Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

73. Phẩm "Vô Tướng"

13/09/202013:39(Xem: 4239)
73. Phẩm "Vô Tướng"

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***

buddha-467

 

PHẨM "VÔ TƯỚNG"

Phần sau quyển 466 đến phần đầu quyển 467, Hội thứ II, ĐBN.

(Tương đương phẩm “Vô Tướng Vô Đắc, phần sau Q.373

cho đến phần đầu Q.379, Hội thứ I, ĐBN)

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu 
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên 
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều lấy vô tánh mà làm tự tánh, các đại Bồ Tát hiểu như thế nào mà vì lợi ích an vui hữu tình cần cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Vì tất cả pháp đều lấy vô tánh làm tự tánh, các đại Bồ Tát vì muốn lợi ích an vui hữu tình. Vì sao? Các loại hữu tình đủ kiến chấp đoạn thường, trụ có sở đắc, khó điều phục, ngu si điên đảo khó giải thoát.

Thiện Hiện phải biết, kẻ trụ hữu sở đắc, bởi tưởng có đắc, không đắc, không hiện quán, cũng không được Vô Thượng Bồ đề.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Nếu kẻ có sở đắc, không đắc, không hiện quán, cũng không Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Kẻ không sở đắc, vì có đắc, có hiện quán, có được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề chăng?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Nếu không sở đắc, tức là đắc, tức là hiện quán, tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vì sao? Vì chẳng hoại tướng pháp giới vậy.

Thiện Hiện phải biết! Nếu đối trong cái “chẳng được đây” muốn có đắc, muốn đắc hiện quán, muốn đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, phải biết kẻ ấy muốn hoại pháp giới.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Nếu kẻ có sở đắc, không đắc, không hiện quán, tức không Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Nếu không sở đắc tức là đắc, tức là hiện quán, tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Trong cái “chẳng được đây”, không đắc, không hiện quán cũng không Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, các đại Bồ Tát làm sao từ sơ địa tiến đến thập địa? Làm sao được Vô sanh pháp nhẫn? Làm sao được dị thục(1) thần thông? Làm sao được dị thục bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật? Làm sao được an trụ pháp sanh dị thục như thế để thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, ở chỗ chư Phật cung kính cúng dường để được căn lành, cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà phước báo vẫn chưa hết, lần lượt cho đến sau khi nhập Niết bàn thiết lợi la của Phật và các đệ tử vẫn được cung kính cúng dường mọi thứ, thế lực thiện căn như vậy mới đến nơi đến chốn?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Vì tất cả pháp vô sở đắc nên các đại Bồ Tát có thể từ sơ địa tiến đến thập địa. Tức do đây nên được Vô sanh pháp nhẫn. Tức do đây nên được dị thục thần thông. Tức do đây nên được dị thục bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Tức do đây nên được an trụ pháp sanh dị thục, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật. Ở chỗ chư Phật cung kính cúng dường mới được căn lành, cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà phước báo vẫn chưa hết, lần lữa cho đến sau vào Niết bàn, Thiết lợi la mình và các đệ tử vẫn được cung kính cúng dường thế lực căn lành như vậy mới đến nơi đến chốn.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Nếu tất cả pháp đều vô sở đắc, bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật và các thần thông có gì sai khác?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Vô sở đắc ấy, bố thí cùng năm Ba la mật và các thần thông đều không sai khác. Nhưng vì muốn khiến kẻ hữu sở đắc kia lìa các chấp đắm, phương tiện tuyên nói bố thí cùng năm Ba la mật và các thần thông có tướng sai khác.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Vì nhân duyên gì vô sở đắc ấy, bố thí cùng năm Ba la mật và các thần thông nói không sai khác?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, chẳng đắc bố thí, chẳng đắc kẻ thí, chẳng đắc kẻ thọ, chẳng đắc vật thí, chẳng đắc quả thí mà hành bố thí. Chẳng đắc tịnh giới mà hộ trì tịnh giới. Chẳng đắc an nhẫn mà tu an nhẫn. Chẳng đắc tinh tấn mà siêng tinh tấn. Chẳng đắc tĩnh lự mà vào tĩnh lự. Chẳng đắc Bát Nhã mà khởi Bát Nhã. Chẳng đắc thần thông mà phát thần thông. Chẳng đắc bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo mà tu bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo. Chẳng đắc ba môn giải thoát mà tu ba môn giải thoát. Chẳng đắc bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc mà tu bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Chẳng đắc tám giải thoát cho đến mười biến xứ mà tu tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Chẳng đắc Bồ Tát địa mà tu Bồ Tát địa. Chẳng đắc Đà la ni, Tam ma địa mà tu Đà la ni, Tam ma địa. Chẳng đắc năm nhãn, sáu thần thông mà tu năm nhãn, sáu thần thông. Chẳng đắc Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng mà tu Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Chẳng đắc pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả mà tu pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Chẳng đắc Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí mà tu Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Chẳng đắc hữu tình mà thành thục hữu tình. Chẳng đắc cõi Phật mà nghiêm tịnh cõi Phật. Chẳng đắc tất cả Phật pháp mà chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Như vậy, Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát nên hành vô sở đắc Bát Nhã thẳm sâu. Nếu đại Bồ Tát thường hành vô sở đắc Bát Nhã thẳm sâu, tất cả ác ma và bà con ma đều chẳng năng hoại.

 

Bấy giờ cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao gọi là đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, nhất tâm(2) hiện khởi thời có thể nhiếp thọ sáu Ba la mật; cũng có thể nhiếp thọ bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; cũng có thể nhiếp thọ ba môn giải thoát; cũng có thể nhiếp thọ tám giải thoát cho đến mười biến xứ; cũng có thể nhiếp thọ tất cả Đà la ni, Tam ma địa môn; cũng có thể nhiếp thọ năm nhãn, sáu thần thông; cũng có thể nhiếp thọ Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; cũng có thể nhiếp thọ pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả; cũng có thể nhiếp thọ Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí; cũng có thể nhiếp thọ ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, nếu pháp tu bố thí cho đến Bát Nhã đều được Bát Nhã nhiếp thọ thì mới được viên mãn. Như vậy, cho đến pháp tu ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo đều được Bát nhã Ba la mật nhiếp thọ thì mới được viên mãn.

Như vậy, Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, nhất tâm hiện khởi, thời có thể nhiếp thọ sáu thứ Ba la mật. Như vậy cho đến cũng có thể nhiếp thọ ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo.

Cụ thọ Thiện Hiện thưa rằng:

- Bạch Thế Tôn! Tại sao đại Bồ Tát khi hành Bát nhã Ba la mật có làm việc gì đều được Bát nhã Ba la mật nhiếp thọ, cho nên nhất tâm hiện khởi thời có thể nhiếp thọ sáu Ba la mật cho đến ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, nếu pháp tu bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật đều được Bát nhã Ba la mật nhiếp thọ nên xa lìa hai tưởng. Như vậy, cho đến pháp tu ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo cũng được Bát nhã Ba la mật nhiếp thọ nên xa lìa hai tưởng.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Tại sao đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu tuy hành bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật mà không hai tưởng? Như vậy, cho đến tuy tu ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo mà không hai tưởng?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, vì muốn viên mãn bố thí Ba la mật, nên tức trong bố thí Ba la mật nhiếp thọ tất cả Ba la mật, cho đến ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo mà hành bố thí. Do nhân duyên đây mà không hai tưởng. Như vậy, cho đến vì muốn viên mãn ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo, nên tức trong ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo nhiếp thọ tất cả Ba la mật. Bởi nhân duyên đây mà không hai tưởng(3).

Lại nữa, Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát hành Bát Nhã thẳm sâu, nên khi hành bố thí Ba la mật trụ tâm vô lậu mà hành bố thí. Hoặc khi hành tịnh giới cho đến Bát nhã Ba la mật trụ tâm vô lậu mà hành tịnh giới cho đến Bát nhã Ba la mật. Vậy nên, tuy hành bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật mà không hai tưởng. Như vậy, cho đến hoặc khi tu ba mươi hai tướng Đại sĩ thì trụ vào tâm vô lậu mà tu ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ; nếu tu tám mươi tùy hảo, thì trụ tâm vô lậu mà tu tám mươi tùy hảo. Vậy nên, tuy tu ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo mà không hai tưởng.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Sao là đại Bồ Tát hành Bát Nhã thẳm sâu, hoặc khi hành bố thí Ba la mật trụ tâm vô lậu mà hành bố thí, như vậy cho đến hoặc khi tu tám mươi tùy hảo, trụ tâm vô lậu mà tu tám mươi tùy hảo?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Nếu đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, đem tâm ly tướng chẳng thấy các tướng mà hành bố thí. Chỗ gọi chẳng thấy ai năng hành thí, thí những vật gì, ai thọ thí đây, vì sao hành thí. Trụ trong tâm ly tướng vô lậu này, lìa keo lìa bẩn mà hành bố thí. Bấy giờ, chẳng thấy sở hành bố thí, cũng lại chẳng thấy tâm vô lậu đây, cho đến chẳng thấy tất cả Phật pháp.

Như vậy, đại Bồ Tát trụ tâm vô lậu mà hành bố thí. Cho đến đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, đem tâm ly tướng chẳng thấy các tướng mà tu tám mươi tùy hảo. Chỗ gọi chẳng thấy ai tu tám mươi tùy hảo, chẳng vì ai mà tu tám mươi tùy hảo, và vì sao mà tu tám mươi tùy hảo. Trụ tâm ly tướng vô lậu đây, không nhiễm không đắm mà tu tám mươi tùy hảo, cũng lại chẳng thấy tâm vô lậu này, cho đến chẳng thấy tất cả Phật pháp. Như vậy, đại Bồ Tát trụ tâm vô lậu mà tu tám mươi tùy hảo.

 

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Nếu đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, đối tất cả pháp vô tướng vô tác, làm sao có thể viên mãn bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật? Như vậy, cho đến làm sao có thể viên mãn ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, thường đem tâm ly tướng vô lậu mà hành bố thí, tùy các hữu tình cần dùng của cải các thứ đều thí cho. Nếu có cần nội tài đầu mắt tủy não, da thịt lóng đốt, gân xương thân mạng, cũng đều thí cho. Nếu có cần ngoại tài quốc thành, vợ con, thân thuộc sở ái, các thức đồ trang nghiêm cũng đều thí cho. Khi thí như thế, giả sử có người đến hiện tiền mắng nhiếc: Khốn thay, Đại sĩ! Tại sao phải dùng hạnh đây làm chi chẳng ích lợi gì? Kẻ thí như thế đời này đời sau vẫn chịu nhiều khổ não. Đại Bồ Tát này vì hành Bát Nhã thẳm sâu, nên dù nghe kẻ khác dìm pha, hủy báng mà chẳng thối lui. Chỉ khởi nghĩ này: Kẻ kia dù có mắng nhiếc chẳng nên sanh lòng buồn hối, ta phải mạnh mẽ thí các hữu tình vật cần dùng, thân tâm không mỏi. Đại Bồ Tát này đem bố thí đây ban cho các hữu tình bình đẳng chung có, hồi hướng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Lúc bố thí và hồi hướng, không thấy tướng ấy nghĩa là không thấy ai bố thí, nơi thí, vật thí, ai nhận bố thí, lý do bố thí, cũng không thấy ai hồi hướng, vì sao phải hồi hướng, hồi hướng như thế nào, hồi hướng cho ai, đối với tất cả các vật và việc như vậy họ đều không thấy. Vì sao? Các pháp như vậy đều do nội không nên rỗng không, như vậy cho đến do tự tướng không nên rỗng không.

Đại Bồ Tát sau khi quan sát tất cả pháp đều rỗng không rồi, lại khởi nghĩ này: Ai hồi hướng, hồi hướng cho ai, vì sao phải hồi hướng… các pháp như thế đều bất khả đắc. Đại Bồ Tát này do quán như thế và nghĩ như thế, nên việc hồi hướng đó gọi là thiện hồi hướng. Do đây, lại có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật. Cũng thường viên mãn bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Như vậy, cho đến cũng thường viên mãn ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo.

Đại Bồ Tát này dù thường viên mãn bố thí Ba la mật như thế, mà chẳng nhiếp thọ quả thí dị thục. Dù chẳng nhiếp thọ quả thí dị thục mà do bố thí khéo thanh tịnh nên tùy ý có thể sắm tất cả của cải, giống như các trời Tha hóa tự tại cần dùng vật gì theo ý muốn liền hiện ra tùy ý. Cũng lại như thế, các vật mà đại Bồ Tát này cần dùng đều hiện ra đầy đủ theo ý. Họ có thể đem các phẩm vật vi diệu để cung kính cúng dường tôn trọng ngợi khen chư Phật Thế Tôn, cũng có thể làm cho trời, người, A tu la… có đầy đủ các thứ cần dùng. Nhờ việc bố thí Ba la mật, vị ấy thu nhiếp các hữu tình, dùng phương tiện thiện xảo bằng pháp ba thừa để an lập, giúp họ đều được lợi ích an vui.

Như vậy, Thiện Hiện! Lúc thực hành Bát Nhã thẳm sâu, nhờ năng lực của tâm vô lậu xa lìa tướng, đại Bồ Tát này có thể ở trong pháp vô tướng, vô tác làm viên mãn bố thí Ba la mật, cũng có thể viên mãn các công đức khác.

 

Lại nữa Thiện Hiện! Lúc thực hành Bát Nhã thẳm sâu, các đại Bồ Tát có thể dùng tâm vô lậu lìa tướng thọ trì tịnh giới, nghĩa là nhiếp thuộc Thánh đạo vô lậu sẽ đạt được giới thiện thanh tịnh. Tịnh giới như vậy không khuyết, không rỉ, không tì vết, không dơ bẩn, không chấp trước vật gì, đáng được thọ dụng cúng dường, được người trí khen ngợi. Nhờ tịnh giới đây nên chẳng chấp thủ (chẳng chấp đắm và nắm gi) tất cả pháp, nghĩa là chẳng chấp thủ sắc thọ tưởng hành thức; chẳng chấp thủ mười hai xứ cho đến mười tám giới; chẳng chấp thủ ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo; chẳng chấp thủ đại tộc Sát đế lợi, đại tộc Bà la môn, Trưởng giả, Cư sĩ; chẳng chấp thủ trời Bốn đại vương chúng cho đến trời Tha hóa tự tại; chẳng chấp thủ trời Phạm chúng cho đến trời Sắc cứu cánh; chẳng chấp thủ trời Không vô biên xứ cho đến trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ; chẳng chấp thủ quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ đề, chẳng chấp thủ Bồ Tát hạnh cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Chỉ đem giới đã thọ trì như thế ban cho các hữu tình bình đẳng chung có, rồi hồi hướng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Và khi hồi hướng đem vô tướng, vô sở đắc, bất nhị làm phương tiện, chẳng lấy có tướng, có sở đắc, có hai làm phương tiện. Đó là nói theo thế tục, chẳng theo thắng nghĩa. Do nhân duyên đây, tất cả Phật pháp đều được viên mãn. Nhờ phương tiện thiện xảo tịnh giới Ba la mật đây, các đại Bồ Tát phát khởi bốn phần tĩnh lự được thăng tiến, lại lấy không nhiễm đắm làm phương tiện, nên dẫn phát được các thần thông. Đại Bồ Tát này dùng thiên nhãn thông thanh tịnh thấy chư Phật hiện tại mười phương vô biên thế giới vì các hữu tình tuyên nói Chánh pháp, đối với việc đã thấy như thế thường chẳng quên mất, tùy pháp đã nghe làm các việc lợi vui cho mình người không bỏ.

Đại Bồ Tát này lại dùng tha tâm trí, biết được tâm, tâm sở mười phương Phật và các hữu tình. Biết rồi năng khởi các việc lợi vui tất cả hữu tình. Đại Bồ Tát này dùng túc trụ trí biết các hữu tình gây nghiệp đời trước. Bởi nghiệp đã gây chẳng dứt nên phải sanh vào nơi chịu nhiều khổ vui. Biết rồi, nên nói nhân duyên bản nghiệp, khiến họ nhớ biết việc làm đời trước mà cải sửa. Đại Bồ Tát này dùng lậu tận trí an lập hữu tình hoặc khiến trụ quả Dự lưu, hoặc khiến trụ quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, hoặc Độc giác Bồ đề, hoặc khiến trụ Bồ Tát thắng vị, hoặc khiến trụ Nhất thiết trí trí.

Tóm lại mà nói, đại Bồ Tát này dù sanh ở chỗ nào cũng tùy theo khả năng khác nhau của hữu tình mà tìm cách giúp họ trụ vào phẩm vị thù thắng.

Thế nên Thiện Hiện! Lúc thực hành Bát Nhã thẳm sâu, nhờ năng lực của tâm vô lậu lìa tướng nên đại Bồ Tát này có thể ở trong pháp vô tướng vô tác làm viên mãn tịnh giới Ba la mật, cũng có thể viên mãn các công đức khác.

 

Lại nữa, Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, thường đem tâm ly tướng vô lậu mà tu an nhẫn. Đại Bồ Tát này từ sơ phát tâm cho đến ngồi yên tòa Bồ đề, ở giữa khoảng ấy giả sử tất cả hữu tình đều cầm các thứ dao gậy ngói đá đua nhau đến gia hại, Bồ Tát này chẳng khởi một niệm sân hận.

Bấy giờ, Bồ Tát nên tu hai nhẫn. Những gì là hai? Một là nên chịu mắng nhiếc gia hại của tất cả hữu tình, chẳng sanh tâm căm hận. Hai là nên khởi Vô sanh pháp nhẫn. Bồ Tát này nếu gặp các lời ác mắng nhục, hoặc gặp các thứ dao gậy gia hại, nên suy xét kỹ: Ai mắng nhục, ai gia hại, ai bị lăng nhục, ai chịu gia hại, ai khởi hờn giận, ai phải nhẫn chịu.

Lại phải suy xét kỹ tánh của tất cả pháp đều không, pháp còn bất khả đắc huống là có pháp tánh, pháp tánh còn không huống là có hữu tình. Lúc quán như vậy hoặc người mạ nhục, hoặc người bị mạ nhục, hoặc người làm hại, hoặc người bị làm hại đều vô sở hữu, cho đến bị cắt chặt thân thể thành nhiều phần tâm vị ấy cũng an nhẫn, hoàn toàn không có niệm gì khác. Vị ấy quán sát như thật đối với pháp tánh như thế, nên có thể chứng đắc Vô sanh pháp nhẫn.

Tại sao gọi là Vô sanh pháp nhẫn? Nghĩa là khiến tất cả phiền não chẳng sanh, trí huệ vi diệu thường không gián đoạn và quán các pháp rốt ráo chẳng sanh. Vậy nên gọi là Vô sanh pháp nhẫn.

Đại Bồ Tát này an trụ trong hai thứ nhẫn như thế, mau viên mãn được bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Mau viên mãn được bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo. Mau viên mãn được bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Mau viên mãn được tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Mau viên mãn được không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Mau viên mãn Bồ Tát thập địa. Mau viên mãn được tất cả Đà la ni, Tam ma địa. Mau viên mãn được năm nhãn, sáu thần thông. Mau viên mãn được Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Mau viên mãn được pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Mau viên mãn được Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Mau viên mãn được ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. An trụ thần thông thù thắng như thế rồi, dùng thiên nhãn thanh tịnh hằng thấy chư Phật mười phương vô biên thế giới hiện tại an ổn trụ trì, vì các hữu tình tuyên nói Chánh pháp, cho đến chứng được Nhất thiết trí trí, khởi Phật tùy niệm thường không gián đoạn. Đại Bồ Tát này hành Bát Nhã thẳm sâu trọn nên thù thắng phương tiện khéo léo, nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình, mau được đầy đủ Nhất thiết trí trí, chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp độ chúng hữu tình.

Như vậy, Thiện Hiện! Lúc hành Bát Nhã thẳm sâu, nhờ năng lực của tâm vô lậu lìa các tướng, các đại Bồ Tát này có thể ở trong pháp vô tướng vô tác làm viên mãn an nhẫn Ba la mật, cũng có thể viên mãn các công đức khác.

 

Lại nữa, Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành Bát Nhã thẳm sâu, thường đem tâm ly tướng vô lậu tu tinh tấn. Đại Bồ Tát này trọn nên thân tâm tinh tấn dũng mãnh. Do đây thường vào sơ tĩnh lự cho đến năng vào tĩnh lự thứ tư trụ đầy đủ. Nương bốn tĩnh lự khởi vô lượng thần thông biến hiện. Vì trọn nên thân tinh tấn dũng mãnh, nên nhờ sức thần thông, trải qua giây lát có thể đến thế giới chư Phật mười phương như cát sông Hằng. Lại đem các thứ cơm ăn áo mặc, đồ nằm, thuốc men và các thứ tư cụ khác, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen chư Phật Thế Tôn hiện thuyết Chánh pháp. Do phước báo căn lành đây vô tận, cho đến chứng được Nhất thiết trí trí. Do thế lực căn lành đây tăng thượng, được thành Phật rồi, lại vì vô lượng thế gian trời, người, A tu la…, đem vô lượng thứ cơm ăn áo mặc đồ nằm thuốc men và các tư cụ khác, cung kính cúng dường tôn trọng ngợi khen. Do thế lực căn lành đây tăng thượng, sau vào Niết bàn, thiết lợi la mình và các đệ tử vẫn được vô lượng thế gian trời, người, A tu la… cung kính cúng dường tôn trọng ngợi khen.

Đại Bồ Tát này lại đem thần lực năng đến thế giới chư Phật mười phương như cát sông Hằng, ở chỗ chư Phật lóng nghe Chánh pháp. Nghe rồi thọ trì, cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề trọn chẳng quên mất. Đại Bồ Tát này lại đem thần lực thường đến thế giới chư Phật mười phương như cát sông Hằng, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, tinh siêng tu học Nhất thiết trí trí. Được viên mãn rồi, chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp độ chúng hữu tình.

Thiện Hiện! Do thực hành Bát Nhã thậm sâu, thành tựu thân tinh tấn mạnh nê, nên các đại Bồ Tát ấy có thể làm cho tinh tấn Ba la mật sớm được viên mãn.

Lại nữa Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát thực hành Bát Nhã thẳm sâu, thành tựu tâm tinh tấn dõng mãnh, nên sớm có thể viên mãn các đạo vô lậu của bậc Thánh và các chi đạo khác thuộc về tinh tấn Ba la mật. Nhờ đó, vị ấy có thể làm cho các nghiệp bất thiện nơi thân, khẩu, ý không phát sanh. Đối với các pháp, đại Bồ Tát này không chấp trước thường hoặc vô thường, hoặc vui hoặc khổ, hoặc ngã hoặc vô ngã, hoặc tịnh hoặc bất tịnh, hoặc vắng lặng hoặc không vắng lặng, hoặc xa lìa hoặc không xa lìa, hoặc cảnh giới hữu vi hoặc cảnh giới vô vi, hoặc dục giới, hoặc sắc giới, hoặc vô sắc giới, hoặc cảnh giới hữu lậu, hoặc cảnh giới vô lậu, hoặc bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật, hoặc nội không cho đến vô tánh tự tánh không, hoặc chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì, nói rộng ra đại Bồ Tát này đối với tất cả pháp Phật, cũng không chấp trước! Vì sao? Vì pháp chấp trước và các hữu tình đều không tự tánh và không thể nắm bắt.

Nhờ đại Bồ Tát ấy thành tựu tâm tinh tấn, dõng mãnh nên tuy thường tạo tác các việc lợi ích cho tất cả hữu tình nhưng đối với hữu tình hoàn toàn vô sở đắc, tuy thường viên mãn pháp tu tinh tấn Ba la mật nhưng đối với tinh tấn Ba la mật hoàn toàn vô sở đắc, tuy thường viên mãn tất cả pháp Phật nhưng đối với pháp Phật hoàn toàn vô sở đắc, tuy thường trang nghiêm tất cả cõi Phật nhưng đối với cõi Phật hoàn toàn vô sở đắc.

Đại Bồ Tát này thành tựu thân tâm tinh tấn như vậy, tuy có thể xa lìa tất cả ác pháp, lại có thể hộ trì tất cả thiện pháp nhưng không chấp trước. Do không chấp trước nên từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, từ thế giới này đến thế giới khác, vì muốn làm lợi ích cho các loài hữu tình, nên vị ấy muốn thị hiện các thần thông thì đều có thể thị hiện tự tại vô ngại.

Vì muốn lợi ích các hữu tình nên vị ấy xả bỏ của báu hoặc xả bỏ vợ con, hoặc xả bỏ ngôi vua, hoặc xả bỏ các bộ phận trong thân, hoặc xả bỏ thân mạng, tùy theo các hữu tình cần phải dùng phương tiện như vậy mới được lợi ích, vị ấy liền dùng phương tiện như vậy để lợi ích họ.

Như vậy, Thiện Hiện! Lúc hành Bát Nhã thẳm sâu, nhờ năng lực của tâm vô lậu lìa tướng, các đại Bồ Tát này có thể ở trong pháp vô tướng vô tác làm viên mãn tinh tấn Ba la mật, cũng có thể viên mãn các công đức khác. 

 

Lại nữa Thiện Hiện! Lúc thực hành Bát Nhã thẳm sâu, các đại Bồ Tát có thể dùng tâm vô lậu lìa tướng để tu tịnh lự. Ngoài các định của Phật, đối với các định khác, đại Bồ Tát này đều có thể viên mãn. Đại Bồ Tát này lìa dục ác bất thiện, có tầm có tứ, ly sanh hỷ lạc nhập vào sơ tịnh lự và hoàn toàn an trụ trong đó, như vậy cho đến dứt vui dứt khổ, vui buồn trước đây lặn mất, không khổ không vui, xả niệm thanh tịnh nhập vào tầng thiền thứ tư và hoàn toàn an trụ trong đó. Đại Bồ Tát này dùng tâm từ bi duyên từ một phương cho đến tất cả thế gian khắp mười phương và hoàn toàn an trụ trong đó, như vậy cho đến dùng tâm hỷ xả duyên khắp một phương cho đến tất cả thế gian khắp mười phương và hoàn toàn an trụ trong đó. Đại Bồ Tát này vượt các sắc tưởng, diệt trừ tưởng, không tư duy các loại tưởng nhập vào Không vô biên, Thức vô biên xứ và hoàn toàn an trụ trong đó, như vậy cho đến vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, nhập vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ và hoàn toàn an trụ trong đó.

Đại Bồ Tát này an trụ vào tịnh lự Ba la mật, có thể nhập thuận nghịch đối với tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ và hoàn toàn an trụ trong đó. Đại Bồ Tát này có thể hoàn toàn an trụ vào pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, có thể hoàn toàn an trụ vào vô gián Tam ma địa, như điển Tam ma địa, Thánh chánh Tam ma địa, Kim cang dụ Tam ma địa. Đại Bồ Tát này an trụ vào tịnh lự Ba la mật, tu ba mươi bảy pháp Bồ đề phần và Đạo tướng trí làm cho đều được viên mãn. Dùng Đạo tướng trí để hộ trì tất cả Tam ma địa rồi tuần tự tu vượt qua Tịnh quán địa cho đến Độc giác địa, chứng nhập Bồ Tát Chánh tánh ly sanh. Sau khi đã vào Bồ Tát Chánh tánh ly sanh, vị ấy tu các địa và thực hành viên mãn Phật địa. Tuy đại Bồ Tát này tuần tự tu tập vượt qua các địa nhưng khi đang tu không nắm giữ quả chứng cho đến nếu chưa đạt được Nhất thiết trí trí.

Đại Bồ Tát này an trụ tịnh lự Ba la mật từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, để cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen chư Phật Thế Tôn, trồng các căn lành nơi các vị Phật, thành thục hữu tình, trang nghiêm cõi Phật, từ thế giới này đến thế giới khác làm lợi ích hữu tình, thân tâm không mệt mỏi, hoặc dùng bố thí, hoặc dùng tịnh giới, dùng an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, hoặc dùng Bát nhã Ba la mật để giúp đỡ các hữu tình, hoặc dùng giới uẩn, định uẩn, huệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát trí kiến uẩn để giúp đỡ các hữu tình, hoặc dạy hữu tình trụ vào quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, hoặc Độc giác Bồ đề, hoặc trụ vào địa vị của đại Bồ Tát, hoặc trụ quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, tùy theo thế lực thiện căn và sự tăng trưởng pháp lành của các hữu tình mà vị ấy tạo đủ các phương tiện giúp họ an trụ.

Đại Bồ Tát nào an trụ vào tịnh lự Ba la mật, có thể phát sanh tất cả pháp môn Đà la ni, pháp môn Tam ma địa, có thể chứng đắc bốn vô ngại giải và thần thông dị thục thù thắng. Đại Bồ Tát này thành tựu thần thông dị thục thù thắng quyết định không nhập trở lại thai mẹ để nhiễm các dục lạc thế gian. Vì sao? Vì đại Bồ Tát này khéo thấy khéo biết tất cả pháp tánh đều như huyễn hóa. Dù biết các hành như huyễn hóa nhưng vị ấy vẫn nương Bi nguyện nhiêu ích hữu tình. Tuy hữu tình được giúp và việc thi thiết kia đều bất khả đắc nhưng vị ấy có thể an lập tất cả hữu tình, giúp họ an trụ vào pháp bất khả đắc. Đây là dựa vào thế tục, không dựa vào thắng nghĩa.

Đại Bồ Tát này an trụ vào tịnh lự Ba la mật, tu hành tất cả tịnh lự, giải thoát, đẳng trì, đẳng chí cho đến viên mãn quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà mình mong cầu, thường không xa lìa việc tu tịnh lự Ba la mật.

Đại Bồ Tát này thực hành Đạo tướng trí, tìm cách làm phát sanh Nhất thiết tướng trí, an trụ ở trong đó vĩnh viễn đoạn trừ tập khí tương tục, có thể tự lợi và lợi tha một cách đúng đắn, có thể tạo ruộng phước thanh tịnh cho tất cả thế gian, trời, người, A tu la…, đáng được nhận sự cúng dường cung kính của thế gian.

Như vậy, Thiện Hiện! Lúc hành Bát Nhã thẳm sâu, nhờ năng lực của tâm vô lậu lìa tướng, các đại Bồ Tát này có thể ở trong pháp vô tướng vô tác làm viên mãn tĩnh lự Ba la mật, cũng có thể viên mãn các công đức khác. (Q.467, ĐBN)

 

Lại nữa Thiện Hiện! Lúc thực hành Bát Nhã thẳm sâu, các đại Bồ Tát có thể dùng tâm vô lậu lìa tướng để tu Bát Nhã. Đại Bồ Tát này không thấy một pháp nhỏ nào thật có thành tựu, nghĩa là không thấy sắc thật có thành tựu, không thấy thọ, tưởng, hành, thức thật có thành tựu; không thấy sắc sanh, không thấy thọ, tưởng, hành, thức sanh; không thấy sắc diệt, không thấy thọ, tưởng, hành, thức diệt; không thấy sắc là pháp tăng ích, không thấy thọ, tưởng, hành, thức là pháp tăng ích; không thấy sắc là pháp tổn giảm, không thấy thọ, tưởng, hành, thức là pháp tổn giảm; không thấy sắc có tích tụ, không thấy thọ, tưởng, hành, thức có tích tụ; không thấy sắc có ly tán, không thấy thọ, tưởng, hành, thức có ly tán; như vậy, cho đến không thấy tất cả pháp hữu lậu hay pháp vô lậu thật có thành tựu, sanh diệt, tăng ích tổn giảm, tích tụ ly tán. Quán như thật để thấy sắc là hư vọng, không chắc thật, không tự tại; quán như thật để thấy thọ, tưởng, hành, thức là hư vọng, không chắc thật, không tự tại. Như vậy, cho đến quán như thật để thấy tất cả pháp hữu lậu, vô lậu là hư vọng, không chắc thật, không tự tại. Lúc quán như thật, Đại Bồ Tát này không chấp thủ tự tánh của sắc, không chấp thủ tự tánh của thọ, tưởng, hành, thức như vậy cho đến không chấp thủ tự tánh của tất cả pháp hữu lậu, không chấp thủ tự tánh của tất cả pháp vô lậu.

Đại Bồ Tát này khi quán như thế chẳng đắc tự tánh sắc, chẳng đắc tự tánh thọ tưởng hành thức. Như vậy, cho đến chẳng đắc tự tánh tất cả pháp hữu lậu, chẳng đắc tự tánh tất cả pháp vô lậu.

Đại Bồ Tát này hành Bát Nhã thẳm sâu khi quán như thế rất sanh tin hiểu, đối tất cả pháp đều lấy vô tánh mà làm tự tánh. Đối việc như vậy sanh tin hiểu rồi, năng hành nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Khi hành như thế đối tất cả pháp không sanh chấp trước. Nghĩa là chẳng chấp trước sắc, chẳng chấp trước thọ tưởng hành thức. Chẳng chấp trước mười hai xứ cho đến mười tám giới. Chẳng chấp trước nhãn xúc cho đến ý xúc. Chẳng chấp trước nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ. Chẳng chấp trước địa giới cho đến thức giới. Chẳng chấp trước nhân duyên cho đến tăng thượng duyên. Chẳng chấp trước vô minh cho đến lão tử. Chẳng chấp trước bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Chẳng chấp trước nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Chẳng chấp trước chơn như cho đến bất tư nghì giới. Nói rộng ra, chẳng chấp trước tất cả pháp Phật.

Đại Bồ Tát này khi hành Bát Nhã thẳm sâu vô sở hữu thường viên mãn Bồ Tát đạo. Nghĩa là thường viên mãn sáu Ba la mật. Cũng thường viên mãn nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Cũng thường viên mãn chơn như cho đến bất tư nghì giới. Nói rộng ra, cũng thường viên mãn tất cả pháp Phật. Đại Bồ Tát này viên mãn đạo Bồ đề như thế rồi, lại năng viên mãn Phật đạo lìa tối, nghĩa là thường viên mãn sáu Ba la mật và vô lượng vô biên Phật pháp khác.

Đại Bồ Tát này an trụ Phật đạo lìa tối như thế, dẫn phát dị thục thần thông thù thắng, tùy các hữu tình kẻ nên dùng bố thí thì dùng bố thí, kẻ nên dùng tịnh giới thì nên dùng tịnh giới, kẻ nên dùng an nhẫn thì nên dùng an nhẫn v.v… mà nhiếp thọ. Kẻ nên dùng nhóm giới, nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát trí kiến thì dùng nhóm giới cho đến nhóm giải thoát trí kiến mà nhiếp thọ. Kẻ nên khiến an trụ quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề hoặc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề tức phương tiện khiến an trụ quả Dự lưu cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Đại Bồ Tát này thường hóa hiện các thần thông, muốn đến thế giới mười phương như cát sông Hằng thì tùy ý đến, muốn hiện trong các thế giới đã đến có các thứ ngọc báu tùy ý hóa hiện, khiến các hữu tình trong thế giới đã đến thọ dụng các thứ ngọc báu đầy đủ vui thích. Đại Bồ Tát này từ một thế giới qua một thế giới làm lợi ích an vui vô lượng hữu tình.

Đại Bồ Tát này do dị thục sanh bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Do dị thục sanh đạo Bồ Tát nên hành Đạo tướng trí. Do Đạo tướng trí được thành thục, nên lại chứng được Nhất thiết tướng trí. Do chứng được trí đây, đối tất cả pháp không muốn nắm giữ. Nghĩa là chẳng nắm giữ sắc, cũng chẳng nắm giữ thọ tưởng hành thức. Như vậy, cho đến cũng chẳng nắm giữ hoặc pháp thiện hoặc pháp phi thiện, hoặc pháp hữu ký hoặc pháp vô ký, hoặc pháp thế gian, hoặc pháp xuất thế gian, hoặc pháp hữu lậu hoặc pháp vô lậu, hoặc pháp hữu vi hoặc pháp vô vi. Cũng chẳng nắm giữ sự chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vì sao? Vì tất cả pháp vô sở đắc, nên đại Bồ Tát này chẳng nắm giữ, mà vì các hữu tình tuyên nói không trái ngược về sự không nắm giữ của tất cả pháp tánh.

Như vậy, Thiện Hiện! Lúc hành Bát Nhã thẳm sâu, nhờ năng lực của tâm vô lậu lìa tướng, các đại Bồ Tát này có thể ở trong pháp vô tướng vô tác làm viên mãn Bát nhã Ba la mật, cũng có thể viên mãn các công đức khác. (Q.467, ĐBN)

 

Thích nghĩa:

(1). Dị thục (異熟) Phạm: Vipàka. Các nhà dịch cũ dịch là quả báo. Âm Hán: Tì bá ca. Gọi chung quả báo cảm được do nghiệp thiện, ác đã tạo ở đời trước; vì quả khi chín (thục) thì tính chất lại khác (dị) với nhân nên gọi là Dị thục. Vấn đề này có nhiều cách giải thích. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thì Dị thục là nhân biến làm quả, tính chất của quả này khác với tính chất của nhân. Nhân có thiện có ác, mà quả thì là tính vô ký không thiện không ác, cho nên từ nhân chín thành quả thì tính chất của nó đã biến đổi làm loại khác. Nhưng, cứ theo Thành duy thức luận thuật ký quyển 2, thì Dị thục có ba nghĩa: 1- Dị thời thục (chín khác thời), nghĩa là nhân và quả cách đời mới chín. 2- Biến dị thục (chín đổi khác), nghĩa là quả do nhân đổi khác mà chín. 3- Dị loại thục (chín khác loại), nghĩa là quả và nhân khác loại và do nhân chín mà thành quả. Trong ba nghĩa nêu trên, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Dị loại thục, Kinh bộ chủ trương Biến dị thục, tông Duy thức cũng chủ trương Dị loại thục. Thuyết nhất thiết hữu bộ và tông Duy thức tuy cùng chủ trương nghĩa Dị loại thục, nhưng ý chỉ của hai tông thì không giống nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng, sức của tính vô ký yếu ớt, hệt như hạt giống đã mục nát, hoàn toàn thiếu mất nghĩa nhân duyên, cho nên không chiêu cảm quả dị thục. Vì lẽ này, nên mối quan hệ giữa Dị thục nhân và Dị thục quả được phối hợp với Nhân duyên trong bốn duyên. Còn tông Duy thức thì cho rằng, nhân của đẳng lưu tập khí đều suốt cả ba tính thiện, ác, vô ký. Nghĩa là trong quả Dị thục có bao hàm nhân vô ký, cho nên tuy là nhân quả đẳng lưu, nhưng cần có sự giúp đỡ của hạt giống nghiệp (nghiệp chủng tử) mới có thể dẫn sinh quả báo vô ký. Chính vì quả báo vô ký và hạt giống nghiệp này mà gọi là Dị thục, và hạt giống nghiệp này tức là nhân dị thục, còn quả báo vô ký thì là quả dị thục. Theo đó, thì nhờ sức giúp đỡ của tăng thượng duyên mà nhân dị thục (hạt giống nghiệp) thành quả dị thục, và nhân dị thục này là hạt giống của Tư tâm sở thiện, ác tuơng ứng với thức thứ 6. Hạt giống Tư tâm sở nói trên đây có hai công năng: 1- Công năng tự sinh khởi hiện hành. 2- Công năng giúp đỡ các hạt giống vô ký dị thục khác khiến sinh ra. Nói theo nghĩa tự sinh khởi hiện hành, thì hạt giống này là nhân gần, cũng tức là nhân đẳng lưu, quả đẳng lưu. Còn nói theo nghĩa giúp đỡ các hạt giống vô ký dị thục khác, thì hạt giống này là duyên tăng thượng, cũng tức là nhân dị thục, quả dị thục. Ngoài ra, Dị thục nhân là một trong sáu nhân (Dị thục, Năng tác, Câu hữu, Đồng loại, Tương ứng, Biến hành), Dị thục quả là một trong năm quả (Dị thục, Tăng thượng, Sĩ dụng, Đẳng lưu, Li hệ). Năng lực sản sinh ra quả dị thục, gọi là Hữu dị thục; ngược lại thì gọi là Vô dị thục. Tông Duy thức chia Dị thục làm hai: 1- Chân dị thục (hoặc gọi tắt: Dị thục), là quả thể tổng báo của thức thứ 8. 2- Dị thục sinh, từ chân dị thục sinh ra, như thức A lại da là Chân dị thục, sáu thức là Dị thục sinh. Ngoài ra, chúng sinh ở những nơi như: Địa ngục, quỉ đói, súc sinh, châu Bắc câu lô, cõi trời Vô tưởng v.v.., vì không được nghe pháp tu hành, cho nên thế giới của hạng chúng sinh này được gọi là Dị thục chướng. Đây là do nghiệp nhân đời trước của chúng sinh chiêu cảm quả báo ở đời này mà tái sinh vào các thế giới ấy, nên gọi là Dị thục chướng. Phỏng theo Từ điển Phật Quang.

 (2). Nhất tâm: Theo từ điển Đạo Uyển, nhất tâm ; C: yīxīn; J: ishin; P: ekāgattā; S: svacitta-mātra, eka-agra, eka-citta, dhyāna. Tâm. 1- Là nền tảng căn bản nhất. Là chân như của mọi hiện hữu. “Nhất” nghĩa thông thường là đồng nhất với tuyệt đối. “Tâm” có nghĩa là ‘chắc thật’. Cũng vậy, nhất tâm là căn bản của toàn thể hữu tình. Là thực tại tuyệt đối căn bản của mọi hiện tượng trong vũ trụ. Đây là tư tưởng trung tâm của Đại thừa khởi tín luận (起信論), trong đó, Nhất tâm được xem là đồng nhất với Pháp thân (法身; s: dharmakāya) và Pháp giới (法界; s: dharmadhātu); 2- Hợp nhất tâm, do vậy, nên gọi “hợp nhất tinh thần” hay là sự tập trung tâm ý. Tâm an trú vào đức Phật A di đà khi quán tưởng đến Ngài; 3- Tập trung toàn tâm toàn ý một cách nhiệt thành, không để cho tán loạn.

Ở đây có thể giải thích nhất tâm là chỉ cho tâm chuyên chú vào 1 đối tượng, không cho các vọng niệm sanh khởi.

(3). Không hai tưởng: Kinh ĐBN dịch là “không hai tưởng”, Kinh MHBNBLMĐ dịch là “bất nhị tướng”. Không tưởng CÓ không tưởng KHÔNG thì gọi là bất nhị tưởng, không tưởng có không tưởng không cũng có thế gọi là bất nhị tướng. “Không hai” hay “bất nhị” cũng như nhau. Nên nói ngôn từ có khác nhưng ý không sai khác.

 

Sơ giải:

 

1. Không tưởng Có, tưởng Không, xa lìa hai tưởng.

 

Kẻ trụ có sở đắc, bởi tưởng có sở đắc, nên không đắc, không hiện quán, cũng không được Vô Thượng Bồ đề. Kẻ trụ không sở đắc, cũng không đắc, không hiện quán, cũng không được Vô thượng Bồ đề. Phải biết nếu đối “không sở đắc” đây muốn có sở đắc, muốn đắc, muốn hiện quán, muốn chứngVô Thượng Bồ đề, Phật bảo “phải biết kẻ đó muốn phá hoại pháp giới”.

Tại sao? Vì đem tâm chấp đắm. Có chấp là có nắm bắt có buông bỏ, là vì phân biệt chọn lựa. Nên, tâm sanh diệt, nghiêng ngả, nọ kia. Đã là sanh diệt, nghiêng ngả nọ kia… thì làm sao tu, làm sao chứng mà cho là tu, là chứng. Như vậy, gọi là điên đảo nên Phật bảo là phá hoại pháp giới. Pháp giới vốn như tướng, không nọ không kia, xa lìa hai tưởng.

Phẩm “Học Đạo Khắp”, quyển 370, Hội thứ I, ĐBN nói rằng: “Tất cả pháp chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải nhất tướng, chẳng phải dị tướng. Nếu đại Bồ Tát biết tất cả pháp hoặc hữu tướng, hoặc vô tướng, hoặc nhất tướng, hoặc dị tướng, đều đồng một tướng thì đó là vô tướng. Tu vô tướng này là tu Bát nhã Ba la mật”. Vì vô tướng nên không thấy không biết. Không thấy không biết nên không chấp, vì vô chấp thì vô ngại nên không cần lìa mà tự nhậm lìa. Lìa tức không còn suy vi tạo tác nữa. Tu như vậy là tu Bát nhã Ba la mật, xa lìa hai tưởng, lìa chấp lìa đắm, mới có thể nhất tâm nhiếp thọ đầy đủ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, trí tuệ; cũng có thể nhiếp thọ đầy đủ tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc; cũng có thể nhiếp thọ đầy đủ 37 pháp trợ đạo, tứ đế, 18 pháp bất cộng; cũng có thể nhiếp thọ đầy đủ Nhất thiết tướng trí cho đến quả vị Vô Thượng Bồ đề.

“Nếu đại Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật, dùng tâm ly tướng tu hành 37 phép trợ đạo, tứ đế, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Vô Thượng Bồ đề, chẳng thấy mình tu, chẳng thấy mình xả việc này, đối với việc này..., do việc này..., vì việc này... mà tu tất cả pháp nói trên. Như thế là an trụ trong tâm vô lậu lìa tướng, không nhiễm ô, không chấp trước thì không thấy sở tu, không thấy năng tu, cho đến không thấy tất cả Phật pháp, như thế là đại Bồ Tát an trụ tâm vô lậu mà tu tất cả pháp”.

Không thấy thì không biết, không biết thì không tạo tác. Vã lại, vào được pháp không rồi, biết tất cả pháp đều không, không tướng không trạng, không sanh không diệt… thì lấy gì chấp đắm, nắm giữ nữa. Đó là tu vô tướng, tu vô sở đắc, ý nghĩa chính của giáo pháp “Vô Tướng Vô Đắc” của phẩm này. Giáo lý tuy giản dị, nhưng không phải dễ thực hành!

 

2. Đem tâm vô lậu, ly tướng tu hành tất cả thiện pháp.

 

Khi đại Bồ Tát tu hành Bát nhã Ba la mật ở trong tất cả pháp vô tướng, vô giác, vô đắc, vô tác có thể viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật. Hay nói rộng ra làm sao có thể viên mãn tất cả pháp Phật, nếu đem tâm vô lậu ly tướng mà hành lục Ba la mật? Phải quán các pháp đều không, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng, chỗ gọi vô tướng. Dùng vô tướng, vô đắc, vô nhị làm phương tiện, không chấp không thủ bất cứ pháp nào dù là quả vị Giác ngộ tối cao. Đại Bồ Tát ấy khi hành lục Ba la mật lấy vô tánh làm tự tánh có thể viên mãn Bồ Tát đạo, nghĩa là có thể viên mãn lục Ba la mật; cũng có thể viên mãn 18 pháp không; cũng có thể viên mãn chơn như, pháp giới, pháp tánh v.v… hay nói gọn là có thể viên mãn tất cả pháp Phật.

Như vậy, đại Bồ Tát khi hành lục Ba la mật, do tâm vô lậu ly tướng, có thể ở trong tất cả pháp vô tướng, vô giác, vô đắc, vô tác viên mãn tất cả các pháp Phật cũng có thể viên mãn các công đức khác. Rồi đem tất công đức này ban cho tất cả hữu tình đồng hồi hướng Vô Thượng Bồ đề.

“Đại Bồ Tát ấy viên mãn đạo Bồ đề như thế rồi, lìa các ám chướng, an trụ trong Phật đạo, do sức thần thông thù thắng, phương tiện làm lợi ích cho các loại hữu tình, người nên dùng bố thí nhiếp thọ thì liền dùng bố thí mà nhiếp thọ họ; người nên dùng tịnh giới nhiếp thọ thì liền dùng tịnh giới mà nhiếp thọ họ; người hợp với an nhẫn, tinh tấn thì dùng an nhẫn, tinh tấn nhiếp thọ; người thích tịnh lự, Bát Nhã thì dùng tịnh lự, Bát Nhã nhiếp thọ, khiến họ an trụ các quả Thanh văn, Độc giác, hay khiến họ an trụ quả vị Giác ngộ tối cao.

Đại Bồ Tát ấy có thể thi triển các loại thần thông biến hóa, muốn an trụ hằng hà sa thế giới thì tùy ý có thể an trụ, muốn từ thế giới này đến thế giới khác, làm lợi ích an lạc vô lượng hữu tình, muốn nghiêm tịnh cõi Phật thì có thể làm theo sở thích. Đại Bồ Tát ấy do bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật nên được báo đắc thần thông vi diệu, cùng báo đắc Bồ Tát đạo, nên hành Đạo tướng trí; do Đạo tướng trí được thành thục nên lại có thể chứng đắc Nhất thiết tướng trí; do đắc trí này, đối với tất cả pháp không có sự nhiếp thọ, nghĩa là chẳng nhiếp thọ uẩn, xứ, giới v.v… cho đến chẳng nhiếp thọ tất cả pháp thiện-pháp phi thiện, pháp thế gian-pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu-pháp vô lậu, pháp hữu vi-pháp vô vi, pháp hữu tội-pháp vô tội; cũng chẳng nhiếp thọ sở chứng là quả vị Giác ngộ tối cao. Vì sao? Vì đại Bồ Tát ấy trước chẳng nhiếp thọ tất cả pháp, nên đối tất cả pháp vô sở đắc. Vì các hữu tình tuyên nói tất cả pháp tánh vô nhiếp thọ không trái ngược vậy.

Này Thiện Hiện! Như vậy, đại Bồ Tát khi hành Bát nhã Ba la mật thậm thâm, do tâm vô lậu ly tướng, nên có thể ở trong tất cả pháp vô tướng, vô giác, vô đắc, vô tác, viên mãn Bát nhã Ba la mật, cũng có thể viên mãn các công đức khác”.

Đem tâm vô lậu ly tướng mà tu các thiện pháp, tức lấy tịnh tâm tu hành thì không có pháp nào mà không thành tựu, không công đức nào mà chẳng viên mãn. Đó là phương châm của giáo lý “Vô Tướng Vô Đắc” dành cho những ai hành trì Bát Nhã để phụng sự chúng sanh. Cứ theo phương châm đó mà tu thì đường mê đổi ngược mà được tự tại thì không những tự độ mà có thể độ người ra khỏi bờ mê đến bến giác.

Phẩm trước thuyết nhiều vô tánh với giáo lý “pháp nào không có tự tánh thì lấy vô tánh làm tự tánh và kết luận tu vô tánh đây là tu Bát nhã Ba la mật thì mau thành Đạo tướng trí. Phẩm này nói về vô tướng, tu mà không thấy tướng lại đem tâm vô lậu lìa tướng mà tu các thiện pháp thì có thể viên mãn Bát nhã Ba la mật và các công đức thắng diệu khác.

 

Kết luận:

 

Học phẩm này chúng ta rút ra các kinh nghiệm như sau:

 

1- Giáo pháp vô sở đắc đối với việc tu hành Bát Nhã:

Phẩm “Xảo Tiện”, quyển 462, Hội thứ II và phẩm “Phương Tiện Khéo Léo”, quyển 525, Hội thứ III, ĐBN nói rằng:

“Bát nhã Ba la mật thậm thâm là vô sở đắc, Nhất thiết trí cũng vô sở đắc; người thực hành thực hành Bát nhã Ba la mật, chỗ thực hành và khi thực hành, tất cả đều vô sở đắc. Vô sở đắc này cũng là vô sở đắc nốt!

Chẳng phải có sở đắc nên vô sở đắc, chẳng phải vô sở đắc nên vô sở đắc. Nhưng có sở đắc, không sở đắc bình đẳng trong tự tánh gọi vô sở đắc. Các đại Bồ Tát đối với tánh bình đẳng có sở đắc, không sở đắc nên siêng tu học. Các đại Bồ Tát khi học như thế gọi học Bát nBa la mật vô sở đắc.

Các đại Bồ Tát khi hành Bát nBa la mật chẳng phải trụ có sở đắc được từ một bậc đến một bậc lần hồi viên mãn Nhất thiết trí trí, chẳng phải trụ sở đắc được từ một bậc đến một bậc lần hồi viên mãn được Nhất thiết trí trí. Vì có sở đắc là có chấp, có chấp là có vướng mắc quái ngại. Vì vậy, không Giác ngộ, không được Vô Thượng Bồ đề hay đạt Nhất thiết trí trí. Nên Phật bảo: “Vô sở đắc là tướng của Bát nhã Ba la mật, vô sở đắc là tướng của Vô Thượng Bồ Đề, vô sở đắc cũng là tướng của người hành Bát nhã Ba la mật”. Ở đây, vô sở đắc đã được nâng lên cao độ ngang hàng với Bát nBa la mật hay Vô Thượng Bồ đề.

Nhưng kinh nghiệm Bát nBa la mật cho thấy rằng một khi quan niệm vô sở đắc là tôn chỉ tối cao của Bát nBa la mật, thời vô sở đắc cũng trở thành một chướng ngại khác đối với hành giả Bát Nhã. Vô sở đắc rốt ráo phải là vô sở đắc nốt. Tất cả phải là không, là rỗng không. Đó là tôn chỉ Bát nBa la mật!

Bát nBa la mật phải là Bát nBa la mật khi hành không, vô tướng, vô tác. “Bát nhã Ba la mật thậm thâm là Vô sở đắc, Nhất thiết trí trí cũng là Vô sở đắc; người thực hành Bát Nhã, chỗ thực hành và khi thực hành, tất cả cũng đều Vô sở đắc; Vô sở đắc này cũng là Vô sở đắc nốt”. Đó là vô sở đắc không.

Tất cả phóng xả, phủi sạch hết thế là xong! Đó là phương tiện tốt trong việc tu tập Bát nBa la mật để được Giác ngộ. Ngày nào còn mong cầu nắm bắt cất giữ thì ngày đó còn trở ngại cho việc tu hành hay chứng đắc giác ngộ.

 

2- Tu “vô tướng” là tu Bát Nhã.

Đối với người tu Bát Nhã chỉ có cách là hãy lìa tất cả cái gì gọi là tướng: Phẩm “Pháp Giới”, quyển 567, ĐBN Phật bảo Tối Thắng: “Thiên vương nên biết! Các đại Bồ Tát hành sâu Bát nhã Ba la mật nên xa lìa các tướng, nghĩa là hoàn toàn chẳng thấy các tướng trong ngoài, lìa tướng hý luận, lìa tướng phân biệt, lìa tướng tầm cầu, lìa tướng tham đắm, lìa tướng cảnh giới, lìa tướng phan duyên, lìa tướng năng tri và sở tri”.

Nghĩa là hữu tướng, tri tướng, thức tướng, duyên tướng, tăng thượng tướng, nhân tướng, quá tướng, tổng tướng, biệt tướng, y tướng... đều lìa tất cả. Nên đem tâm ly tướng vô lậu lìa đắm lìa nhiễm, tu các thiện pháp mà chẳng thấy tâm vô lậu cũng chẳng thấy tất cả Phật pháp, các Bồ Tát này khi thực hành Bát Nhã thậm thâm như thế năng đối với pháp vô tướng, vô tác chóng viên mãn các Ba la mật, cũng năng tròn đầy các công đức khác. Đó gọi là tu vô tướng và tu vô tướng đây là tu Bát Nhã hay tịnh đạo Bồ đề.

 

3- Tu “vô tánh” là tu Bát Nhã.

Quý vị còn nhớ sở ngộ của Thắng Quân Phạm Chí (Phạm Thiên vương) trong đoạn kinh của phẩm “Thiên Tử”, quyển 556, ĐBN không? Tại sao Phạm Chí ngộ nhập được Nhất thiết trí trí? Vì Phạm chí đối với Nhất thiết trí trí không nắm lấy tướng. Phạm chí dùng các môn ly tướng đối Nhất thiết trí trí rất sanh tin hiểu, gọi tùy tín hành, đối tất cả pháp đều chẳng lấy bỏ, chẳng chấp đắm, cũng chẳng đắc. Do đó, mà Phạm Chí thâm nhập được Nhất thiết trí trí. Đó là điểm để chứng minh về tu ly tướng nói trên.

Trường hợp của Phật hoàn toàn khác, ở đây thay vì không nắm lấy tướng như Phạm Chí Thắng quân, Phật lấy vô tánh làm tự tánh nhập Bát nBa la mật, rồi viên mãn tất cả pháp Phật, nhập vào các tĩnh lự, an trụ thanh tịnh, dẫn phát các thần thông, tự tại đối các cảnh giới diệu dụng vô ngại. Rồi trong một sát na tương ưng với diệu huệ, nhập Đẳng giác, rồi vào Diệu giác, trở thành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Muốn được như thế, phải lấy vô tánh làm Thánh đạo, lấy vô tánh làm hiện quán, đạt được chân như của tất cả pháp.

Phạm chí Thắng quân đạt Nhất thiết trí trí là dùng pháp môn ly tướng. Phật nhập được Bát nBa la mật là Phật lấy vô tánh làm tự tánh. Vậy, mới biết vào điện lễ Phật không phải chỉ có một cửa. Nói như vậy có nghĩa là có nhiều tiến trình dẫn đến giác ngộ. Phẩm “Tam Tiệm Thứ”, quyển 372 nói: “... vô tánh tức là đạo Bồ Tát Ma ha tát, vô tánh tức là hiện quán Bồ Tát Ma ha tát”.

Chúng ta ngừng thảo luận về tu vô tướng, vô tánh ở đây. Các phẩm kế tiếp còn đi xa hơn khi nói phải tu vô tướng không, vô tánh không, vô tánh tự tánh không để nói lên vạn pháp đều không, chủ trương vô tiền khoáng hậu của Đại Bát Nhã Ba La Mật.

Chúng tôi cố gắng ôn lại các pháp vi diệu này để dẫn Quý vị đến cái rốt ráo không là “tận không”. Nếu còn ái pháp, còn nể Phật, không dám nói Phật không, Bồ Tát không, chúng sanh không và Niết Bàn cũng không thì cũng không đạt được tận không. Và một khi đạt được tận không rồi mà còn chấp tận không, thì cũng chẳng thể gọi là tận không! Bát Nhã phá tướng phá chấp triệt để được “Vô Tướng Vô Đắc”. Đó là ý nghĩa thậm thâm của phẩm này./.

 

---o0o---

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,281,823