụng, như lý tư duy, như thuyết tu hành, không hề mệt mỏi.

Đại Bồ Tát ấy muốn thâm nhập Nhất thiết trí trí thì phải liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập pháp không, vô tướng, vô nguyện. Đó là đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí để tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập hư không, vô sở hữu, vô sanh - vô diệt, vô nhiễm - vô tịnh để tu hành Bát Nhã thì đó là đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí để tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới để tu hành Bát Nhã thì đó là đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí để tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập không tạo tác để tu hành Bát Nhã thì đó là đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí để tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập huyễn, mộng, tiếng vang, ảnh tượng, bóng sáng, bóng nắng, sự biến hóa, ảo thành để tu hành Bát Nhã, thì đó là đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí để tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật.

“Phật đã dạy, nếu đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập không, vô tướng, vô nguyện, hư không, vô sở hữu, vô sanh - vô diệt, vô nhiễm - vô tịnh, chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, định pháp, trụ pháp, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới, vô tạo tác, huyễn, mộng, tiếng vang, ảnh tượng, bóng sáng, bóng nắng, việc biến hóa, ảo thành để tu hành Bát Nhã thì đó là đại Bồ Tát liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí để tu hành thậm thâm Bát nhã Ba la mật”. (Q. 318, ĐBN)

Muốn đạt đến Nhất thiết trí trí đại Bồ Tát ấy chẳng hành sắc, chẳng hành thọ, tưởng, hành, thức. Đại Bồ Tát ấy cũng chẳng hành mười hai xứ, mười tám giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao. Vì sự tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí của đại Bồ Tát ấy, không năng tác, không năng hoại, không từ đâu đến, không đi đến đâu, cũng không chỗ trụ, không phương cõi, không số lượng, không vãng lai.

Nhất thiết trí trí như thế đã không số lượng, không vãng lai, không thể nắm bắt được nên cũng không thể chứng đắc. Nhất thiết trí trí như thế, chẳng thể dựa vào sắc để chứng, chẳng thể dựa vào thọ, tưởng, hành, thức để chứng. Nhất thiết trí trí như thế, chẳng thể dựa vào mười hai xứ, mười tám giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao để chứng. Vì sắc tức là Nhất thiết trí trí; thọ, tưởng, hành, thức tức là Nhất thiết trí trí; vì mười hai xứ, mười tám giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao hay nói chung tất cả pháp Phật tức là Nhất thiết trí trí.

Vì sao? Thiện Hiện! Hoặc sắc như, hoặc Nhất thiết trí trí như hoặc tất cả pháp như, đều một như không hai không khác; hoặc thọ tưởng hành thức như, hoặc Nhất thiết trí trí như, hoặc tất cả pháp như, đều một như không hai không khác v.v...

 

Thích nghĩa:

(1). Mang giáp mũ kiên cố, mặc giáp bị đại thừa hay mặc giáp bị đại công đức, Hán ngữ dùng cụm từ “hoàn Đại Thừa khải”. Kinh MHBNBLMĐ gọi là “đại thệ trang nghiêm” cũng gọi “hoằng thệ nguyện” như đã thích nghĩa trong phẩm “Ma Ha Tát” và phẩm “Giáp Bị Đại Thừa”.

(2). An lập: (安立) đã thích nghĩa trong phẩm “Trước và Chẳng Trước Tướng”. Nói nôm na an lập là “xếp đặt cho yên thân yên chốn”.

(3). Không có (phi) Bồ Tát, Không (phi) giáp mũ nên nói giáp mũ kia chẳng thuộc sắc. Nguyên văn bằng chữ Hán là phi Bồ Tát phi giáp trụ cố . thuyết bỉ giáp trụ bất thuộc sắc”.

(4). Nếu tu tất cả pháp là tu Bát nhã Ba la mật, nguyên văn là nhược tu nhất thiết pháp thị tu”. Như vậy, cụm từ tu “tất cả pháp” là dịch từ chữ Hán “Nhất thiết pháp” (s: sarva-dharma, p: sabba-dhamma) có nghĩa là tất cả các pháp, hết thảy các pháp, toàn bộ các pháp, còn có tên là nhất thiết vạn pháp. Hết thảy các pháp là tên gọi chung bao gồm tất cả vạn hữu. Đại Trí Độ Luận 2 có đoạn rằng: “Nhất thiết pháp lược thuyết hữu tam chủng, nhất giả hữu vi pháp, nhị giả vô vi pháp, tam giả bất khả thuyết pháp, thử tam kỷ nhiếp nhất thiết pháp (dịch: hết thảy các pháp nói tắt có 3 loại, một là pháp hữu vi, hai là pháp vô vi, ba là pháp không thể nói được; cả 3 loại này gồm thâu hết thảy các pháp”- Phật học Tinh tuyển. Tất cả pháp trong bản dịch này là nhất thiết pháp. Chúng tôi giữ y lời dịch khi tóm lược, không sửa đổi!

(5). Nếu tu pháp chẳng thật là tu Bát nhã Ba la mật, nguyên văn bằng chữ Hán là nhược tu bất thật pháp thị tu. Cụm từ “pháp chẳng thật” dịch từ chữ Hán “bất thật pháp”.

(6). Khiển và trừ khiển:

- 1. Khiển: Trách hay ra lệnh như cha trách con không nên làm như vậy nữa.

- 2. Trừ khiển: Trừ là bỏ; khiển là trách: Bỏ đừng trách nữa như mẹ trách lại cha: Trách con như vậy không đúng, không nên trách như vậy.

 

Lược giải:

 

Mục tiêu kỳ cùng, tối hậu của hành giả Bát Nhã là hướng đến Giác ngộ, đạt Chánh giác và Nhất thiết trí trí. Không có Giác ngộ, không có Chánh giác, không có Nhất thiết trí trí thì không phải là Bát Nhã. Vậy, điều kiện để đạt Nhất thiết trí trí thì phải chứng Bát nhã Ba la mật, rồi mới có khả năng thành thục chúng sanh, thanh tịnh Phật độ hay nói khác mới có khả năng làm chỗ quy hướng cho tất cả hữu tình. Đó là mục tiêu của người hành Bồ Tát đạo. Nên kinh nói: Nếu đại Bồ Tát có khả năng tin hiểu Bát nhã Ba la mật sâu xa này thì mới có khả năng hướng đến Nhất thiết trí trí; nếu có khả năng hướng đến Nhất thiết trí trí thì mới có khả năng làm chỗ hướng về cho tất cả hữu tình”.

 

Phẩm “So Lường Công Đức” quyển 106, Hội thứ I, ĐBN. Phật bảo trời Đế Thích: “(...) Kiều Thi Ca! Muốn chứng đắc Nhất thiết trí trí của chư Phật, phải cầu Bát nhã Ba la mật; muốn chứng đắc Bát Nhã, phải cầu Nhất thiết trí trí của chư Phật. Vì sao? Vì Nhất thiết trí trí của chư Phật đã chứng đắc, đều được phát sanh từ Bát Nhã; Bát Nhã như thế đều được phát sanh từ Nhất thiết trí trí của chư Phật. Vì sao? Vì Nhất thiết trí trí của chư Phật đã chứng đắc chẳng khác Bát Nhã; Bát Nhã như thế chẳng khác Nhất thiết trí trí của chư Phật. Nhất thiết trí trí của chư Phật đã chứng đắc cùng với Bát Nhã này, nên biết, không hai, không khác. Vì vậy, nên công đức oai thần của Bát nhã Ba la mật thật là hy hữu”.

 

Phẩm “Tôn Đạo” quyển thứ 10, MHBNBLMĐ, cũng nói:

Muốn được Nhất thiết trí phải tìm cầu trong Bát nhã Ba la mật. Muốn được Bát nhã Ba la mật phải tìm cầu trong Nhất thiết trí”.

Hai đoạn Kinh trên cùng một tư tưởng như nhau, đủ để chứng minh sự hỗ tương sinh khởi giữa Bát nhã Ba la mật và Nhất thiết trí trí. Muốn làm chỗ nương tựa, làm chỗ hướng về... cho tất cả hữu tình thì Bồ Tát phải đạt ngộ, muốn đạt ngộ phải tu hành Bát Nhã, có tu hành Bát Nhã mới có thể đạt Nhất thiết trí trí. Đó là con đường tất yếu, không có giải pháp nào khác.

Tuy nhiên, để đắc Bát Nhã hay Nhất thiết trí trí thì Bồ Tát cần tu khổ hạnh, cúng dường trăm ngàn muôn ức Phật, ở chỗ chư Phật phát nguyện rộng lớn, tu tập thiện căn, chứa nhóm công đức, nhưng phải được vô lượng thiện hữu nhiếp thọ thì đối với Bát nhã Ba la mật sâu xa như vậy, mới có khả năng phát sanh tin, hiểu.

 

1. “Tu không nhiếp thọ là tu Bát nhã Ba la mật”:

 

Suốt 600 quyển Đại Bát Nhã hầu như chỗ nào Kinh cũng khuyến cáo hành giả Bát Nhã muốn Giác ngộ, muốn thành bậc Chánh giác hay được Nhất thiết trí trí thì phải nhiếp thọ Bát Nhã. Phẩm “Các Dụ” quyển 312, Hội thứ I, ĐBN, mới vừa thuyết ở trên, Phật bảo “... tu Bát Nhã là phải nhiếp thọ tất cả pháp Phật hay nói khác là phải nhiếp thọ Bát nhã Ba la mật”. Vì tất cả pháp đều thu nhiếp vào Bát nhã Ba la mật.

Phẩm Vô Tướng quyển 467, Hội thứ II, ĐBN, Phật thuyết: Chẳng nhiếp thọ hoặc pháp thiện hoặc pháp phi thiện, hoặc pháp hữu ký hoặc pháp vô ký, hoặc pháp thế gian hoặc pháp xuất thế gian, hoặc pháp hữu lậu hoặc pháp vô lậu, hoặc pháp hữu vi hoặc pháp vô vi. Cũng chẳng nhiếp thọ kể cả sở chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Nếu nhiếp thọ hoặc pháp thiện hoặc pháp phi thiện: Pháp thiện và pháp phi thiện là pháp đối đãi, pháp hữu ký và pháp vô ký là pháp tương đãi… Nếu nhiếp thọ và tu nhị pháp thì không phải là tu Bát Nhã. Nhưng chẳng nhiếp thọ kể cả sở chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề là điều nghịch lý phải không? Tại sao lại có sự mâu thuẫn như vậy? Nếu không nhiếp thọ tất cả pháp Phật thì lấy gì mà tu, lấy gì mà chứng. Tu là phải nhiếp thọ, chắc chắn như vậy!

Bát Nhã không tự mâu thuẫn: Phủ định ở đây chính là xác định. Lối lập ngôn đó có vẻ nghịch đời đối với pháp thức thường tục, nhưng lại rất tự nhiên đối với Bát Nhã, vì nó rất phù hợp với Tánh Không. Không nhiếp thọ ở đây là nhiếp thọ Bát Nhã! Đây không phải là lối biện hộ có tánh cách “dở hơi”. Tại sao?

Phẩm “Phương Tiện Khéo Léo” quyển 524, Hội thứ III, ĐBN. Phật xác nhận rõ rằng: Bát nhã Ba la mật thậm thâm đối tất cả pháp không sở chấp đắm, không sở nhiếp thọ. Nếu đối các pháp có sở chấp đắm, có sở nhiếp thọ thời lìa Bát nhã Ba la mật.

Đó chính là lý do, một khi có thọ có thủ là có chấp đắm, và một khi đã chấp đắm thì Bát Nhã dỡ nón ra đi. Do đó, tu chẳng vì nhiếp thủ, cũng chẳng xả bỏ, cũng chẳng khiển trừ. Đó chính là tu Bát nhã Ba la mật. Có chấp đắm, có nắm bắt buông bỏ, có thủ xả... là có động chuyển, có sinh diệt đổi dời thì làm sao tu Bát nhã Ba la mật được.

Vả lại, tất cả pháp là không, trong rỗng không thì có gì để nhiếp thọ. Đây là lối nói của Đại Bát Nhã nhưng phải hiểu rằng: Không nhiếp thọ không phải là không nhiếp thọ, nếu không nhiếp thọ một pháp thì mất một pháp, nếu không nhiếp thọ tất cả pháp Phật thì lấy gì để học để tu. Vì vậy, tu Bát Nhã là phải nhiếp thọ tất cả pháp, nhưng đừng mong chờ, nắm giữ, cất dấu, đừng nương vịn, đừng ái pháp, đừng chấp đắm, đừng lấy sở đắc mà tu Phật. Nên Kinh Kim Cang bảo “pháp còn phải bỏ hiến chi phi pháp”.

 

Do đó, đoạn kinh sau đây nâng nhận thức của chúng ta lên một tầng cao hơn. Phẩm “Chơn Như” quyển 321, Hội thứ I, ĐBN, Phật cũng bảo:

“(...) Nếu Bồ Tát vì nhiếp thủ sắc mà tu hành, vì xả bỏ sắc mà tu hành; vì nhiếp thủ thọ, tưởng, hành, thức mà tu hành, vì xả bỏ thọ, tưởng, hành, thức mà tu hành, thì Bồ Tát ấy chẳng có thể tu Bát nhã Ba la mật, cũng chẳng có thể tu tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba la mật; Bồ Tát ấy chẳng có thể chứng pháp không nội cho đến pháp không không tánh tự tánh; Bồ Tát ấy chẳng có thể chứng chơn như, pháp giới, pháp tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế…; Bồ Tát ấy chẳng có thể tu tứ đế, ba mươi bảy pháp trợ đạo; Bồ Tát ấy chẳng có thể tu năm loại mắt, sáu phép thần thông; Bồ Tát ấy chẳng có thể tu pháp môn Đà la ni, Tam ma địa; Bồ Tát ấy chẳng có thể tu Phật mười lực, cũng chẳng có thể tu bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; Bồ Tát ấy chẳng có thể tu Nhất thiết tri, cũng chẳng có thể tu Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí.

(...) Nếu Bồ Tát vì nhiếp thủ tất cả pháp Phật mà tu hành, vì xả bỏ tất cả pháp Phật mà tu hành, Bồ Tát ấy chẳng có thể tu Nhất thiết trí, cũng chẳng có thể tu Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí”.

Đó là lập cước của Bát Nhã: Học Bát Nhã là không có thủ có xả, nếu thủ xả “nọ kia” là xa lìa Bát Nhã. Phẩm thứ 30, “Tam Thán”(Ba Lần Tán Thán), tập 3, quyển 56, Đại Trí Độ Luận, nói rằng: “Do được thâm giải về Bát nhã Ba la mật, nên Bồ Tát biết rõ hết thảy pháp đều là hư vọng, khiến chẳng còn thủ pháp, lại biết rõ hết thảy pháp đều đem lại lợi ích cho chúng sanh, khiến chẳng có xả pháp, vào được nơi thật tướng bất sanh, bất diệt của các pháp”.

Chẳng nhiếp thủ không phải là không nhiếp thủ, xa lìa mà cũng chẳng xa lìa. Tu hành cốt yếu là đừng phân biệt chấp đắm, đừng tu hai pháp, đừng chấp hai tướng, thì pháp nào pháp nào cũng chân tâm Bát Nhã, pháp nào pháp nào cũng là hoa vàng rực rỡ, chim hoàng anh đứng hót thanh thoát thôi.

 

2. Tu trừ khiển là tu Bát nhã Ba la mật?”

 

Cũng cùng phẩm trên, cụ thọ Thiện Hiện lại nói “Tu trừ khiển là tu Bát nhã Ba la mật” và Phật khả chứng! Sắc thọ tưởng hành thức là ngũ uẩn, ngũ che vì nó che đậy tánh giác. Nên tu là “phải khiển, phải trừ”, không nên dựa vào các uẩn mà tu. Khiển trừ có nghĩa là hành Bát Nhã không được hành nơi sắc thọ tưởng hành thức, hành như vậy là lấy cảm quan và ý thức phân biệt mà hành, tức tạo tác thi vi, nên phải khiển trừ. Nhưng, Bát Nhã lại khuyến cáo là phải trừ khiển, phải bỏ cả cái khiển đó đi! Vì sao? Vì khiển là động niệm mà trừ khiển cũng lại là một thứ động niệm khác, tránh “vỏ dưa gặp vỏ dừa” cũng vậy. PhẩmHuệ Đến Bờ Kia”, quyển 527, Hội thứ III, ĐBN, nói rõ rng: Các Bồ Tát Ma ha tát khi hành sâu Bát nhã Ba la mật, nếu nhớ có sắc và nghĩ phải tu, như vậy là chẳng trừ khiển sắc, chẳng phải tu Bát nhã Ba la mật. Nếu nhớ có thọ tưởng hành thức và nghĩ phải tu, như vậy là chẳng trừ khiển thọ tưởng hành thức, chẳng phải tu Bát nhã Ba la mật. Nói rộng cho đến nếu nhớ có dứt hẳn phiền não tập khí nối nhau và nghĩ phải tu, như vậy là chẳng trừ khiển dứt hẳn phiền não tập khí nối nhau, chẳng phải tu Bát nhã Ba la mật...

(…)Ngược lại, các Bồ Tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật thậm thâm, chẳng nhớ có sắc và chẳng nghĩ phải tu trừ khiển sắc, là tu Bát nhã Ba la mật. Chẳng nhớ có thọ tưởng hành thức và chẳng nghĩ phải tu trừ khiển thọ tưởng hành thức, là tu Bát nhã Ba la mật. Nói rộng cho đến chẳng nhớ có dứt hẳn phiền não tập khí nối nhau và chẳng nghĩ phải tu trừ khiển dứt hẳn phiền não tập khí nối nhau, là tu Bát nhã Ba la mật… Vì sao? Vì chẳng phải kẻ tưởng có dứt tham sân si, tùy miên trói buộc thường d tu Bát nhã Ba la mật.

Vậy nên, Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát Ma ha tát tu trừ khiển sắc, cũng tu trừ cái khiển đây, gọi tu Bát nhã Ba la mật. Tu trừ khiển thọ tưởng hành thức, cũng tu trừ cái khiển đây, gọi tu Bát nhã Ba la mật. Nói rộng cho đến tu trừ khiển dứt hẳn phiền não tập khí nối nhau và tu trừ cái khiển đây, gọi tu Bát nhã Ba la mật…”.

Nếu cứ nghĩ tưởng phải tu, phải hành, phải khiển, phải chứng bất cứ pháp nào dù pháp đó mang nhiều công đức nhất thì cũng coi như chẳng tu Bát nhã Ba la mật.

Nếu nhớ, nếu nghĩ ngũ uẩn là cái che đậy tánh giác thì nên khiển trừ cái nhớ cái nghĩ đó. Nhưng mỗi khi khởi niệm thì vọng sanh. Nếu coi ngũ uẩn là không thì không cần lìa cũng không cần khiển. Đó cũng chính là giáo lý siêu tuyệt của Tâm Kinh.

Khiển chính là động niệm thì khiển cũng là cái đáng bỏ, đáng trừ. Vậy lìa cũng bỏ, khiển cũng bỏ và cái bỏ sau cùng đó cũng bỏ nốt, phủi sạch, coi tất cả là không. Như thế thì tâm hành diệt, ngôn ngữ đoạn, mới an trụ trong Tánh Không, “tức hành cảnh vô tướng, nguyện phân biệt tâm mới an nhiên tịch lặng. Bát Nhã nghịch đời ở chỗ đó. Thói thường thấy cái gì nghịch lại tri thức thường tục thì muốn trừ, muốn lìa, muốn khiển ngay mà không biết rằng chính cái phải trừ, phải lìa, phải khiển đó là những biện pháp chống lại sự an tịnh của tâm. Lấy động chế động, tâm càng thêm động. Trong “Tín Tâm Minh” Tổ Tăng Xán nói:

 

Ngăn động mà cầu tịnh

Hết ngăn lại động thêm.

 

Muốn tâm thanh tịnh thì phải xả bỏ: Khiển cũng bỏ mà trừ khiển cũng phải bỏ thì tâm mới được như như. Đó là cái khó khăn tế nhị của tu hành. Nếu có khả năng tin hiểu Bát nhã Ba la mật và thực hành được như vậy thì có thể thâm nhập được Nhất thiết trí trí.

 

3. Làm sao biết là Bồ Tát Bất thối chuyển?

 

Nếu đại Bồ Tát đối với sáu pháp Ba la mật chẳng sanh chấp trước, thì nên biết đó là đại Bồ Tát bất thối chuyển. Nếu Bồ Tát đối với 18 pháp không, 12 chơn như chẳng sanh chấp trước, thì nên biết đó là đại Bồ Tát bất thối chuyển. Nếu đại Bồ Tát đối với tất cả pháp Phật cũng chẳng chấp trước, thì có thể nghiệm biết đó là đại Bồ Tát bất thối chuyển.

Đại Bồ Tát bất thối chuyển tu hành thậm thâm Bát Nhã rồi, thời chẳng cho lời lẽ và sự dạy bảo của kẻ khác là chơn yếu; chẳng bị tâm tham, sân, si dẫn dắt; chẳng bị tâm kiêu mạn khuynh đảo; chẳng bị các loại tâm tạp nhiễm khác lôi kéo. Bồ Tát bất thối chuyển đối với Bát Nhã sâu xa hoan hỷ, ưa nghe, thọ trì, đọc tụng, rốt ráo thông suốt, chịu khó tư duy, như thuyết tu hành, không hề mệt mỏi. Đó chính là Bồ Tát bất thối.

 

4. Làm sao thâm nhập Nhất thiết trí trí?

 

Như chúng ta đã biết có học Bát Nhã mới có giác ngộ, có giác ngộ đương nhiên có Nhất thiết trí trí. Vậy, hỏi làm sao thâm nhập Nhất thiết trí trí và câu hỏi làm sao thâm nhập Bát Nhã như nhau. Nhưng thâm nhập Bát Nhã hết sức khó khăn thì thâm nhập Nhất thiết trí trí cũng khó khăn như nhau. Muốn thế Bồ Tát phải liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập không, vô tướng, vô nguyện; Bồ Tát phải liên tục, tùy thuận, hướng đến, thâm nhập chân như, pháp giới, pháp tánh...; Bồ Tát phải có tâm lượng rộng lớn như hư không, đối với tất cả pháp vô sở hữu, vô sanh-vô diệt, vô nhiễm-vô tịnh, vô tạo-vô tác, và phải xem tất cả pháp như huyễn, như mộng, tiếng vang, ảnh tượng, bóng sáng, bóng nắng, như việc biến hóa, ảo thành để tu hành Bát Nhã thì đó tức là đại Bồ Tát hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí.

Lại nữa, Bồ Tát muốn đạt đến Nhất thiết trí trí thì chẳng nên hành sắc, chẳng hành thọ, tưởng, hành, thức, chẳng hành 12 xứ, 18 giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết chủng trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao. Vì sự tùy thuận, hướng đến, thâm nhập Nhất thiết trí trí của Bồ Tát ấy, không năng tác, không năng hoại, không từ đâu đến, không đi đến đâu, cũng không chỗ trụ, không phương cõi, không số lượng, không vãng lai.

Kinh nói: “Nhất thiết trí trí như thế đã không số lượng, không vãng lai, không thể nắm bắt được nên cũng không thể chứng đắc. Nhất thiết trí trí như thế, chẳng thể dựa vào sắc để chứng, chẳng thể dựa vào thọ, tưởng, hành, thức để chứng. Nhất thiết trí trí như thế, chẳng thể dựa vào 12 xứ, 18 giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao để chứng. Vì sắc tức là Nhất thiết trí trí; thọ, tưởng, hành, thức tức là Nhất thiết trí trí; vì 12 xứ, 18giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao hay nói chung tất cả pháp Phật tức là Nhất thiết trí trí.

Vì sao? Thiện Hiện! Hoặc sắc như, hoặc Nhất thiết trí trí như hoặc tất cả pháp như, đều một như không hai không khác; hoặc thọ tưởng hành thức như, hoặc Nhất thiết trí trí như, hoặc tất cả pháp như, đều một như không hai không khác v.v..”. (cuối Q.318, ĐBN)

Đồng ý Nhất thiết trí trí không thể nắm bắt được nên cũng không thể chứng đắc, chúng ta cũng đồng ý Nhất thiết trí trí không bao giờ “dựa vào” bất cứ pháp nào để tu dù là pháp Phật. Nếu xem dựa vào như là một thứ vin duyên thì chắc chắn Nhất thiết trí trí không bao giờ làm việc đó. Nói như thế nhưng không phải thế. Nhất thiết trí trí không phải từ trên trời rơi xuống, nếu không tu không học không hành tất cả pháp thì cũng không có Nhất thiết trí trí. Nhất thiết trí trí từ sắc mà ra, Nhất thiết trí trí cũng từ thọ tưởng hành thức mà ra, Nhất thiết trí trí cũng từ 12 xứ, 18 giới nói rộng cũng từ tất cả pháp Phật mà ra. Nên nói sắc tức là Nhất thiết trí trí, thọ tưởng hành thức là Nhất thiết trí trí, 12 xứ, 18 giới là Nhất thiết trí trí, tứ đế, thập nhị nhân duyên, 18 pháp không, thập nhị chân như, Nhất thiết chủng trí... cho đến nói rộng ra tất cả pháp Phật là Nhất thiết trí trí. Vì vậy, phẩm “Các Tướng Công Đức” quyển 380, Hội thứ I, ĐBN, Phật bảo cụ thọ Thiện Hiện tất cả pháp Phật được gọi là trí không thảy. Trí đó là Thánh trí chẳng khác gì Bát Nhã Trí hay Nhất thiết trí trí:

“Thiện Hiện! Thánh pháp của Đại Bồ Tát là trí quả Dự lưu, trí quả Nhất lai, trí quả Bất hoàn, trí quả A la hán, trí quả vị Độc giác, trí quả vị Giác ngộ tối cao của chư Phật; trí bốn niệm trụ, trí bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo; trí pháp môn giải thoát không, trí pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện; trí bốn tịnh lự, trí bốn vô lượng, bốn định vô sắc; trí tám giải thoát, trí tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ; trí bố thí Ba la mật, trí tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật; trí tất cả pháp môn Đà la ni, trí tất cả pháp môn Tam ma địa; trí Thánh đế khổ, trí Thánh đế tập, diệt, đạo; trí pháp không nội, trí pháp không ngoại, pháp không nội ngoại, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh; trí chơn như, trí pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì; trí mười địa Bồ Tát; trí năm loại mắt, trí sáu phép thần thông; trí mười lực Như Lai, trí bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; trí pháp không quên mất, trí tánh luôn luôn xả; trí Nhất thiết trí, trí Đạo tướng trí, trí Nhất thiết tướng trí và tất cả trí pháp thế gian và trí xuất thế gian khác; trí pháp hữu lậu, vô lậu; trí pháp hữu vi, vô vi”. Rốt ráo, tất cả trí liệt kê trên không ngoài pháp Phật hay các pháp mầu Phật đạo mà ra. Học tất cả pháp Phật thì đắc tất cả trí này, cũng như đắc Bát Nhã Trí hay Nhất thiết trí trí.

Nhưng phần kết của phẩm “Trí Hướng Đến”, gây ngạc nhiên với nghi vấn: “... sắc tức là Bát nhã Ba la mật, sắc cũng tức là Nhất thiết trí trí... cho đến quả vị Giác ngộ tối cao là Nhất thiết trí trí”. Vì sao? Phật trả lời: “Thiện Hiện! Hoặc sắc như, hoặc Nhất thiết trí trí như hoặc tất cả pháp như, đều một như không hai không khác; hoặc thọ tưởng hành thức như, hoặc Nhất thiết trí trí như, hoặc tất cả pháp như, đều một như không hai không khác v.v..”.

Tại sao nói Sắc tức là Bát nhã Ba la mật, Bát nhã Ba la mật tức là Sắc và Sắc cũng tức là Nhất thiết trí trí…, tất cả pháp đều như thế cả. Bởi vì tất cả pháp đều là như, đều cùng một “tướng như”. Nên nói, Bát nhã Ba la mật hay Sắc cũng ngang đồng với tất cả pháp, cái gọi là “nhất như tướng”. Nên có thể nói: Bát Nhã có khả năng soi thấy thế giới như thế là như thế, thấy các pháp trong bản tính như thực của chúng. Đấy là cái thấy xuyên qua tướng trạng để trực ngộ được chân tánh của vạn hữu mà tuyên bố rằng thấy như thế là thấy tất cả các pháp trong chơn như thật tướng của chúng. Do đó, mới nói tất cả pháp không hai không khác.

 Vì sao nói là như như không hai không khác? Bởi vì tất cả pháp sanh ra trong cùng một Như Lai tạng nên cùng là anh em với nhau, bình đẳng chẳng phải hai chẳng phải khác. Nhập được pháp như, sống trong thắng nghĩa, là nhập được chơn như pháp giới. Nên thấy tất cả pháp bình đẳng không hai không khác.

Phẩm “Chơn Như” kế kiếp sẽ cho ta nhãn quang kỳ diệu này./.

 

---o0o---

 

 


 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,305,609