Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

80. Phẩm "Chánh Định"

17/09/202015:16(Xem: 4124)
80. Phẩm "Chánh Định"

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***

buddha-453

 

 

PHẨM "CHÁNH ĐỊNH"

Phần đầu quyển 477, Hội thứ II, ĐBN.

(Tương đương phẩm “Tịnh Độ Phương Tiện”, phần cuối Q.394

cho đến phần đầu Q.395, Hội thứ I, ĐBN)

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

Tóm lược:

 

(Bồ Tát trụ vào chánh định không bao giờ bị đọa vào đường ác)

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát ấy do trụ vào chánh định hay trụ vào bất định(1)?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát ấy đều trụ vào chánh định, chứ chẳng phải bất định.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát ấy trụ những chánh định nào? Thanh văn thừa, Độc giác thừa, hay Bồ Tát thừa?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát ấy đều trụ vào chánh định của Bồ Tát, chẳng phải trụ vào chánh định của hai thừa kia.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát ấy khi nào trụ vào chánh định? Lúc mới phát tâm, lúc ở địa vị Bất thối hay ở thân cuối?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát ấy khi mới phát tâm hoặc ở địa vị bất thối, hay thân cuối cùng, đều trụ vào chánh tánh định tụ của Bồ Tát.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ Tát trụ vào chánh định có đọa vào đường ác không?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đại Bồ Tát trụ vào chánh định nhất định không đọa cảnh giới ác.

Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác có đọa vào cảnh giới ác không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không!

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát cũng vậy, từ lúc mới phát tâm tu hành bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật và vô lượng, vô biên Phật pháp khác đều đoạn trừ các pháp ác. Do đó, mà không có chuyện bị đọa vào các đường ác, sanh vào trời trường thọ cũng không có việc đó. Nghĩa là ở nơi đó, không thể tu tập các pháp lành thù thắng được. Nếu các đại Bồ Tát ấy sanh nơi biên địa xa xôi, chỗ mọi rợ… thì không có việc đó. Vì ở chỗ đó không thể tu hành các thiện pháp thù thắng, vì chỗ đó sanh nhiều ác kiến, không tin nhân quả, thường hành những nghiệp xấu ác. Ở đó cũng chẳng nghe tên Phật, Pháp, Tăng, cũng không có bốn chúng là Tỳ kheo nam, Tỳ kheo nữ, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Nếu đại Bồ Tát sanh vào nhà tà kiến, thì cũng không có việc đó. Vì sanh vào nhà đó thì thường chấp trước, đầy ác kiến hay bài bác, không nói các hạnh lành, không tu tập các điều thiện lại ưa thích làm điều ác.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi mới phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, do thọ lạc thắng ý mà tạo ra mười nghiệp đạo bất thiện thì không có việc đó.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát từ sơ phát tâm trọn nên công đức căn lành như thế, đối các chỗ ác chẳng thọ sanh nữa, cớ sao Thế Tôn mỗi khi vì chúng nói việc “tự bổn sanh” nhiều trăm ngàn thứ, trong ấy cũng có kẻ thọ sanh các ác thú, vậy căn lành lúc đó ở đâu?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Chẳng phải đại Bồ Tát do nghiệp bất tịnh mà thọ thân ác thú. Chỉ vì lợi vui các loại hữu tình, do cớ đó nên vì nguyện mà thọ thân kia. Vì vậy, không nên đem những việc như thế để hỏi.

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Có các Độc giác, hoặc A la hán, dùng phương tiện thiện xảo, giống như các Bồ Tát mà thành tựu phương tiện thiện xảo thù thắng, thọ thân bàng sanh như voi trắng v.v... thấy kẻ thù đến muốn làm tổn hại, nhưng phát sanh lòng từ bi an nhẫn vô thượng để làm cho kẻ kia được lợi ích, tự mình chịu bỏ thân mạng, chứ không hại người kia có phải như vậy không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Các vị Độc giác v.v... không làm những việc như vậy.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Do nhân duyên này nên biết Bồ Tát vì muốn làm lợi ích cho các hữu tình và mau viên mãn lòng đại bi, mặc dù hiện thân làm các loài bàng sanh nhưng không bị tội lỗi của bàng sanh làm ô nhiễm.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát trụ vào căn lành nào để làm lợi ích các hữu tình mà phải thọ thân bàng sanh?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát không có căn lành nào mà không viên mãn! Các Bồ Tát từ lúc mới phát tâm cho đến ngồi tòa Bồ đề, căn lành nào cũng viên mãn. Cần phải làm viên mãn đầy đủ tất cả pháp lành mới được chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Nếu chưa viên mãn bất cứ một pháp lành nào mà đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, thì không có việc đó. Cho nên Bồ Tát từ mới phát tâm cho đến lúc ngồi tòa Bồ đề, ở khoảng giữa đó thường học viên mãn tất cả pháp lành. Học xong sẽ đạt được Nhất thiết tướng trí, vĩnh viễn đoạn trừ tất cả tập khí tương tục mới có thể chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Vì sao đại Bồ Tát thành tựu bạch pháp và chơn Thánh trí mà còn thọ thân bàng sanh ở các cõi ác?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông thế nào? Như Lai có thành tựu tất cả bạch pháp và chơn Thánh trí không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Như Lai có thành tựu tất cả bạch pháp và chơn Thánh trí.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông thế nào? Như Lai có hóa làm thân bàng sanh để làm Phật sự lợi ích cho chúng sanh hay không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Như Lai có hóa làm bàng sanh để làm Phật sự lợi ích cho hữu tình.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông thế nào? Khi Như Lai hóa làm thân bàng sanh là có thật là bàng sanh bị các khổ không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Khi Như Lai hóa làm thân bàng sanh chẳng phải thật là bàng sanh bị các khổ.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát cũng vậy, mặc dù thành tựu bạch pháp và chơn Thánh trí nhưng đó là vì thành thục hữu tình nên mới dùng phương tiện thiện xảo thọ thân bàng sanh, tùy theo căn cơ mà thành thục các loại hữu tình.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Ý ông thế nào? Có A la hán nào đoạn tận các lậu mà có thể hóa thân làm các sự nghiệp rồi nhờ sự nghiệp ấy mà có thể làm người khác sanh tâm hoan hỷ không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Như vậy! Bạch Thiện Thệ! Như vậy! Có A la hán hết hẳn các lậu, năng hóa làm thân khởi các sự nghiệp, do sự nghiệp kia khiến người khác sanh hoan hỷ.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát cũng vậy, tuy thành tựu bạch pháp và chơn Thánh trí, nhưng vì lợi ích cho các loài hữu tình mà dùng phương tiện thiện xảo thọ thân trong đường ác, ứng hiện như vậy để giáo hóa các loại hữu tình. Tuy thọ thân như vậy, nhưng không bị các khổ não. Cũng không bị tội lỗi của cõi đó làm ô nhiễm.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Ý ông thế nào? Có nhà ảo thuật, hoặc đệ tử của ông ta, hóa làm những việc như voi, ngựa v.v... làm cho mọi người thấy thích thú. Nhưng đó có phải voi, ngựa v.v... thật sự không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Đó không phải voi, ngựa v.v... thật.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát cũng vậy, mặc dù thành tựu bạch pháp và chơn Thánh trí nhưng vì làm lợi ích cho các loài hữu tình mà thị hiện thọ các loại thân bàng sanh. Tuy thọ thân như vậy nhưng thật chẳng phải là bàng sanh, cũng không bị tội lỗi của loài ấy làm ô nhiễm.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát dùng phương tiện thiện xảo rộng lớn như vậy, tuy thành tựu bạch pháp và chơn Thánh trí, nhưng vì hữu tình mà thọ các loại thân, tùy theo từng loài mà ứng hiện làm lợi ích. Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát trụ vào những pháp nào để có thể làm những phương tiện thiện xảo như thế? Tuy thọ đủ loại thân hình trong các loài nhưng không bị tội lỗi của loài đó làm ô nhiễm?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát trụ vào Bát nhã Ba la mật có thể làm phương tiện thiện xảo như vậy. Nhờ năng lực phương tiện thiện xảo này mà mặc dầu đến hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương để hiện các loại thân làm lợi ích an lạc cho các loại hữu tình đó, nhưng ở trong đó không có chấp trước. Vì sao? Vì các đại Bồ Tát ấy đối với tất cả pháp hoàn toàn không có sở đắc, nghĩa là hoàn toàn không có người nhiễm, bị nhiễm và pháp nhiễm. Vì sao? Vì tự tánh của tất cả pháp đều không.

 

(Tánh không và bất khả đắc không)

 

Thiện hiện nên biêt! Không chẳng thể nhiễm không, không chẳng thể nhễm các pháp, cũng không có các pháp năng nhiễm được không. Vì sao? Trong tánh không, không còn bất khả đắc huống chi có các pháp khác có thể nhiễm trước không. Như vậy, gọi là bất khả đắc không. Các đại Bồ Tát an trụ trong đây năng chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, vì các hữu tình thường làm nhiêu ích.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ Tát chỉ an trụ vào Bát Nhã thẳm sâu mà có thể hành phương tiện thiện xảo như thế, hay là cũng an trụ vào các pháp nào khác?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Chẳng lẽ còn có pháp nào khác không được bao gồm vào trong Bát nhã Ba la mật mà ông nghi ngờ như vậy?

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Bát Nhã thẳm sâu đã tự tánh không, làm sao nói Bát Nhã có thể nhiếp tất cả pháp? Chẳng phải ở trong không khá nói được có pháp nhiếp cùng chẳng nhiếp?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Há chẳng phải tất cả pháp tự tánh đều không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Đúng vậy! Bạch Thiện Thệ! Đúng vậy!

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu tất cả pháp tự tánh đều không thì trong cái bất không làm sao nhiếp thọ được tất cả pháp.

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Đúng vậy! Đúng vậy!

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Do nhân duyên này mà Bát Nhã thẳm sâu này bao gồm tất cả pháp. Thiện Hiện nên biết! Bồ Tát trụ Bát Nhã thẳm sâu mà có thể hành phương tiện thiện xảo như thế. 

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao khi đại Bồ Tát hành sâu Bát Nhã, an trụ vào trong tự tánh không của các pháp để phát ra thần thông Ba la mật? An trụ vào thần thông Ba la mật đó có thể đến hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương, để cung kính dường cúng dường chư Phật Thế Tôn, được thọ lãnh Chánh pháp của chư Phật mà gieo trồng vô lượng căn lành thù thắng.  

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành sâu Bát Nhã, thấy khắp mười phương hằng hà sa số thế giới chư Phật và nhiều chư Phật, cùng nhau thuyết các pháp tự tánh không. Nhưng chỉ giả danh theo thế tục, thuyết đây là thế giới Phật, chúng Tăng và đây là các pháp. Nhưng danh tự như vậy, do thế tục giả nói, tự tánh cũng không.

Thiện Hiện nên biết! Nếu thế giới chư Phật trong mười phương cùng nhau thuyết pháp, giả nói danh tự mà tự tánh chẳng không, thì cái không được thuyết đó sẽ thành một phần. Vì cái không được thuyết chẳng thành một phần, nên tự tánh của tất cả pháp đều là không. Lý của nó tròn đầy, không hai không khác. Các đại Bồ Tát khi hành sâu Bát Nhã, do quán thấy là không, dùng phương tiện thiện xảo mà phát sanh thần thông Ba la mật. An trụ vào Bát Nhã đó có thể phát sanh Thiên nhãn, thiên nhĩ, thần cảnh, tha tâm, túc trụ, tùy niệm và biết lậu tận.

Thiện Hiện nên biết! Các đại Bồ Tát không xa lìa thần thông Ba la mật thì có thể tự tại, thành thục hữu tình, trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, để chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Cho nên thần thông Ba la mật là đạo Bồ đề. Các đại Bồ Tát đều y vào đạo này mà cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Khi cầu có thể tự mình viên mãn tất cả pháp lành, cũng có thể dạy bảo người khác tu tập các pháp lành. Tuy làm những việc như vậy, nhưng đối với pháp lành đó, đại Bồ Tát đều không chấp trước. Vì sao? Vì đại Bồ Tát đó biết tự tánh của các pháp lành đều không. Chẳng phải tự tánh không mà có chấp trước. Nếu có chấp trước thì có vị ngọt của ái. Do không chấp trước nên không có vị ngọt của ái, vì trong tự tánh không có vị ngọt của ái, người hưởng vị, sự hưởng vị và pháp được hưởng vị, ở trong pháp không đều không thể đắc.

 

Thiện Hiện nên biết! Các đại Bồ Tát khi hành sâu Bát Nhã, an trụ trong thần thông Ba la mật, mà phát sanh thiên nhãn thanh tịnh hơn người. Dùng thiên nhãn này thấy tự tánh của tất cả pháp đều là không. Vì thấy tự tánh của tất cả pháp đều không, nên không dựa vào tướng của pháp để tạo ra các nghiệp, mặc dù vì hữu tình nói pháp như vậy nhưng cũng không thấy tướng của các hữu tình và pháp được thuyết. Đại Bồ Tát ấy lấy vô sở đắc để làm phương tiện, sanh ra các thần thông thù thắng của Bồ Tát. Dùng thần thông này làm tất cả sự nghiệp cần làm. Đại Bồ Tát ấy dùng thiên nhãn thanh tịnh hơn người, thấy khắp hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương. Thấy rồi phát sanh thần cảnh trí thông, đến đó làm lợi ích cho các loại hữu tình. Lấy bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật mà làm lợi ích. Hoặc lấy bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo để làm lợi ích. Hoặc lấy bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc để làm lợi ích. Hoặc lấy tám giải thoát cho đến mười biến xứ để làm lợi ích. Hoặc lấy pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện để làm lợi ích. Hoặc lấy các pháp lành thù thắng khác để làm lợi ích. Hoặc lấy pháp của Thanh văn, Độc giác, Bồ Tát và chư Phật để làm lợi ích.

Ở trong thế giới mười phương, thấy hữu tình nào nhiều xan tham, thì đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, nói pháp như vầy: Hữu tình các ngươi nên hành bố thí. Những ai xan tham thì chịu nghèo khổ cùng cực. Vì nghèo khổ cùng cực nên không có oai đức, tự mình không thể có lợi ích huống chi có thể làm lợi ích cho người. Cho nên các người hãy siêng năng thực hành bố thí, tự mình được an vui, còn làm cho người khác được an vui, đừng vì nghèo khổ cùng cực mà ăn nuốt lẫn nhau, để rồi mình và người không thể giải thoát nỗi khổ khỏi các đường ác.

Nếu thấy hữu tình hủy phạm tịnh giới, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, nói pháp như vầy: Hữu tình các ngươi nên giữ gìn tịnh giới. Những ai phá giới thì bị khổ trong đường ác. Người phá giới không có oai đức, mình không có lợi ích làm sao có thể làm lợi ích cho người. Do phá giới mà đọa trong ba đường ác, chịu quả báo khổ đau đớn khó chịu nổi, tự mình không thể cứu được, thì làm sao có thể cứu người. Cho nên các ngươi nên giữ gìn tịnh giới, không nên dung chứa tâm phá giới dù trong sát na, huống chi thời gian lâu, đừng để tâm của mình buông lung để rồi sau này hối hận buồn khổ.

Nếu thấy hữu tình sân hận nhau rồi trở thành hận thù làm tổn hại lẫn nhau, thì đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, nói pháp như vầy: Hữu tình các ngươi nên tu tập an nhẫn, đừng sân hận nhau mà kết oán kết thù tàn hại nhau. Vì tâm sân hận đó nó không thuận với pháp lành, làm tăng trưởng pháp ác, rồi nhận lấy sự tổn hại trong đời hiện tại. Do tâm sân giận này mà sau khi qua đời các ngươi sẽ đọa vào đường ác chịu nhiều khốn khổ, chẳng biết lúc nào thoát ra được. Cho nên các ngươi không nên dung chứa tâm sân hận dù trong sát na, huống chi để nó kéo dài liên tục. Các ngươi hiện nay hãy lần lượt nương tựa vào nhau, nên khởi lòng từ để làm việc lợi ích.

Nếu thấy hữu tình biếng nhác, giải đãi, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, nói pháp như vầy: Hữu tình các ngươi nên tinh tấn siêng năng, đừng biếng nhác, giải đãi với pháp lành. Người giải đãi không thể nào thành tựu các pháp lành và những việc thù thắng. Do biếng nhác, giải đãi mà các ngươi đọa vào các đường ác chịu vô lượng khổ. Cho nên các ngươi không nên dung chứa tâm biếng nhác, giải đãi, dù trong sát na, huống chi kéo dài liên tục.

Nếu thấy hữu tình thất niệm, tâm tán loạn không tịch tịnh, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, nói pháp như vầy: Hữu tình các ngươi nên tu tập tịnh lự, tâm đừng có thất niệm, tán loạn. Tâm như vậy không thuận với pháp lành mà tăng trưởng pháp ác, hiện tại nhận lấy suy tổn. Do đó, các ngươi sau khi qua đời, đọa các cõi ác chịu vô lượng khổ. Cho nên các ngươi không nên dung chứa tâm tương ưng với thất niệm, tán loạn dù trong sát na, huống chi kéo dài liên tục.

Nếu thấy hữu tình ngu si ác tuệ, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, nói pháp như vầy: Hữu tình các ngươi nên tu thắng tuệ (Bát Nhã) chớ khởi ác tuệ. Người có ác tuệ không thể đến các cõi lành thì làm sao giải thoát được. Do nhân ác tuệ này mà các ngươi đọa vào các cõi ác bị vô lượng khổ. Cho nên các ngươi không nên dung chứa tâm tương ưng với ngu si, ác tuệ, dù trong sát na, huống chi kéo dài liên tục.

Nếu thấy hữu tình nhiều tham dục, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, dùng phương tiện dạy họ tu tập quán bất tịnh. Nếu thấy hữu tình nhiều sân giận, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, dùng phương tiện dạy họ tu tập về phép quán từ bi. Nếu thấy hữu tình nhiều ngu si, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, dùng phương tiện dạy họ tu tập phép quán về duyên khởi. Nếu thấy hữu tình nhiều kiêu mạn, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, dùng phương tiện dạy họ tu tập giới phân biệt. Nếu thấy hữu tình nhiều tầm tứ, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, dùng phương tiện dạy họ tu phép quán hơi thở.

Nếu thấy hữu tình mất chánh đạo, đại Bồ Tát sanh lòng thương xót, dùng phương tiện dạy bảo, hướng dẫn để trở về chánh đạo. Nghĩa là đạo Thanh văn, đạo Độc giác, đạo Như Lai thì dùng phương tiện vì họ nói pháp như vầy: Những gì mà các ngươi chấp lấy thì tự tánh của nó đều không, chẳng phải trong pháp không mà có thể chấp lấy. Vì vô sở chấp là tướng không.

Như vậy, này Thiện Hiện! Khi các đại Bồ Tát thực hành sâu Bát Nhã, an trụ trong thần thông Ba la mật, dùng phương tiện tự tại, giảng nói chánh pháp để làm lợi ích an lạc cho các loài hữu tình.

Thiện Hiện nên biết! Nếu đại Bồ Tát lìa xa thần thông Ba la mật thì không thể nào tự tại, giảng nói chánh pháp, làm những việc lợi ích cho các hữu tình.

Thiện Hiện nên biết! Như con chim không có cánh thì không thể nào bay lượn trên bầu trời để đến những chỗ xa. Các đại Bồ Tát cũng như vậy. Nếu không có thần thông Ba la mật thì không thể tự tại giảng nói chánh pháp, làm những lợi ích cho các loài hữu tình. Cho nên, này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành sâu Bát Nhã sẽ phát sanh thần thông Ba la mật, nếu phát sanh thần thông Ba la mật tức là có thể tự tại giảng nói chánh pháp, tùy ý làm lợi lạc cho các loài hữu tình.

 

Thiện Hiện nên biết! Các đại Bồ Tát dùng thiên nhãn thanh tịnh hơn người, nhìn khắp hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương và thấy các loài hữu tình sống nơi đó. Thấy rồi phát sanh thần cảnh trí thông, chỉ trong khoảnh khắc, đã đến được cảnh giới ấy. Dùng trí tha tâm mà như thật liễu tri tâm và tâm sở pháp của các hữu tình ấy. Tùy theo căn cơ thích ứng mà nói pháp giải thoát. Nghĩa là nói bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật; hoặc nói bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; hoặc nói bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; hoặc nói tám giải thoát cho đến mười biến xứ; hoặc nói pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện; hoặc nói tất cả Đà la ni, Tam ma địa môn; hoặc nói pháp nội không cho đến pháp vô tính tự tính không; hoặc nói chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì; hoặc nói Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; hoặc nói nhân duyên cho đến tăng thượng duyên; hoặc nói các pháp do duyên sanh; hoặc nói vô minh cho đến lão tử; hoặc nói tất cả pháp môn của uẩn, xứ, giới; hoặc nói đạo Thanh văn, hoặc nói đạo Độc giác, hoặc nói Bồ Tát đạo, hoặc nói Bồ đề, hoặc nói Niết bàn để cho các hữu tình đó nghe pháp này rồi đều đạt được lợi ích an vui thù thắng.

 

Đại Bồ Tát ấy dùng thiên nhĩ thanh tịnh hơn người có thể nghe tiếng tất cả người, phi người. Nhờ thiên nhĩ này mà nghe chánh pháp của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác trong hằng hà sa số thế giới chư Phật ở mười phương nói. Nghe rồi thọ trì, tư duy y theo pháp đã nghe mà giảng nói cho hữu tình, hoặc nói bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Nói đầy đủ cho đến hoặc nói Bồ đề, hoặc nói Niết bàn, để các hữu tình đó sau khi nghe pháp đều đạt được lợi ích an lạc thù thắng.

Đại Bồ Tát ấy dùng tha tâm trí thông thanh tịnh hơn người, như thật biết rõ tâm, tâm sở của các loại hữu tình. Tùy theo căn cơ thích ứng mà nói pháp giải thoát cho chúng. Nghĩa là nói bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Nói đầy đủ cho đến hoặc nói Bồ đề, hoặc nói Niết bàn để cho hữu tình kia sau khi nghe pháp ấy, đều đạt được lợi ích an vui thù thắng.

Đại Bồ Tát ấy dùng túc trụ tùy niệm trí thông nhớ được những việc quá khứ của mình và người. Nhờ túc trụ tùy niệm trí thông này mà như thật nhớ biết tất cả tên sai khác của chư Phật và chúng đệ tử ở quá khứ. Nếu các hữu tình nào thích nghe những việc đời trước ở quá khứ để được lợi ích, thì liền giảng nói những việc đời trước cho họ nghe. Nhờ đây mà dùng phương tiện nói chánh pháp cho họ. Nghĩa là nói bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Nói đầy đủ cho đến hoặc nói Bồ đề, hoặc nói Niết bàn, để các hữu tình đó sau khi nghe pháp ấy, đều đạt được lợi ích an vui thù thắng.

Đại Bồ Tát ấy dùng tấn tốc thần cảnh trí thông đến hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương, gần gũi cúng dường chư Phật Thế Tôn. Trồng các căn lành với chư Phật rồi trở về cõi của mình để nói cho hữu tình nghe những việc ở cõi Phật ấy. Nhờ đó dùng phương tiện đem chánh pháp nói cho họ. Nghĩa là nói bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Nói đầy đủ cho đến hoặc nói Bồ đề, hoặc nói Niết bàn, để cho các hữu tình đó sau khi nghe pháp này, đều đạt được lợi ích an vui thù thắng.

Đại Bồ Tát ấy dùng tùy sở đắc lậu tận trí thông, mà như thật biết rõ các loại hữu tình lậu đã tận hoặc chưa tận, cũng như thật biết phương tiện lậu tận vì những người chưa lậu tận để giảng nói pháp giải thoát. Nghĩa là nói bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật. Nói đầy đủ cho đến hoặc nói Bồ đề, hoặc nói Niết bàn, để cho các hữu tình đó sau khi nghe pháp này, đều đạt được lợi ích an vui thù thắng.

Như vậy, này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành sâu Bát Nhã, nên phát sanh thần thông Ba la mật. Đại Bồ Tát ấy do tu tập thần thông Ba la mật nên được viên mãn, có thể thọ nhiều loại thân tùy theo ý muốn, nhưng không bị tội lỗi của khổ vui làm ô nhiễm. Giống như hoá thân của Phật, mặc dầu làm những sự việc như vậy nhưng không bị tội lỗi của khổ vui làm ô nhiễm.

Như vậy, này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát khi hành sâu Bát Nhã, nên đạt được du hý thần thông Ba la mật. Nếu đạt được du hý thần thông Ba la mật, thì có thể giáo hóa cho các hữu tình thành tựu trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, mau chóng chứng quả vị Vô Thượng Bồ đề.

Thiện Hiện nên biết! Nếu đại Bồ Tát không giáo hóa các hữu tình được thành tựu trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, thì không thể nào đạt được sự mong cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vì sao? Vì các đại Bồ Tát chưa viên mãn tư lương Bồ đề thì chắc chắn không thể nào chứng được sự mong cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

 

(Tất cả thiện pháp là tư lương Bồ đề Bồ Tát)

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật.

- Bạch Thế Tôn! Tư lương Bồ đề Bồ Tát là những gì mà chư đại Bồ Tát nên viên mãn Bồ đề đạo mới có thể chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Tất cả các thiện pháp là tư lương Bồ đề Bồ Tát.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Cái gì là tất cả thiện pháp?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát từ khi mới phát tâm tu hành bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật, trong đó đều không phân biệt chấp trước, nghĩa là nghĩ như vầy: “Đây là bố thí cho đến Bát Nhã. Do đây vì đây mà tu bố thí cho đến Bát Nhã”. Ba phân biệt chấp trước ấy đều không, vì biết tự tánh của các pháp đều không vậy. Do tu sáu Ba la mật: Bố thí, tịnh giới, v.v... mà có thể tự mình được lợi ích và cũng có thể làm lợi ích cho tất cả hữu tình, để thoát khỏi sanh tử, chứng Niết bàn. Đó gọi là thiện pháp, cũng gọi là tư lương Bồ đề Bồ Tát, cũng gọi là đạo Bồ Tát. Chúng đại Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai đều tu hành đạo này. Được đạo này rồi sẽ được đắc quả vị Vô Thượng Bồ đề ngay hiện tại, cũng làm cho hữu tình ngay hiện tại vượt qua biển lớn sanh tử, được Niết bàn an lạc.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát từ khi mới phát tâm tu hành bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo. An trụ trong pháp nội không cho đến pháp vô tính tự tính không. An trụ vào chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì. An trụ vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo. Tu hành bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Tu hành tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Tu hành pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện. Tu hành địa vị đại Bồ Tát. Tu hành tất cả pháp môn Đà la ni, môn Tam ma địa. Tu hành Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Tu hành pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả. Tu hành Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Trong đó hoàn toàn không phân biệt chấp trước. Nghĩa là suy nghĩ như vầy: “Đây là bốn niệm trụ cho đến Nhất thiết tướng trí. Do đây vì đây mà tu bốn niệm trụ cho đến Nhất thiết tướng trí”. Ba phân biệt chấp trước này hoàn toàn không, vì biết tự tánh của các pháp là không. Nhờ đã tu bốn niệm trụ cho đến Nhất thiết tướng trí này mà có thể tự mình được lợi ích, và cũng làm lợi ích cho tất cả hữu tình, độ chúng thoát khỏi sanh tử mà được Niết bàn. Nói là thiện pháp, cũng gọi là tư lương Bồ đề Bồ Tát, cũng gọi là đạo Bồ Tát. Quá khứ, vị lai, hiện tại chúng đại Bồ Tát đều tu hành đạo này. Được đạo này rồi, hiện tại sẽ chứng được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Cũng có thể khiến hữu tình được đạo ấy, vượt qua biển lớn sanh tử đạt được Niết bàn an vui rốt ráo.

Thiện Hiện nên biết! Lại có vô lượng công đức mà đại Bồ Tát tu tập cũng đều gọi là thiện pháp, cũng gọi là tư lương Bồ đề Bồ Tát, cũng gọi là đạo Bồ Tát. Các đại Bồ Tát cần phải tu tập các thiện pháp thù thắng như vậy cho hoàn toàn viên mãn, thì mới có thể chứng đắc Nhất thiết trí trí. Chứng Nhất thiết trí trí rồi, mới có thể chuyển Chánh pháp luân không sai lầm, khiến cho hữu tình hoàn toàn an lạc. (Q.477, ĐBN)

 

Thích nghĩa:

 1). Bất định tụ (不定聚, Phạm: aniyataràzi, Pàli: aniyata-ràsi) cũng gọi Bất định tính tụ, Bất định. Chẳng thuộc chính chẳng thuộc tà. Một trong ba tụ. Tụ nghĩa là chia loại thành từng nhóm. Dựa theo sự sai khác của căn cơ chúng sinh, có thể chia thành ba nhóm. Tâm tính chúng sinh nào chưa thuộc chính hay tà, hễ gặp duyên lành thì thành quyết định chính, hễ gặp duyên ác thì thành quyết định tà. Vì bất định như thế, nên gọi Bất định tụ.- Từ điển Phật Quang.

 

Sơ giải:

 

Phẩm “Phương Tiện Tịnh Độ” của ĐBN do Ngài Huyền Trang dịch và phẩm “Quyết Định” của Kinh MHBNBLMĐ do Ngài La Thập dịch, giống nhau như hai giọt nước, chỉ khác phẩm tựa. Phương tiện tịnh độ có nghĩa là gì? Bồ Tát thực thi các phương tiện thiện xảo để biến cõi đất này trở thành cõi Tịnh độ giống như mong ước của Bồ Tát Pháp Tạng trước khi trở thành Phật A Di Đà. Đó là một trong những hạnh nguyện cao cả của bất cứ Bồ Tát nào từ sơ phát tâm cho đến khi thành chánh quả. Nhưng trước khi thực thi những chương trình cứu rỗi chúng sanh, Bồ Tát phải học tất cả các thiện pháp, các pháp mầu Phật đạo, tư lương Bồ đề Bồ Tát... để có đủ trí tuệ, các biện tài, các thần thông... mà hóa độ chúng sanh, thanh tịnh quốc độ.

Kinh bảo Nếu đại Bồ Tát chẳng thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật thì chẳng bao giờ chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ. Vì sao? tư lương Bồ đề của các đại Bồ Tát nếu chưa đủ thì nhất định chẳng có thể đắc sở cầu quả vị Giác ngộ tối cao”.

Điều đó có nghĩa phải có đủ tư lương Bồ đề thì mới có thể chứng đắc sở cầu Quả vị giác ngộ, rồi sau đó mới có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh quốc độ. Vậy, điều kiện cần và đủ là phải có tư lương Bồ đề. Kinh bảo “các thiện pháp còn gọi là tư lương Bồ đề. Như vậy, các thiện pháp đóng một vai trò quan trọng trong việc tu Bồ Tát đạo. Không có các thiện pháp là không có Bồ Tát, không có Phật, không có Bồ đề Bồ Tát nói chi đến giác ngộ mà cứu độ chúng sanh.

Đó là lý do tại sao chúng tôi tách các thiện pháp ra làm thành một phần riêng biệt của thiên Tổng luận này, lấy tên là “các pháp mầu Phật đạo”. Kinh một lần nữa trước khi chấm dứt, nhấn mạnh vai trò của các thiện pháp cũng gọi là tư lương Bồ đề Bồ Tát hay các pháp mầu Phật đạo...

Ở phẩm này Kinh nhấn mạnh vai trò của các thần thông Ba la mật là phương tiện thiết yếu giúp Bồ Tát trong việc cứu độ chúng sanh. Ngoài ra một số pháp quán như quán bất tịnh, quán từ bi, quán duyên khởi, quán giới phân biệt, quán hơi thở, v.v… cũng tích cực giúp phần giáo hóa hữu tình trên con đường cải thiện tâm linh để được giác ngộ. Nên tất cả pháp đó được xem là Bồ Tát đạo.

 

Phẩm “Các Tướng Công Đức” quyển 380 chúng tôi đã giải thích chi tiết trong phần thứ I Tổng luận đã liệt kê và giải thích rõ ràng rồi. Nay, xin lặp lại một đoạn kinh khác nói về “Các thiện pháp hay tư lương Bồ Tát” với chi tiết hơi khác để Quý vị hiểu biết thêm:

 “... hoặc nhân duyên cho đến tăng thượng duyên; hoặc khổ tập diệt đạo Thánh đế; hoặc vô minh cho đến lão tử; hoặc nội không cho đến vô tánh tự tánh không; hoặc chơn như cho đến bất tư nghì giới; hoặc bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật; hoặc bốn niệm trụ cho đến tám Thánh đạo chi; hoặc bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; hoặc tám giải thoát, chín định thứ lớp; hoặc không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn; hoặc tất cả Đà la ni môn, Tam ma địa môn; hoặc năm nhãn, sáu thần thông; hoặc Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; hoặc pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả; hoặc Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa; hoặc Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa; hoặc Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí; hoặc Bồ Tát hạnh; hoặc Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác; hoặc đoạn giới cho đến vô vi giới; hoặc pháp thiện pháp bất thiện; hoặc pháp hữu ký pháp vô ký; hoặc pháp học pháp vô học, pháp phi học phi vô học; hoặc Phật đã thuyết ra pháp luật; hoặc Bồ đề, hoặc Niết Bàn...”, tất cả pháp ấy là các thiện pháp còn gọi là tư lương Bồ đề Bồ Tát hay Bồ Tát đạo hay còn gọi là 81 danh tướng Bát nhã Ba la mật. Vì vậy, Đại Bát Nhã Ba La Mật mới được xem là một đại tùng thư bao gồm tất cả các pháp mầu Phật đạo.

Tóm lại tất cả pháp môn thuyết giảng trên cũng có thể xem như các tướng công đức hay phương tiện Tịnh độ v.v… Vì hành tất cả các pháp môn này thì Giác ngộ, thành thục hữu tình, thanh tịnh Phật độ, đạt Nhất thiết trí trí và chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, chuyển pháp luân độ vô lượng chúng sanh.

Nội dung phẩm này thật sự chỉ ôn lại các pháp tu chẳng có gì mới mẻ ở đây. Phẩm này tương đối dễ đọc dễ hiểu, chỉ có giáo lý sau đây đáng lưu ý đối với người hành trì Bát nhã Ba la mật, cần nêu ra:

“Phật bảo:

Thiện Hiện nên biết! Không chẳng thể nhiễm các pháp, cũng không có các pháp năng nhiễm được không. Vì sao? Trong tánh không, không còn bất khả đắc huống chi có các pháp khác có thể nhiễm trước không. Như vậy, gọi là bất khả đắc không. Các đại Bồ Tát an trụ trong đây năng chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, vì các hữu tình thường làm nhiêu ích”.

Thâm nhập được pháp không rồi dùng pháp không để thấy chơn như thật tướng của tất cả pháp, nên chẳng chấp không cũng chẳng chấp bất không. Vì tất cả pháp đều bất khả đắc và cái bất khả đắc đó cũng không nốt nên gọi là bất khả đắc không, có như vậy mới được tận không.

Khi nói trên bầu trời chỉ có một mặt trăng thật, nên được xem như chân lý, vì chân lý thì chỉ có một. Còn trăm ngàn bóng trăng trên ao hồ sông biển khắp thế giới, chỉ là bóng trăng, không thật nên bảo tất cả bóng trăng chỉ là râu ria của chân lý. Khi thâm nhập được pháp không rồi, thì trăng trên bầu trời cũng là không, là như huyễn như mộng. Đó mới thấy được tận không.

Như Ngài Long Thọ trong Đại Trí Độ Luận nói trẻ con ham thích thấy bóng trăng trong nước đem lòng ham muốn, nên đưa tay vớt trăng lên, nhưng không thể được mới đem lòng phiền muộn. Vì trăng trong nước là bất khả đắc (không thể nắm bắt). Vậy, trăng trên bầu trời là thật thì có thể với tay kéo xuống được chăng? Nhưng trăng trên bầu trời cũng chẳng phải là thật pháp vì duyên hội, nên bảo là không, cũng là bất khả đắc nốt. Tất cả pháp đều không, đều bất khả đắc cho dù là chân lý tối cao. Thấy như vậy mới thấy là “tận không”. Cũng vậy, bất khả đắc phải là bất khả đắc nốt, mới được gọi là bất khả đắc không./.

 

Một phút tư duy:

 

Khi học Kinh Đại Bát Nhã hay tất cả Kinh trong hệ Bát Nhã kể cả Đại Trí Độ Luận đều nói đến pháp không, tánh không, bản tánh không. Tất cả giáo lý, tất cả luận giải từ đầu đến cuối bất cứ quyển, bộ Kinh luận nào đều xoay quanh chủ đề này cốt giúp hành giả Bát Nhã thấu hiểu vạn hữu đều không để không còn bị hệ lụy(trói buộc)bởi nó mà được giải thoát.

Trong suốt quá trình hành đạo của Phật Thích Ca Mâu Ni suốt 45 năm (có chỗ nói là 49 năm) thuyết pháp độ sinh, thì hết 22 năm Phật thuyết Bát Nhã tức thuyết cái không này. Phật bảo quá nhiều lần Kinh này là mẹ của chư Phật, sanh ra tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Chư Phật học Kinh này chứng thật tướng tánh không, giác ngộ mới trở thành Như Lai Chánh Đẳng Chánh giác.

Do đó, học Bát Nhã mà không nhập được tánh không, làm sao giáo ngộ. Quyển 388, phẩm “Bất Khả Động”, Hội thứ I, ĐBN, nói rằng:

“Còn Đệ nhất nghĩa đế thì không sanh, không diệt, không tướng, không tác, không hý luận, không phân biệt. Thắng nghĩa đế tức là bản tánh không. Bản tánh không này tức là sở chứng của chư Phật, cũng gọi là Phật đạo. Trong ấy chúng sanh bất khả đắc, cho đến người thấy, người biết bất khả đắc; sắc, thọ, tưởng, hành, thức bất khả đắc cho đến tám mươi tùy hình hảo bất khả đắc. Tại sao? Vì đại Bồ Tát chẳng phải vì đạo pháp mà cầu Vô Thượng Bồ Đề. Đại Bồ Tát vì chư pháp thật tướng tánh không mà cầu Vô Thượng Bồ Đề. Tánh không ấy, tiền tế, hậu tế và trung tế đều tánh không! Thường là tánh không, chưa từng chẳng không”.

Tất cả pháp là không, Bát Nhã cũng không, Phật cũng không, Đệ nhất nghĩa đế cũng không, và pháp nào cao hơn Niết bàn thì Thiện Hiện bậc giải không bậc nhất thời Phật cũng nói là như huyễn như mộng. Như huyễn như mộng cũng không nốt.

Vì ái pháp, vì tôn sùng Phật là bậc Tối thượng, nên không ai dám nói Phật là không, nhưng không riêng thiền sư đã nhập được pháp không rồi mới mạnh miệng nói “Phật không, Bồ Tát không, chúng sanh cũng không nốt” mà Kinh Đại Bát Nhã đã từng tuyên nói như thế. Đó là cái đáng kinh, đáng khủng của Bát Nhã Tánh Không đối với người mới phát tâm. Chỉ có những người hiểu thấu cái không này, bậc thượng căn thượng phẩm, đã thường gần gũi ba ngàn thiện trí thức, đã nhiều đời phụng sự tôn thờ, cung kính cúng dường không biết bao nhiêu đời Phật, mới dám nói nhất thiết pháp đều không, thường là tánh không, chưa từng chẳng không.

Cũng vậy, có ai dám nói cõi Tịnh Độ phương Tây là KHÔNG, Phật A Di Đà cũng KHÔNG? Ngày nào còn thấy CÓ dù là một hạt bụi thì ngày đó chưa thấy KHÔNG nói chi đến cái TẬN KHÔNG. Phòng sạch không còn bụi là nhờ chổi, nhưng còn chổi thì phòng cũng chưa được gọi là trống không.

Thần Tú một môn đồ suất sắc của Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn chủ trương tâm như tấm gương đài, ngày ngày phải lau cho sạch bụi, trong khi Huệ Năng chỉ là một gã tiều phu, còn là một cư sĩ chưa xuống tóc, chỉ tu chưa được một năm lại cho rằng tâm không phải vật, nên không cần phải lau bụi, tự nó không uế không tịnh, tự nó tự do tự tại, tự quang minh. Vì vậy, chiếc áo pháp của Phật mới được trao vào tay Huệ Năng. Một người chủ trương tư sanh, một người chủ trương bản hữu. Bản hữu là cái tự có tự chiếu sáng, không uế không tịnh.

 Khi còn thấy cõi này là uế, cõi kia là tịnh thì chưa nhập được Tánh Không. Khi không còn thấy bờ này, bờ kia mà cũng không thấy giữa, thấy tất cả thường không, chẳng lúc nào chẳng không, và cũng không chấp cái không này thì thấy Tánh Không Bát Nhã./.

 

 

---o0o---


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,281,820