Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Hội Thứ XIV

11/03/202109:23(Xem: 3544)
Hội Thứ XIV

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022



***

buddha-547


 

HỘI THỨ XIV

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 
(Bố cục)

 

 

 

14. Hội thứ XIV: Phần “Tinh Tấn Ba La Mật”, 1 quyển. Nội dung đức Phật giải thích rõ cho Mãn Từ Tử về việc an trụ nơi Bát Nhã, ngăn dứt sáu tình, siêng chăm ba học(1): Đó là con đường dẫn đến hoàn thành hạnh Bồ Tát.

 

---o0o---

 

Dẫn nhập:

 

Tất cả pháp tu đều đưa đến: Phước đức và Trí tuệ. Tu bố thí, trì giới, an nhẫn là đi vào phước môn. Tu tinh tấn, thiền định, Bát Nhã là đi vào cửa trí tuệ. Tập 1, quyển 15, Đại Độ Trí Luận giải Thích: “Tỳ Lệ Gia Ba La Mật”, nói rằng: “Muốn thành Phật đạo, phàm có hai môn: 1- Phước đức, 2- Trí tuệ. Tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, là môn phước đức. Đại Bát nhã Ba la mật biết thật tướng hết thảy các pháp là môn trí tuệ. Bồ Tát nhập vào phước đức môn thì trừ hết thảy tội, sở nguyện đều thỏa mãn. Nếu không được thỏa mãn, là vì tội cấu ngăn che. Bồ Tát nhập vào trí tuệ môn thời không chán ngán sanh tử, không ưa vui Niết bàn, vì hai việc là một. Nay muốn xuất sanh Đại Bát Nhã Ba La Mật thì phải nhân nơi thiền định môn, và muốn có thiền định môn cần phải nhờ đến sức đại tinh tấn. Vì cớ sao? Vì ở Dục giới loạn tâm, không thể thấy được thật tướng của các pháp; ví như đèn ở giữa gió, ánh sáng không thể chiếu rõ vật, nhưng đèn ở trong nhà kín, ánh sáng chắc chắn chiếu rõ được.

Thiền định, trí tuệ ấy, không thể lấy phước đức mà cầu được, cũng không phải quán chiếu sơ sài mà được, mà phải thậm thâm tinh cần gấp rút bám chặt không giải đãi, mới thành tựu được. Như Phật từng nói dù cho huyết, thịt, mỡ, tủy kiệt hết, chỉ còn lại da, xương, gân cũng không bỏ tinh tấn, thời như vậy mới được thiền định, trí tuệ. Được hai việc này thời mọi việc đều xong. Do vậy nên tinh tấn đứng vào thứ tư, làm căn bản cho thiền định, trí tuệ chơn thật…” Vậy, mới biết tinh tấn giữ vai trò quan trọng trong việc thành tựu cả phước đức lẫn trí tuệ. Nên chúng tôi lúc nào cũng đề cao ý chí và nghị lực, 2 yếu tố chính của tinh tấn trong việc thành tựu Giác ngộ khi thực hành lục Ba la mật.

 

---o0o---

 

 

PHẨM “TINH TẤN BA LA MẬT”

 

Tóm lược:

 

Quyển thứ 590

 

(Thế nào là an trụ tinh tấn Ba la mật?)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Bạc già phạm cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Bí sô trú tại vườn Cấp Cô Độc, ở rừng Thệ đa, tại thành Thất la phiệt.

Bấy giờ, cụ thọ Mãn Từ Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát muốn chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề, phải dùng phương tiện gì để an trụ tinh tấn Ba la mật?

Phật dạy:

- Mãn Từ Tử! Nếu đại Bồ Tát muốn chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, khi mới phát tâm nên nghĩ: Các vật sở hữu của ta, hoặc thân hoặc tâm, trước hết phải vì người khác làm việc lợi ích để tất cả sở nguyện được đầy đủ.

Ví như người hầu phải suy nghĩ: Đi, đứng, nằm, ngồi đều theo ý chủ, không nên tự tại làm theo ý mình. Muốn từ nhà đi đến chợ phố v.v..., trước hết phải thưa hỏi chủ, sau đó mới đi. Muốn ăn uống chủ cho phép mới thọ dụng. Tất cả mọi việc đều theo ý chủ.

Đại Bồ Tát cũng vậy, muốn chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, lúc mới phát tâm phải nghĩ như vầy: Sở hữu của ta, hoặc thân hoặc tâm đều không nên tự tại mà chuyển, tùy theo sự nghiệp lợi ích của người khác, tất cả đều phải vì họ mà thành tựu đầy đủ.

Đại Bồ Tát như thế là nương tựa vào tinh tấn Ba la mật, không xa lìa tinh tấn Ba la mật, vì hữu tình nên làm việc đáng làm. Các Bồ Tát đối với tinh tấn Ba la mật nên trụ như thế.

Ví như ngựa quý, nếu có người cưỡi, nó liền nghĩ: Ta không nên làm cho thân thể người cưỡi lay động, mệt mỏi, khổ nhọc, hoặc hư tổn yên cương. Qua, lại, tới, lui, đi, đứng, nhanh, chậm đều theo ý người cưỡi để nhiếp hộ người ấy, không nên vì ta mà làm cho người kia phải khởi lên các tội lỗi giận dữ v.v...

Như thế chúng đại Bồ Tát muốn hành tinh tấn Ba la mật, không nên hành động tùy theo ý mình, phải theo ý thích người khác để làm lợi ích, nhiếp hộ người, để họ không khởi tất cả phiền não ác nghiệp với ta.

Người kia đối với đại Bồ Tát, tuy trước không mang ơn, nhưng các đại Bồ Tát vì người kia tưởng nhớ báo ơn để thành tựu sự nghiệp. Đại Bồ Tát như vậy là thành tựu tinh tấn Ba la mật, nhiếp hộ tâm người khác, tùy theo ý của người khác mà làm các việc lợi ích an lạc.

Đại Bồ Tát như thế là nhiếp hộ tinh tấn Ba la mật, làm cho các hữu tình được lợi ích an lạc, giống như sự nghiệp của mình, thường không nhàm chán. Đó là chúng đại Bồ Tát an trụ tinh tấn Ba la mật.

Lại nữa, Mãn Từ Tử! Nếu đại Bồ Tát vì muốn mau chứng đắc Nhất thiết trí trí, làm lợi ích lớn cho các hữu tình, thường nên tinh cần tu học bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật, tâm không thối chuyển. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát vì muốn mau chứng đắc Nhất thiết trí trí, làm lợi ích lớn cho các hữu tình, thường nên tinh cần tu học, quán mười tám pháp Không, thập nhị chân như, quán mười hai duyên khởi theo hai chiều thuận nghịch, quán Tứ đế khổ tập diệt đạo, tinh cần tu học bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, tam giải thoát môn, tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ lớp, mười biến xứ, tu học tất cả pháp môn Đà la ni, Tam ma địa, tinh cần tu học trí của Tam thừa cộng Thập địa hay Bồ Tát thập địa, tu học năm loại mắt, sáu phép thần thân, Như Lai mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng v.v... tâm không thối chuyển. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Lại nữa, Mãn Từ Tử! Nếu đại Bồ Tát vì muốn làm cho cõi Phật thật trang nghiêm thanh tịnh, muốn thành thục các loài hữu tình thì nên ở lâu trong sanh tử, tu học các công đức, tâm không thối chuyển. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát lúc mới phát tâm Vô Thượng Chánh Giác, giả sử các loài hữu tình trong ba ngàn đại thiên thế giới đều thành Bồ Tát, hoặc còn ràng buộc một đời, hoặc còn ràng buộc hai đời, hoặc còn ràng buộc ba bốn đời... mới được thành Phật, nên nói như vầy: “Các vị phải tinh cần tu học Bồ Tát hạnh, để các vị chứng Vô Thượng Bồ đề trước, ta sẽ chứng Vô Thượng Bồ đề sau”. Bấy giờ, Bồ Tát theo lời nói kia, tinh cần dõng mãnh, tâm không khiếp sợ. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát hoặc còn ràng buộc một đời, hoặc còn ràng buộc hai đời, hoặc còn ràng buộc ba đời, hoặc còn ràng buộc bốn đời mới được thành Phật, giả sử các loài hữu tình ở ba ngàn đại thiên thế giới mới phát tâm Vô Thượng Bồ đề, nói như vầy: “Ngài hãy đợi chúng tôi chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề trước, rồi Ngài chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề sau”. Bấy giờ, Bồ Tát theo lời nói kia, ở lâu trong sanh tử, tâm không thối chuyển. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát thấy người hành khất đến xin những vật cần dùng, thì mặt không nên nhăn nhó, mắt không hiện tướng sân, chỉ nghĩ như vầy: Hữu tình như thế là thuận theo sự cầu Nhất thiết trí trí của ta, mau chóng tạo phương tiện cho người cầu xin. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát vì muốn tất cả hữu tình được an lạc, nên hoặc trải qua một kiếp, hoặc hơn một kiếp ở trong địa ngục lớn, chịu các khổ dữ dội, nhưng thân không động chuyển, tâm không thối lui. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát, giả sử số lượng ngày đêm đồng như đại kiếp, tích chứa ngày đêm này lại thành đại kiếp, trải qua nhiều thời gian như hằng hà sa số đại kiếp, ở trong đại địa ngục, chịu nhiều khổ não dữ dội, do chịu nhiều khổ não này nên muốn giúp cho một hữu tình được ra khỏi địa ngục, sanh ở cõi lành. Bấy giờ, Bồ Tát hoan hỷ lãnh chịu. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát nào nghe nói những việc này mà bộc lộ sự vui mừng, thề vì hữu tình lãnh chịu tất cả, tâm không thối chuyển, nên biết đây gọi là Bồ Tát an trụ tinh tấn Ba la mật. Nếu đại Bồ Tát nào nghe những việc như thế, mà tâm kia khiếp nhược, không hoan hỷ, lòng không muốn lãnh thọ, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi.

Nếu đại Bồ Tát nào nghe các việc lành, tâm liên tục ưa thích thọ hành, nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật. Nếu đại Bồ Tát nào nghe các việc lành, không buộc niệm liên tục thọ hành, thì nên biết đây là Bồ Tát giải đãi.

Lại nữa, Mãn Từ Tử! Giả sử đại Bồ Tát quét đất ở châu Thiệm bộ này từ một chỗ rồi đến chỗ khác, quét khắp nơi rồi quay về chỗ cũ, khởi ý nghĩ: Ta phải xa lánh chỗ này lâu mới được. Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát làm việc này rồi, khởi ý nghĩ: Ta phải trở lại chỗ này mau. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát xây cất, sửa chữa Bảo tháp trải qua 1 ngày, rồi nghĩ: Ngày hôm nay sao dài quá! Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát làm việc này rồi, khởi nghĩ: Ngày hôm nay sao ngắn quá! Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát xây cất, sửa sang Tăng già lam (chùa) trải qua 1 ngày, rồi nghĩ: Ngày hôm nay sao lại quá dài! Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát làm việc này rồi, khởi nghĩ: Ngày hôm nay sao lại ngắn! Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong nửa năm, khởi tưởng lâu dài, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong nửa năm như sự nghiệp đã làm trong một ngày, nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong một năm, khởi tưởng lâu dài, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong một năm như làm trong một ngày, nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong nửa kiếp, khởi tưởng lâu dài, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong nửa kiếp giống như sự nghiệp đã làm trong một ngày, nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong một kiếp, khởi tưởng lâu dài, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát coi sự nghiệp đã làm trong một kiếp giống như sự nghiệp đã làm trong một ngày, nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật.

Lại nữa, Mãn Từ Tử! Các đại Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh không nghĩ kiếp số nhiều ít, nghĩa là nghĩ ta phải trải qua bao nhiêu số kiếp mới chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề. Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ kiếp số mà phân biệt hạn kỳ, rồi mới tinh tấn dõng mãnh tu Bồ Tát hạnh cầu chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ như vầy: Dù trải qua vô lượng, vô biên đại kiếp, tinh tấn dõng mãnh tu Bồ Tát hạnh, mới chứng được quả vị Vô Thượng Bồ đề, ta nhất định không sanh tâm thối lui, siêng năng cầu quả vị Vô Thượng Bồ đề. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật, tu hành tinh tấn Ba la mật khiến cho mau viên mãn, xa lìa sanh tử, mau chứng đắc Nhất thiết trí trí, làm lợi ích lớn cho các hữu tình.

Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ kiếp số mà giới hạn, phân biệt, tuy rất dõng mãnh thường siêng năng tu học bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật, nhưng cũng gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ như vầy: Dù trải qua vô lượng, vô biên đại kiếp, nỗ lực dõng mãnh thường xuyên tu học bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật mới được viên mãn, mới chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, ta nhất định không sanh tâm thối lui. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật, mau chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ kiếp số mà giới hạn, phân biệt, tuy rất dõng mãnh thường siêng năng tu học trí 18 pháp Không, 12 pháp chân như, 12 duyên khởi theo hai chiều thuận nghịch, siêng năng tu học trí Thánh đế khổ, hoặc khổ, hoặc vô thường, hoặc Không, hoặc vô ngã; trí Thánh đế tập, hoặc nhân, hoặc tập, hoặc sanh, hoặc duyên; trí Thánh đế diệt, hoặc diệt, hoặc tĩnh, hoặc diệu, hoặc ly; trí Thánh đế đạo, hoặc đạo, hoặc như, hoặc hành, hoặc xuất, tu học bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, tam giải thoát môn, tám giải thoát, cho đến tu học Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, siêng năng tu học tất cả Bồ Tát hạnh... nhưng cũng gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ như vầy: Dù trải qua vô lượng, vô biên đại kiếp, nỗ lực dõng mãnh thường xuyên tu học tất cả các pháp mầu Phật đạo nói trên, mới được viên mãn, mới chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề, ta nhất định không sanh tâm thối chuyển. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật, mau chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Lại nữa, Mãn Từ Tử! Nếu có lời khuyến thỉnh đại Bồ Tát: “Ngài nên vì tôi trong một ngày phá vỡ núi chúa Diệu Cao”. Nếu hỏi lại: “Lượng núi chúa Diệu Cao thế nào mà ông bắt tôi đập phá làm bao nhiêu phần?” Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu suy nghĩ như vầy: Dù núi chúa Diệu Cao lớn hay nhỏ, trong một ngày tôi sẽ vì ông mà đập phá ra như hạt cải, hoặc như vi trần. Tuy trải qua nhiều thời gian mới đập phá được, nhưng ý vị kia cho rằng như chỉ trong chốc lát. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ: Giả sử hằng hà sa số đại kiếp làm thành một ngày đêm, tích lũy ngày đêm lại thành đại kiếp, dù trải qua vô lượng đại kiếp như vậy tu Bồ Tát hạnh mới chứng quả vị Vô thượng Chánh Đẳng Bồ đề, thì trong thời gian đó tâm tôi cũng không thối chuyển, huống chi không có việc này mà chẳng siêng năng cầu? Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Nếu Bồ Tát khi nghe thuyết tướng tinh tấn như thế, bộc lộ sự vui mừng, tâm không khiếp sợ, nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn. Nếu Bồ Tát khi nghe thuyết tướng tinh tấn như thế, tâm kia thối lui, hoang mang, sanh lòng sợ hãi, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi, không thể mau đắc Nhất thiết trí trí.

Nếu đại Bồ Tát nghe thuyết tinh tấn Ba la mật, suy nghĩ như vầy: Biết khi nào mới thành tựu công đức thù thắng khó chứng như thế. Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát nghe thuyết tinh tấn Ba la mật, suy nghĩ như vầy: Công đức như thế ta đều có đủ, ta phải nhất định tu tập để mau tiến đến bờ bên kia. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.                                                  

Nếu có người đến xin tay, chân..., Bồ Tát liền nghĩ: Nếu ta cho người kia thì sẽ không tay, không chân, không đầu! Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu có người đến xin tay, chân, đầu của đại Bồ Tát, Bồ Tát liền suy nghĩ: Ta đem cho người kia, sẽ được tay, chân, đầu vô thượng vi diệu của trời, người, A tu la v.v... Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Nếu có người đến xin mắt, tai của đại Bồ Tát, Bồ Tát liền nghĩ: Ta đem cho người kia, thì không còn mắt, tai. Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu có người đến xin mắt, tai của đại Bồ Tát, Bồ Tát liền nghĩ: Ta bố thí cho người kia thì sẽ được mắt, tai vô thượng giống như thắng trí của trời, người, A tu la v.v... Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, xa lìa nhị thừa, thân cận Nhất thiết trí trí.

Nếu có người đến xin lóng đốt từng phần nơi thân của đại Bồ Tát, Bồ Tát liền nghĩ: Nếu ta đem cho người kia thì bị thiếu các lóng đốt nơi thân. Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu có người đến xin lóng đốt từng phần nơi thân của đại Bồ Tát, Bồ Tát liền nghĩ: Ta đem cho người ấy, sẽ được các lóng đốt thân phần Phật pháp Vô thượng, pháp Nhất thiết trí của trời, người, A tu la v.v... Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Nếu có người đến xin nhiều thứ của đại Bồ Tát, Bồ Tát liền nghĩ: Người này xin rất nhiều, như vậy thì làm sao thực hiện đầy đủ ý nguyện đó. Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu có người đến xin nhiều thứ của đại Bồ Tát, Bồ Tát liền nghĩ: Xin như thế chưa là nhiều. Giả sử các loài hữu tình ở hằng hà sa số thế giới, trong một ngày đều đến xin ta các thứ cần dùng, ta nên dùng phương tiện tìm kiếm tiền tài, châu báu khắp nơi để cho họ đầy đủ; huống chi chỉ bấy nhiêu đó mà không cho? Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Vì sao? Vì nếu đại Bồ Tát muốn dẫn dắt hiển lộ vô lượng Phật pháp, pháp Nhất thiết trí, chẳng phải dùng tinh tấn có hạn lượng bố thí mà có thể dẫn dắt hiển lộ vô lượng Phật pháp, pháp Nhất thiết trí, cốt yếu là phải mặc áo giáp, đội mũ tinh tấn bố thí vô lượng rộng lớn, mới có thể dẫn dắt vô lượng Phật pháp, pháp Nhất thiết trí.

Ví như có người muốn qua biển lớn, điều cốt yếu trước hết là phải chuẩn bị đầy đủ các thứ tư lương trong nhiều do tuần, hơn trăm do tuần, hơn ngàn do tuần, hơn trăm ngàn do tuần, sau đó mới đi. Chúng đại Bồ Tát cũng vậy, muốn chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề, cần phải trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp, tu tập tư lương, sau đó mới chứng. Nếu đại Bồ Tát nào suy nghĩ: Ta có hạn lượng, có bến bờ đại kiếp cầu chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề. Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát nào suy nghĩ: Ta không giới hạn số lượng, không giới hạn bến bờ đại kiếp cầu chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Bấy giờ, Mãn Từ Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các Bồ Tát tinh tấn như thế đâu gọi là khó?

Thế Tôn dạy:

- Ngươi cho rằng chúng đại Bồ Tát tinh tấn như thế chẳng phải là khó sao?

Mãn Từ Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát tinh tấn như thế, con cho rằng chẳng phải khó. Vì sao? Vì Phật thuyết các pháp đều như huyễn, cảm thọ vui buồn... và các điều dẫn đến sự cảm thọ khác đều như huyễn, Bồ Tát đã thông đạt thật tánh các pháp như thế thì tinh tấn có gì khó?

Thế Tôn bảo Mãn Từ Tử:

- Nên biết, chúng đại Bồ Tát tuy biết các pháp đều là việc như huyễn, nhưng vẫn phát khởi tinh tấn thân tâm, an trụ tinh tấn Ba la mật, cầu đại Bồ đề thường không ngưng nghỉ. Do đó, tinh tấn như vậy rất là khó đối với chúng đại Bồ Tát.

Mãn Từ Tử liền bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thật kỳ lạ. Bạch Thiện Thệ! Thật hi hữu. Khéo thuyết tinh tấn rất khó của chúng đại Bồ Tát. Nên biết chúng đại Bồ Tát có thể làm những việc khó. Tuy biết các pháp hoàn toàn vô sở hữu nhưng vẫn cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, vì muốn thuyết cho vô biên các loài hữu tình, chấm dứt Chánh pháp vô trí. Nhưng các pháp vô trí thật vô sở hữu, cũng không thật, chấp vô trí là vì ngã và ngã sở, cũng không có hữu tình nghĩ như vầy: Đây là ngã và ngã sở chơn thật.

Như vậy, vô trí là do nhân duyên hòa hợp cho nên sanh mà thật không sanh; duyên xa lìa cho nên diệt mà thật không diệt.

Đại Bồ Tát tuy biết như thế nhưng tâm không thối chuyển, đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Nếu đại Bồ Tát nghĩ như vầy: Các pháp đều Không, bây giờ ta phải làm sao phát khởi tinh tấn Ba la mật? Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát nghĩ như vầy: Vì tất cả pháp hoàn toàn Không, cho nên ta cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, hiểu rõ các pháp là Không, thuyết cho hữu tình khiến cho họ thoát các khổ sanh tử trong năm đường. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Nếu đại Bồ Tát nghĩ như vầy: Sanh tử không ngằn mé, ta đâu có thể làm cho họ đều được diệt độ. Nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát nghĩ như vầy: Sanh tử vô thủy nhưng có chấm dứt, sao ta lại không làm cho họ diệt độ. Giả sử tinh tấn cầu đại Bồ đề dù từ vô thỉ đến nay đã trải qua nhiều kiếp số, sau đó mới chứng, ta cũng cầu huống chi không trải qua nhiêu kiếp số. Lại nghĩ: Các Bồ Tát ưa thích tu tập tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí, như lúc phát tâm thời gian trôi qua thấm thoát một ngày, nửa tháng, một tháng, một năm, hai năm v.v... mà vẫn không hay không biết. Nếu các Bồ Tát ưa thích tu tập bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật, làm cho tâm thanh tịnh hoàn toàn chẳng có suy nghĩ. Hiểu rõ bao nhiêu ngày đêm, nửa tháng, một tháng, một năm, hai năm v.v... đã qua. Vì vậy, việc cầu Bồ đề rất dễ đắc, không nên sợ hãi thời gian dài mà càng tinh tấn. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Ví như trưởng giả cầu nhiều của cải, ngày đêm siêng năng suy nghĩ tìm phương tiện, thường nghĩ: Phải cần thời gian bao lâu, ta mới được nhiều của cải cho thỏa mãn sở nguyện. Do đó không rảnh để mong cầu việc uống ăn.

Đại Bồ Tát cũng vậy, muốn cầu sáu pháp Ba la mật để tâm được thanh tịnh, nên tinh cần tu tập tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí, như vừa mới phát tâm đã qua ngày đêm, nửa tháng, một tháng, một năm, hai năm v.v..., thường suy nghĩ: Chừng nào ta sẽ được vật báu Nhất thiết trí lợi ích cho hữu tình?

Khi ấy, Mãn Từ Tử liền bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các Bồ Tát mặc áo giáp đại tinh tấn như tinh cần cầu báu công đức Vô thượng của Phật, làm lợi ích hữu tình. Đúng thật như Thế Tôn thường thuyết: Tất cả Bồ Tát có thể làm những việc khó làm.

Phật bảo Mãn Từ Tử:

- Ta xem tất cả thế gian, trời, người v.v... không đầy đủ công đức hiếm có như các đại Bồ Tát, ngoại trừ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Khi ấy, Mãn Từ Tử bèn rời khỏi tòa đứng dậy, chệch y che vai bên trái, gối phải quỳ chấm đất, chắp tay cung kính, bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các loài hữu tình ở Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn góc, trên, dưới, vô biên thế giới trụ Bồ Tát thừa. Ai chưa phát tâm Vô thượng Bồ đề nguyện mau chóng phát tâm. Ai đã phát tâm Vô thượng Bồ đề nguyện cho vĩnh viễn không thối chuyển. Nếu ai đối với quả vị Vô thượng Bồ đề không thối chuyển, thì nguyện cho mau viên mãn Nhất thiết trí trí.

Phật hỏi Mãn Từ Tử:

- Ngươi quán nghĩa nào mà nguyện các Bồ Tát mau được viên mãn Nhất thiết trí trí?

Mãn Từ Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu không có Bồ Tát, thì không có chư Phật xuất hiện thế gian. Nếu không có chư Phật xuất hiện thế gian, thì không có chúng Bồ Tát và Thanh văn. Cần có Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh mới có chư Phật xuất hiện thế gian. Vì có chư Phật xuất hiện thế gian mới có chúng Bồ Tát và Thanh văn.

Ví như cây lớn do có gốc thân nên có nhánh lá. Do có nhánh lá nên có hoa quả. Do có hoa quả nên lại sanh cây lớn. Như vậy, thế gian do có Bồ Tát nên có chư Phật xuất hiện thế gian. Do có chư Phật xuất hiện thế gian nên có chúng Bồ Tát và Thanh văn. Do có Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh, lại có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác xuất hiện thế gian làm lợi ích lớn.

Phật khen Mãn Từ Tử:

- Lành thay! Lành thay! Đúng như lời thầy nói.

Khi ấy, Phật bảo A Nan Đà:

- Ngươi nên thọ trì tu tinh tấn Ba la mật như áo giáp tinh tấn mà các chúng Bồ Tát đã mặc, đừng để quên mất.

A Nan Đà bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con đã thọ trì tu tinh tấn Ba la mật như áo giáp tinh tấn của các chúng Bồ Tát đã mặc, chắc chắn không bao giờ quên mất.

Khi đức Bạc già phạm thuyết Kinh này, cụ thọ Mãn Từ Tử, cụ thọ Xá Lợi Tử, cụ thọ A Nan Đà và các chúng Thanh văn, Bồ Tát cùng tất cả trời, rồng, Dược xoa, A tu la v.v... nghe Phật thuyết đều rất vui mừng, tín thọ phụng hành.

 

Thích nghĩa:

(1). Ba học hay gọi là ba thứ học. Có hai loại: 1- Tam hữu lậu học, và 2- Tam vô lậu học. Tuy Kinh không nói rõ loại nào, nhưng Kinh nói về tinh tấn Ba la mật của Bồ Tát, nên có thể hiểu Kinh muốn đề cập đến Tam vô lậu học tức giới, định và huệ.

 

Lược giải:

 

1. Thế nào là an trụ tinh tấn Ba la mật?

 

Muốn chứng Vô Thượng Bồ đề, từ lúc mới phát tâm Bồ Tát phải nghĩ như vầy: Sở hữu của ta hoặc thân hoặc tâm đều không tự tại chuyển, mà phải tùy thuận lợi ích của người khác, tất cả đều phải vì hữu tình mà thành tựu đầy đủ.

Các đại Bồ Tát như thế là nương vào tinh tấn Ba la mật, vì hữu tình nên làm việc đáng làm. Các đại Bồ Tát đối với tinh tấn Ba la mật nên trụ như thế. Giống như ngựa khôn, không muốn làm cho chủ mệt nhọc, tức giận, nên không chạy nhảy theo ý mình mà chạy theo ý muốn của chủ, dù bị hành hạ hay ngược đãi. Cũng vậy, đại Bồ Tát muốn hành tinh tấn Ba la mật, không nên hành động tùy theo ý mình, phải theo ý thích chúng sanh để làm lợi ích, nhiếp hộ chúng sanh để họ không khởi phiền não ác nghiệp với ta. Đại Bồ Tát như vậy là thành tựu tinh tấn Ba la mật, nhiếp hộ tâm người khác, tùy theo ý của người khác làm các việc lợi ích an lạc. Đó là đại Bồ Tát an trụ tinh tấn Ba la mật.

- Nếu đại Bồ Tát vì muốn mau chứng đắc Nhất thiết trí trí, làm lợi ích lớn cho các hữu tình, thường nên tinh cần tu học bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật, tâm không thối chuyển. Đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

- Nếu đại Bồ Tát vì muốn mau chứng đắc Nhất thiết trí trí, làm lợi ích lớn cho các hữu tình, thường nên tinh cần tu học, quán 18 pháp Không, các pháp chơn như, pháp giới cho tới bất tư nghị giới, tứ đế, thập nhị nhân duyên, 37 pháp trợ đạo, tam giải thoát môn, tám thứ đệ định, mười biến xứ, Như Lai mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả v.v… nói chung là tất cả các pháp mầu Phật đạo, tâm không thối chuyển, tức đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

- Nếu đại Bồ Tát vì muốn làm cho cõi Phật thật trang nghiêm thanh tịnh, thì nên ở lâu trong sanh tử, tu học các công đức, tâm không thối chuyển. Đó là đại Bồ Tát này an trụ tinh tấn Ba la mật.

- Nếu đại Bồ Tát muốn giúp cho một hữu tình ra khỏi địa ngục, sanh ở cõi lành phải chịu nhiều khổ ải trong vô số kiếp, Bồ Tát vẫn hoan hỷ lãnh chịu. Bồ Tát này như vậy là an trụ tinh tấn Ba la mật. Nếu đại Bồ Tát nào nghe những việc như thế, tâm sanh khiếp nhược, không muốn lãnh thọ, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi tức xa lìa an trụ tinh tấn Ba la mật.

 

2. Thế nào là tinh tấn? Thế nào giải đãi?

 

Tu tập, học hành kiên nhẫn với quyết tâm dũng mãnh… không kể là công việc lớn nhỏ, nhiều ít, khó dễ, lâu mau. Nếu Bồ Tát luôn nghĩ tới thời gian, số kiếp, tâm phân biệt, giới hạn… tuy rất dõng mãnh thường siêng tu học bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật, nhưng cũng gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ như vầy: Dù trải qua vô lượng, vô biên đại kiếp, nỗ lực dõng mãnh thường xuyên tu học sáu Ba la mật sâu thẩm mới được viên mãn, mới chứng được quả vị Vô Thượng Bồ đề, ta nhất định không sanh tâm thối lui. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật, mau chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ kiếp số mà giới hạn, phân biệt, tuy rất dõng mãnh thường siêng năng tu học 18 pháp Không, 12 pháp chân như, 12 duyên khởi, siêng năng tu học Tứ đế, bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, tam giải thoát môn, cho đến Nhất thiết tướng trí; siêng năng tu học tất cả Bồ Tát hạnh... nhưng cũng gọi là Bồ Tát giải đãi. Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ như vầy: Dù trải qua vô lượng, vô biên đại kiếp, nỗ lực dõng mãnh thường xuyên tu học tất cả các pháp mầu Phật đạo nói trên, mới được viên mãn, mới có thể chứng đắc quả vị Vô Thượng Bồ đề, ta nhất định không sanh tâm thối chuyển. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn, an trụ tinh tấn Ba la mật, mau chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ: Giả sử hằng hà sa số đại kiếp thu lại thành một ngày, rồi tích lũy ngày đêm lại thành đại kiếp, dù trải qua vô lượng đại kiếp như vậy tu Bồ Tát đạo mới chứng được quả vị Vô Thượng Bồ đề, thì trong thời gian đó tâm cũng không thối chuyển. Nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn.

Nếu Bồ Tát khi nghe thuyết tướng tinh tấn như thế, bộc lộ sự vui mừng, tâm không khiếp sợ, nên biết đây gọi là Bồ Tát tinh tấn. Nếu trái lại, khi nghe thuyết tướng tinh tấn như thế, tâm thối lui, nên biết đây gọi là Bồ Tát giải đãi, chẳng thể chứng Nhất thiết trí trí. Nếu không chứng nổi Nhất thiết trí trí thì làm sao độ chúng sanh.

 

Nội dung của phần “Tinh Tấn Ba La Mật” của Kinh ĐBN chỉ có thế. Cũng giống như hai phần trước là Bố thí và Tịnh giới Ba La Mật, chúng tôi trích dẫn phẩm thứ nhất, “Tỳ Lệ Gia Ba La Mật”, tập I, quyển 14, thuyết giảng tỉ mỉ về tinh tấn Ba la mật, để Quý vị hiểu rõ pháp môn này hơn.

 

 

Tỳ Lệ Gia Ba La Mật.

(Đại Trí Độ Luận)

 

Hỏi: Vì sao lại xếp Tinh Tấn sau Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục?

Đáp: Vì người thế gian vẫn thường hành Bố Thí, Trì Giới và Nhẫn Nhục.

Bố Thí là do tánh tốt muốn giúp đỡ người khác. Chẳng cần phải siêng năng, tinh tấn cũng có thể làm việc bố thí được.

Trì Giới là do tánh tốt, chẳng muốn làm việc ác. Cũng có trường hợp vì sợ mang tội mà phải trì giới.

Nhẫn Nhục là do Tánh tốt, chẳng muốn chống trả lại người đến mắng nhiếc, hành hung mình. Cũng có trường hợp vì cầu Hiếu Đạo, vì cầu Phật Đạo... mà phải tự nhẫn.

Nay muốn rõ Thật Tướng các pháp, muốn tu Thiền Định, muốn tu Trí Huệ, thì cần phải tinh tấn, phải nhất tâm.

Lại nữa, muốn vào Phật Đạo phải song tu “Phước-Huệ”:

- Trước tu Bố Thí, Trì Giới và Nhẫn Nhục để được phước đức.

- Nay tu Tinh Tấn để được Vi Diệu Thiền Định, Trí Huệ.

Chẳng phải do nhàm chán Sanh Tử, cũng chẳng phải do cầu được vui cõi Niết Bàn mà có thể vào được cửa Trí Huệ. Hành giả phải tinh tấn tu thiền mới vào được vậy. Vì sao? Vì ở cõi Dục, do tâm thường bị loạn động, nên chẳng thấy được Thật Tướng các pháp. Thô quán chưa đủ, cốt phải thường tinh tấn, không giải đãi, mới được Thiền Định, Trí Huệ.

Hỏi: Tu Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục được đại phước, rồi sau đó Thiền Định, Trí Huệ tự nhiên đến, cần gì phải tu Tinh Tấn?

Đáp: Phật Đạo rất khó vào. Phải tinh tấn, không giải đãi mới thâm nhập được vào Thiền Định, mới thật có Trí Huệ.

Tu Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục tuy có được phước đức, nhưng chẳng thể vào được Đạo. Ví như vị Tỳ Kheo La Tần, đã được quả A La Hán, đi khất thực suốt 7 ngày chẳng được gì, đã không đủ tinh tấn, nhẫn nhục, nên ngay khi về đến tịnh xá liền nhập Hỏa Định tự thiêu thân vào Niết Bàn.

Bởi nhân duyên vậy, nên nói “Chẳng phải có phước đức mà vào được Đạo; phải siêng năng, tinh tấn mới vào được Đạo vậy.

Hỏi: Tinh Tấn có những lợi ích gì?

Đáp: Ở ngoài đời cũng như trong Đạo, tất cả lợi ích đều do tinh tấn mà có được.

Muốn tự độ thân mình thường phải tinh tấn. Bồ Tát muốn độ hết thảy chúng sanh lại càng phải tinh tấn nhiều hơn nữa.

(…)Tinh tấn là căn bản của các pháp thiện. Hết thảy các pháp thiện đều từ tinh tấn sanh. Tinh tấn sanh phước đức, ví như trời mưa thấm ướt đất, làm cho hạt giống nảy mầm. Nếu không tinh tấn, thì phước đức không sanh.

Chư Bồ Tát kham nhẫn, thọ hết các khổ của chúng sanh, vào tận Địa Ngục để cứu khổ cho chúng sanh cũng nhờ nơi sức tinh tấn.

Nếu chẳng thường tinh tấn, thì không thành tựu được 4 Như Ý Túc, 7 Giác Chi, 8 Thánh Đạo, 5 Căn, 5 Lực, 37 Phẩm Trợ Đạo... chẳng có thể vào dược Phật Đạo.

Hỏi: Bồ Tát muốn được hết thảy Phật pháp, muốn độ hết thảy chúng sanh, muốn diệt hết thảy phiền não, muốn tất cả đều được như ý, mà tinh tấn chỉ là một mồi lửa nhỏ, thì làm sao có thể thiêu cháy trọn hết thảy các nghiệp được?

Đáp: Bồ Tát từ sơ phát tâm, muốn hết thảy chúng sanh được hoan hỷ, thường làm lợi ích cho chúng sanh mà chẳng hề tiếc thân mạng. Vì sao? Vì nếu tiếc thân mạng thì chẳng có thể làm được việc lợi ích cho chúng sanh. Do vậy mà Bồ Tát bỏ tâm giải đãi, thường tu tinh tấn, tự nghĩ rằng: “Giải đãi như đám mây đen che lấp trí huệ, chẳng cho tăng trưởng. Giải đãi là pháp bất thiện, chỉ tạo niềm vui trong chốc, mà dẫn sanh bao nhiêu nỗi khổ về sau. Giải đãi ví như món ăn có tạp độc giết Huệ Mạng. Giải đãi ví như lửa hừng cháy, thiêu đốt cả rừng công đức.

(…)Trí Huệ do tinh tấn sanh. Bồ Tát rõ biết hết thảy pháp đều là tự tánh KHÔNG, nhưng vì thương xót chúng sanh, nên vẫn tinh tấn hành các pháp thiện, mà chẳng vội chứng Niết Bàn. Như vậy mới gọi là Tỳ Lê Gia Ba la Mật.

Bồ Tát dùng sức tinh tấn phá ma quân, phá giặc kiết sử, mà được hành Phật Đạo. Bồ Tát tuy rõ biết hết thảy pháp là “Vô tướng” vẫn dùng đủ mọi phương tiện nhằm độ thoát chúng sanh, khỏi các khổ “Sanh, Già, Bệnh, Chết”. Đến khi diệt độ, Bồ Tát nhập vào Kim Cang Tam Muội, xả báo thân như xả bỏ cỏ rác.

Trong Kinh có nêu các mẩu chuyện sau đây: Khi ngài A Nan vì các Tỳ Kheo, nói về 7 Giác Ý, Phật hỏi ngài A Nan rằng: “Này A Nan! ngươi nói về Tinh Tấn Giác Ý chăng?”.

Phật hỏi ba phen. Ngài A Nan ba phen đáp: “Bạch Thế Tôn ! Đúng vậy”.

Phật đứng dậy bảo ngài A Nan rằng : “Người ham dục lạc phải tu hành tinh tấn, có tu mới có đắc, không tu không đắc, phải đắc mới vào được Phật Đạo”.

Có thời Phật dạy: “Người tu hành chẳng nên phóng dật. Ví như người đi đường xa, phải thường nhấc chân bước tới. Như vậy mới gọi là hành Tinh Tấn. Không để cho các việc đang làm, phải trì trệ, mới là không phóng dật. Được như vậy, mới thường sanh Tinh Tấn, mới dẫn đến Phật Đạo.

 

--o0o-- 

Bồ Tát vì muốn độ thoát chúng sanh mà thường Tinh Tấn, nhất tâm, không phóng dật. Ví như người bưng bát dầu đầy đi trong đại chúng, phải nhất tâm không buông lung, phóng dật, mới mong giữ được dầu không bị vung vãi ra bên ngoài.

Nhất tâm, không phóng dật được nhiều lợi ích, được an ổn ở đời này và cả ở đời sau.

Nhất tâm, không phóng dật khiến các nguyện đều được thành tựu. Chuyên tâm tu hành là phương tiện hữu hiệu để phá giặc phiền não kiết sử. Thường tư duy, Tinh Tấn dẫn đường vào Phật Đạo.

 

--o0o--

 

Lại nữa, Bồ Tát tu hành tinh tấn, chẳng tiếc thân mạng, miễn sao làm được lợi ích cho chúng sanh. Bởi vậy nên, khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi Bồ Tát vẫn thường hành Tinh Tấn, chẳng bao giờ xao lãng đạo nghiệp. Bồ Tát quyết tâm tinh tấn, dùng mọi phương tiện độ thoát chúng sanh ra khỏi nhà lửa ba cõi, ví như người bị nhà cháy quyết tâm tinh tấn, dùng sức nước dập tắt ngọn lửa, để cứu thoát người thân ra khỏi cơn nguy biến vậy.

Lại nữa, do nhân duyên thường quán Tinh Tấn mà Tinh Tấn càng được tăng trưởng thêm mãi, giúp Bồ Tát nhẫn thọ được mọi sự khổ đau, trong quá trình hành Đạo Bồ Tát. Khi gặp người đến hành hung, dẫn đến đòi xin đầu, mắt, tủy não... Bồ Tát vẫn tự nhẫn, tự nghĩ rằng: Ta có đầy đủ sức phương tiện Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Trí Huệ mà còn tiếc thân mạng chăng? Ta phải luôn luôn vì hết thảy chúng sanh siêng năng Tinh Tấn độ hết chúng sanh, đưa họ vào Phật Đạo.

Hỏi: Tướng của Tỳ Lê Gia Ba La Mật như thế nào?

Đáp: Ở nơi việc làm thường phấn khởi, chẳng bao giờ nản chí, lập ý kiên cố làm đến chỗ rốt ráo, như vậy là tướng của Tinh Tấn. Như lời Phật dạy “tướng của Tinh Tấn là tướng của thân tâm chẳng hề ngưng nghỉ”.

Trong kinh có chép mẫu chuyện sau đây:

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn là Bồ Tát, một thời đã làm người chủ thuyền buôn. Dọc đường Quỷ La Sát bắt giữ thuyền của Bồ Tát và hỏi: “Ông nay đã bị ta bắt rồi ông muốn gì hãy cho ta hay?”

Bồ Tát đáp: “Tuy rằng 5 vóc thân của tôi đều bị ông bắt giữ, thế nhưng tâm của tôi không bị ông bắt giữ. Nếu như ông bắt giữ được tâm của tôi thì mới gọi là tôi đã bị ông bắt giữ”.

Quỷ La Sát nghĩ rằng: “Người này rất can đảm, sức Tinh Tấn của người này quả vững mạnh, ắt là chẳng chịu thua ta, ta nên tha cho đi tự do vậy”.

 

--o0o--

 

Người tu hành cũng như vậy. Chuyên tâm tọa thiền, trì tụng kinh pháp, cầu biết rõ Thật Tướng các pháp, chẳng để cho phiền não, kiết sử che tâm. Như vậy gọi là tướng của Tinh Tấn .

Siêng năng tu hành chẳng bao giờ ngưng nghỉ, dù khi “có giác, có quán”, dù khi “không giác, có quán” cũng vẫn không giải đãi. Như vậy gọi là tướng của Tinh Tấn .

Trong 5 căn, Tinh Tấn giữ vị trí thứ hai, gọi là Tấn Căn. Mỗi khi Tấn Căn đã được tăng trưởng vững mạnh rồi thì sẽ trở thành Tấn Lực, lực thứ hai trong 5 Lực. Khi Tấn Lực được khai ngộ, thì trở thành Tấn Giác dẫn vào Phật Đạo.

Ở nơi 4 Niệm Xứ, nếu tinh tấn quán Thân, quán Thọ, quán Tâm và quán Pháp thì sẽ được 4 Chánh cần.

Ở nơi 4 Chánh cần, nếu tinh tấn hành trì, thì sẽ được 4 Như Ý túc. Như vậy, ở nơi hết thảy các pháp thiện, đều có tướng của Tinh Tấn. Tinh Tấn được như vậy mới gọi là Tỳ Lê Gia Ba La Mật.

Nếu vì việc thế gian, vì tài lợi, vì danh vọng mà tinh tấn thì chẳng được gọi là Tỳ Lê Gia Ba La Mật.

Hỏi: Vì sao chỉ có Bồ Tát mới thành tựu được Tỳ Lê Gia Ba La Mật?

Đáp: Phải qua đến “bờ bên kia” mới được gọi là Ba La Mật. Nếu chẳng có tâm Đại Từ Đại Bi, chẳng có Vô Ngại Giải Thoát, chẳng có vô lượng công đức Trì Giới, Thiền Định, Trí Huệ, chẳng phải vì độ chúng sanh thì không được gọi là Ba la Mật. Ví như vì chúng sanh, mà Bồ Tát xuống tận Long Cung cầu Như Ý Bảo Châu, để đem về bố thí cho chúng sanh, cứu họ ra khỏi cảnh nghèo nàn, đói khát mới thật là Tỳ Lê Gia Ba La Mật.

Lại nữa, Bồ Tát dùng Tinh Tấn Ba la Mật dẫn đầu 5 Ba la Mật kia, Bồ Tát hành Tinh Tấn Ba la Mật, chẳng phải vì tài lợi, vì danh vọng, vì phú quý, cũng chẳng phải vì bảo vệ mạng sống của mình, vì muốn được sanh lên cõi trời... mà chỉ vì lợi ích của hết thảy chúng sanh. Như vậy gọi là tướng của Tỳ Lê Gia Ba La Mật.

Lại nữa, Bồ Tát hành Tinh Tấn, lấy Đại Bi làm đầu, nhất tâm cầu Phật Đạo để cứu vớt chúng sanh, ví như cha mẹ thương con, nhất tâm chạy thầy chạy thuốc để cứu con khỏi cơn bệnh hiểm nghèo. Như vậy là tướng của Tỳ Lê Gia Ba La Mật.

Lại nữa, Bồ Tát hành Tinh Tấn, lấy Thật Tướng Trí Huệ làm đầu, nhất tâm tu các Ba la Mật khác. Như vậy là tướng của Tỳ Lê Gia Ba La Mật.

Hỏi: Thật Tướng các pháp là vô vi, vô tác, còn Tinh Tấn là hữu vi, hữu tác. Như vậy, vì sao nói phải lấy Tinh Tấn dẫn đầu mới vào được Thật Tướng Trí Huệ?

Đáp: Vì bổn nguyện Đại Bi, muốn độ thoát hết thảy chúng sanh, nên Bồ Tát dù ở nơi vô tác, mà lại dùng lực Tinh Tấn để độ thoát hết hảy chúng sanh.

Bồ Tát có đầy đủ Lực Thần Thông, dùng Thiên Nhãn quán các cảnh khổ ở trong “3 cõi”, rồi từ trên các cõi Trời Sắc, Vô Sắc, thị hiện sanh về cõi Dục, để vì chúng sanh thọ các khổ. Thấy loài người khổ, Bồ Tát thuyết 10 Thiện Đạo để giải hóa họ. Thấy các loài súc sanh, Địa Ngục, Ngạ Quỷ thọ khổ, Bồ Tát thị hiện thân của các loài để giáo hóa.

Lại nữa, Bồ Tát dùng Thiên Nhãn quán hết thảy chúng sanh chết đây sanh kia, luân hồi trong 5 đường, quán chúng sanh ở cõi Dục, chết đi lại tái sanh ở cõi Sắc; quán chúng sanh ở cõi sắc chết đi tái sanh ở cõi Dục; quán chúng sanh ở cõi Dục chết đi tái sanh ở cõi Vô Sắc, rồi cũng có thời phải đọa Địa Ngục, thọ các khổ. Như vậy cả 4 loại “Noãn, Thai, Thấp, Hóa” cứ tương tục luân chuyển lên xuống mãi trong 5 đường, chẳng ngừng dứt. Do quán thấy rõ như vậy, nên Bồ Tát dùng tâm Đại Bi muốn độ thoát hết thảy chúng sanh khỏi các khổ Sanh Tử, dẫn họ vào Phật Đạo đến Niết Bàn Tịnh Lạc.

Hỏi: Vì sao Bồ Tát có thể thường làm lợi ích cho chúng sanh?

Đáp: Bồ Tát có Đại Tinh Tấn, có Thật Trí Huệ, rõ biết Thật Tướng các pháp là vô sanh, vô diệt, mới tu đầy đủ 6 Ba la Mật, mới thường làm việc lợi ích cho chúng sanh. Chúng sanh, do các nghiệp tội ở thân, ở khẩu và ở ý mà phải đọa vào các đường ác, chịu bao nỗi khổ, chẳng sao kể xiết được, nên Bồ Tát thệ nguyện thường tinh tấn cứu độ họ.

Trong kinh có nói đến 8 Đại Địa Ngục, 16 Tiểu Địa Ngục, nào Địa Ngục lạnh, Địa Ngục nóng v.v… Khổ cực chẳng sao tả được.

Hỏi: Thế nào gọi là “Đầy đủ Tỳ Lê Gia Ba La Mật”?

Đáp: Bồ Tát hành tinh tấn được đầy đủ công đức ở nơi Báo Thân, cũng như ở nơi Pháp Tánh Thân, nên gọi là “Đầy đủ Tỳ Lê Gia Ba La Mật”.

Do thấy chúng sanh đau khổ quá nhiều, mà Bồ Tát Tinh Tấn tu các công đức.

Hỏi: Thế nào gọi là “Thân Tinh Tấn?”

Đáp: Tinh Tấn, tuy thuộc về tâm sở pháp, nhưng nếu do thân lực, do sức hành đạo ở thân mà được thể hiện thì gọi là Thân Tinh Tấn. Hành động siêng năng tu hành, thể hiện ở nơi thân, như tay bố thí, miệng tụng kinh, nói pháp... gọi là Thân Tinh Tấn.

Nói chung:

- Ở bên ngoài làm các việc thiện thuộc về Thân Tinh Tấn.

- bên trong diệt trừ kiết sử thuộc về Tâm Tinh Tấn.

Ngoài ra:

- Vì trí huệ mà tinh tấn, thì gọi là Tâm Tinh Tấn.

Ví như Bố Thí, Trì Giới thuộc về Thân Tinh Tấn; còn Nhẫn Nhục thì thuộc về Tâm Tinh Tấn.

Bồ Tát, từ sơ phát tâm đến khi thành Đạo, tinh tấn tu hành cho đến khi được Vô Sanh Nhẫn, là Thân Tinh Tấn. Khi còn sống Bồ Tát được Vô Sanh Nhẫn, khi viên tịch được Pháp Tánh Thân, là Tâm Tinh Tấn. Bồ Tát, khi sơ phát tâm, chưa đầy đủ công đức nên hành Bố Thí; hành Trì Giới để được phước báo, rồi sau đó phát tâm Đại Bi. Ví như phát tâm Đại Bi, xuống tận Long Cung, cầu Như Ý Bảo Châu, để có đủ tài vật Bố Thí, nhằm cung cấp cho chúng sanh khắp cõi Diêm Phù Đề, khiến họ thoát khỏi cảnh nghèo nàn, đói khát. Như vậy là Thân Tinh Tấn.

Còn tinh tấn tu hành, được 5 Thần Thông, thì gọi là Tâm Tinh Tấn. Do Thân Tâm Tinh Tấn mà vào được Phật Đạo.

Lại nữa, làm các việc phước thiện, mà chẳng tiếc thân mạng, thuộc về Thân Tinh Tấn. Tu Thiền Định, Trí Huệ chẳng có giải đãi thuộc về Tâm Tinh Tấn.

Bồ Tát, nhờ tu Tinh Tấn, mà cam chịu các cảnh khổ nhằm cứu độ hết thảy chúng sanh, mà tâm chẳng bao giờ thối chuyển.

Trong Kinh Bổn Sanh có chép các mẩu chuyện sau đây: Ngày xưa, ở thành Ba la Nại, có 1 ông vua thích săn bắn thú rừng. Một hôm nhà vua vào rừng săn, gặp 2 bầy nai, mỗi bầy có đến 500 con.

Nai chúa của bầy thứ nhất, đẹp đẽ, uy nghi, là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, lúc bấy giờ còn là Bồ Tát. Nai chúa của bầy thứ hai là tiền thân của Đề Bà Đạt Đa.

Thoáng nhìn 2 bầy nai, nhà vua hạ lệnh bắn tên xối xả.

Thế nhưng, nai chúa của bầy thứ nhất, chẳng chút sợ hãi, chạy ngay đến phía nhà vua. Nhà vua thấy điều lạ, bèn hạ lệnh ngưng bắn.

Nai chúa này vừa đến nơi, quỳ xuống dưới chân nhà vua, và thưa rằng: “Đại Vương chỉ vì một niềm vui nho nhỏ, mà làm cho 2 bầy nai chúng tôi phải chịu tang thương, chết chóc, khổ đau. Nếu Đại vương cần ăn thịt nai, thì mỗi ngày, một trong chúng tôi sẽ tự nguyện đem thân đến để xin cúng dường”.

Nhà vua nghe xong, rất hoan hỷ, hạ lệnh chấm dứt cuộc săn bắn, với điều kiện mỗi ngày phải có một con nai đến nạp mạng.

Rồi, một ngày, đến phiên một nai cái thuộc bày thứ hai. Con nai cái này đang mang thai, đến nai chúa xin khất lại vào một hôm khác, sanh con xong, sẽ xin đến nạp mạng. Nai chúa của bầy này (tiền thân của Đề Bà Đạt Đa) không chấp thuận. Nai cái buồn rầu khóc lóc, chạy đến nai chúa Bồ Tát xin cầu cứu. Bồ Tát an ủi nai cái này, rồi đích thân đến cung vua, thưa rằng “Tâu Đại Vương! Hôm nay đến phiên một nai cái đang mang thai. Nai cái này xin được sanh con xong rồi sẽ xin chịu chết. Xin Đại Vương mở lòng từ bi, thương xót cho nai cái này được như nguyện. Tôi xin chết thay để cứu mạng chú nai con còn trong bụng mẹ. Nếu tôi không cứu mạng, thì tôi cũng chẳng khác gì loài cây đá. Vả lại, tôi nay cũng đã già, chẳng bao lâu nữa cũng sẽ chết, nên tôi hoan hỷ bố thí thân mạng tôi. Kính xin Đại Vương chấp thuận lời cầu xin của tôi”.

 

Bao nhiêu lời giải thích của Đại Trí Độ Luận về “Tinh Tấn Ba La Mật” như thế cũng tạm đủ. Chỉ cần thọ trì pháp bảo này, thì phước đức không nói hết.

 

---o0o---

 

 

Đến đây chấm dứt phần mười bốn,

(Hội thứ XIV). 

 

Tinh tấn là một đức tánh cần thiết đối với Đạo cũng như Đời. Người lười biếng, giải đãi không thể nào thành công. Nếu sống cuộc đời thường, không có nghị lực, không có chí phấn đấu, không quyết tâm... không thể thăng tiến trên bước đường công danh sự nghiệp, không thể tự giúp mình nói chi đến việc giúp ích nhân quần xã hội. Còn kẻ xuất gia, không chịu thức khuya dậy sớm, tham thiền nhập định, tụng kinh niệm Phật, nhất là không chịu hoằng dương chánh pháp, sống nương nhờ hột cơm manh áo của đàn na thí chủ, biếng nhác qua ngày, không có tâm nguyện rộng lớn, tu hành hời hợt thì tự độ đã khó nói chi đến độ tha.

Quyết tâm, nghị lực, ý chí, lòng nhiệt thành là năng lượng, là sức mạnh của tinh tấn để đưa mình, người từ bờ mê đến bến giác. Giống như chiếc phản lực cơ, cần năng lượng và sức tống để tạo sức mạnh giúp nó rời phi đạo (take off). Nếu không có năng lượng tốt, không có sức tống mạnh, chiếc phản lực chạy mãi trên phi đạo và không bao giờ cất cánh nổi. Năng lượng sức tống chính là tinh tấn.

Phẩm “Xảo Tiện”, cuối Q.517 cho đến đầu Q.520, Hội thứ III, ĐBN nhấn mạnh phương tiện tinh tấn trong việc tu hành như sau:

“Phật bảo:

- Thiện Hiện nên biết! Đại Bồ Tát ấy đối với Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả và mười tám pháp Phật bất cộng v.v... vô lượng, vô biên công đức thù thắng, thì gọi là hành giả tinh tấn như thật. Nếu có thể tu hành tinh tấn như thế mà chẳng đắc quả vị Vô Thượng Bồ đề, Nhất thiết tướng trí, đại trí, diệu trí thì không có việc ấy. Vì sao? Vì đại Bồ Tát này đã chứng được Vô sanh pháp nhẫn rồi, cho đến Vô Thượng Bồ đề, đối pháp đã được không lui không giảm”.

Muốn tu tất cả pháp thành công thì phải kêu gọi đến tinh tấn Ba la mật. Không có tinh tấn Ba la mật thì một quả nhỏ là nhơn thiên còn không có được nói chi chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, Nhất thiết trí trí... Vì vậy, phải nói: Tinh tấn tạo sức mạnh nội chứng. Phước đức chỉ bồi dưỡng thân tâm, không thể đem đến chứng ngộ. Ý chí nghị lực hay nói khác tinh tấn mới đem đến giác ngộ, mới thâm nhập được Phật đạo, chứng đắc Niết bàn. Nên, đức Phật trước khi nhập Niết bàn nhắn nhủ các đệ tử thiết tha như sau:

 

“Hỡi các người thân yêu của ta, hãy tinh tấn lên,

tinh tấn lên để giải thoát!” 

 

Tóm lại, lười biếng, bê tha... thiếu nhân cách, thiếu tinh thần trách nhiệm, tự cứu mình đã khó hiến chi độ kẻ khác, tu tinh tấn để độ cái nhân giải đãi này.

 

Phần kế tiếp chúng ta đọc tụng là “Tịnh Lự Ba La Mật”. Một pháp tu đưa đến tập trung cao độ và tịnh tâm không gì bằng. Đó chính là thiền định. Chính nhờ thiền định mà phát sanh trí tuệ. Nên thiền trở thành pháp tu vi diệu và giữ một vai trò quan trọng trong việc tu Phật. Thiền là ý chí, là tự lực nên rất được những bậc thức giả hâm mộ. Vì vậy, Thiền rất cao ngạo khi tuyên bố rằng “Không có thiền, không có giác ngộ”. Phần“Tịnh Lự Ba La Mật” kế tiếp sẽ trả lời câu nói này.

 

 

Đến đây chấm dứt Hội thứ XIV, ĐBN.

 



Tu Viện Quảng Đức Youtube Channel
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,264,053