Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

84. Phẩm “Tánh Không”

17/09/202015:45(Xem: 4388)
84. Phẩm “Tánh Không”

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***


buddha-459


PHẨM “TÁNH KHÔNG”

Phần cuối quyển 478, Hội thứ II, ĐBN.

(Tương đương phẩm “Pháp Tánh Vô Động”, phần sau Q.397, Hội thứ I, ĐBN)

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

Gợi ý:

Kết thúc Hội thứ I, Phật thuyết ba phẩm: “Bồ Tát Thường Đề”, “Bồ Tát Pháp Dũng” và “Kết Khuyến”. Trong Phẩm “Bồ Tát Pháp Dũng” thuyết nhiều về Tánh không để kết thúc pháp hội này. Pháp hội thứ II không có ba phẩm này nhưng có phẩm “Tánh Không” hay “bản tánh không” để thay thế.

Phẩm “Tánh Không” của Hội thứ II, ĐBN tương đương với phẩm thứ 87, “Như Hóa”, tập 5, quyển 96 của Đại Trí Độ Luận.

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Nếu các pháp bình đẳng đều bản tánh không, bản tánh không đây đối tất cả pháp chẳng phải năng tác sở tác, đại Bồ Tát làm sao khi hành sâu Bát nhã Ba la mật chẳng động thắng nghĩa dùng bốn nhiếp sự nhiêu ích hữu tình?

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Như vậy, như vậy! Tất cả pháp tánh bình đẳng đều bản tánh không, bản tánh không đây đối tất cả pháp chẳng năng sở tác, nhưng các Bồ Tát vì hữu tình đem bố thí thường làm việc nhiêu ích. Nếu các hữu tình tự biết các pháp đều bản tánh không, thời các Như Lai và các Bồ Tát chẳng hiện thần thông làm việc hy hữu. Nghĩa là đối trong các pháp bản tánh không dù không sở động mà khiến hữu tình xa lìa vọng tưởng điên đảo, nghĩa là khiến các hữu tình xa lìa tưởng ngã, tưởng hữu tình, cho đến tưởng tri giả, kiến giả. Cũng khiến xa lìa tưởng sắc cho đến thức. Tưởng nhãn xúc cho đến ý xúc. Tưởng nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ. Tưởng địa giới cho đến ý thức giới. Tưởng vô minh cho đến lão tử. Cũng khiến xa lìa tưởng hữu vi giới, trụ vô vi giới giải thoát tất cả sanh lão bệnh tử. Vô vi giới ấy tức các pháp không, nương thế tục nói danh vô vi giới.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Do cái gì không nên nói các pháp không?

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Do tưởng không nên nói các pháp không.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao? Nếu thân biến hóa lại làm việc hóa, đây có thật mà chẳng phải không chăng?

Thiện Hiện thưa rằng:

- Bạch Thế Tôn! Các điều biến hóa đều không thật có, tất cả đều không.

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Biến hóa và không, hai pháp như thế chẳng hợp chẳng tan. Vì hai pháp đây đều “không không” nên “không” chẳng nên phân biệt cái này không, cái này hóa. Vì sao? Vì chẳng phải trong tánh không có không có hóa hai việc khá được, vì tất cả pháp rốt ráo không vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Không có sắc nào mà chẳng phải hóa; không có thọ, tưởng, hành, thức nào mà chẳng phải hóa. Các pháp hóa này đều không. Các pháp khác, hữu tình cũng phải biết như vậy.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Các pháp thế gian như uẩn, giới, xứ v.v… và các hữu tình đều là hóa. Pháp xuất thế gian như bốn niệm trụ v.v… và các hữu tình lẽ nào cũng lại là hóa nốt?

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều là biến hóa, nhưng trong đó, có pháp là sở hóa của Thanh văn, có pháp là sở hóa của Độc giác, có pháp là sở hóa của Bồ Tát, có pháp là sở hóa của Như Lai, có pháp là sở hóa của phiền não, có pháp là sở hóa của thiện pháp. Do nhân duyên này mà Ta nói là tất cả pháp đều như biến hóa như nhau không sai khác.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Tất cả quả đoạn trừ như là quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, Như Lai, đoạn trừ hẳn phiền não tập khí nối nhau, lẽ nào cũng là hóa?

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Các pháp nếu cùng hai tướng sanh diệt hợp nhau, thì đều là hóa. Nếu pháp chẳng cùng với tướng sanh diệt hợp nhau, pháp ấy chẳng phải hóa.

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Pháp nào là pháp chẳng phải là hóa?

- Này Thiện Hiện! Pháp chẳng hư dối tức là Niết bàn. Pháp này chẳng hợp với tướng sanh diệt, vì vậy chẳng phải là hóa.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Như Thế Tôn đã nói, pháp tánh bình đẳng, tất cả đều không, không lay động, không hai có thể nắm bắt được, không có pháp nhỏ nào chẳng phải là tự tánh không, thì tại sao nói Niết bàn chẳng phải là hóa?

- Này Thiện Hiện! Không có bất cứ một pháp nào dù nhỏ nhặt bằng đầu mảy lông mà tự tánh chẳng không, tự tánh không này không do ai làm ra, tánh nó thường không, đây tức là Niết bàn. Vì không ai làm ra, tự tánh thường không, chẳng lúc nào chẳng không, nên mới gọi là Niết bàn. Niết bàn là vô sanh, vô diệt, phi hóa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ta vì các Bồ Tát tân học nói Niết Bàn chẳng phải hóa, chẳng riêng thật có bất không Niết Bàn. Vậy nên, chẳng nên chấp đây làm nạn.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bèn thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Dùng phương tiện nào dạy bảo trao truyền tân học Bồ Tát khiến biết các pháp tự tánh thường không?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Đâu tất cả pháp trước có sau không mà chẳng thường không? Nhưng tất cả pháp trước đã chẳng phải có, sau cũng chẳng phải không, tự tánh thường không, chẳng nên kinh sợ. Nên dùng phương tiện khéo léo như thế dạy bảo trao truyền tân học Bồ Tát khiến biết các pháp tự tánh thường không.

Khi Thế Tôn thuyết Kinh này rồi, vô lượng chúng đại Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát làm thượng thủ, cụ thọ Thiện Hiện và Xá Lợi Tử, Đại Thái Thục Thị Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp Ba, A Nan Đà v.v…, các Đại Thanh Văn và các Thiên Long, A tu la thảy tất cả đại chúng nghe Phật đã thuyết đều vui mừng lớn, tín thọ phụng hành.

 

Sơ giải:

 

Phẩm này có nhiều giáo lý khác nhau, nên tùy theo từng giáo lý chúng tôi chia ra nhiều đoạn để chiết giải:

 

1. “Các điều biến hóa đều không thật có, tất cả đều không”.

Tất cả pháp đều do duyên hợp, không có tự tánh nên bảo là không hiến chi các pháp do biến hóa. Nên nói “Các điều biến hóa đều không thật có, tất cả đều không”.

Tất cả pháp đều duyên hợp, giả có, nên nói là không. Các hóa vật do huyễn sư hay đệ tử y làm ra cũng như hóa, không thật, nên gọi là không. Cả hai đều không, trong tất cả không không có phân biệt là “không” hay “hóa”. Tất cả đều bất khả đắc, nên nói rốt ráo đều không.

 

2. “Pháp tánh bình đẳng, tất cả đều không”. Để giải thích điểm nầy, Đại Trí Độ Luận nói rằng:

“Ngài Tu Bồ Đề biết rõ hết thảy pháp tướng đều rốt ráo không, nên ngài hỏi Phật: Các pháp bình đẳng chẳng có tướng tạo tác; việc làm lợi ích chúng sanh là có tướng tạo tác. Như vậy, làm sao Bồ Tát trú trong không, trong vô tác, mà lại thường làm lợi ích cho chúng sanh?

Phật ấn chứng chỗ hỏi của ngài Tu Bồ Đề, và dạy: Làm việc lợi ích cho chúng sanh nghĩa là giáo hóa họ, khiến họ biết rõ được các pháp bình đẳng là rốt ráo không, để có thể tự độ cho chính mình, mà chẳng phải nhờ đến ân đức của Phật. Ví như người bệnh tự biết được bệnh của mình, tự tìm lấy thuốc để trị bệnh cho mình, thì chẳng cần phải nhờ đến thầy thuốc nữa”.

Tại sao nói “các pháp bình đẳng là rốt ráo không?” Nếu chúng sanh biết rõ như vậy là có thể tự độ cho chính mình?

Theo các nhà địa chất học muốn đo núi cao bao nhiêu thì lấy mặt biển làm chuẩn, chuẩn của mặt biển ở độ cao 0 mét. Thí dụ núi Trường Sơn so với mặt biển Đông cao nhất là 2.819 mét, người ta nói cao độ của Trường Sơn là 2.819 mét. Núi Hi mã lập sơn, ngọn Everest có độ cao nhất là 8.848 mét so với mặt biển Ấn độ dương. Nhưng, mặt biển ở bất nơi nào trên thế giới dù là biển Đông hay biển Tây đều có một mực độ ngang nhau, bình đẳng là 0 mét. Pháp tánh bình đẳng rốt ráo là không cũng lại như thế.

Chúng ta biết rằng thập nhị chơn như gồm chơn như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh, thật tế, tánh không, Như Lại tạng, pháp thân, Phật tánh… bình đẳng như như. Như đó tức là không, nên Kinh bảo là “Pháp tánh bình đẳng, tất cả đều không”.

 

3. Tất cả pháp tánh bình đẳng đều bản tánh không, bản tánh không đây đối tất cả pháp chẳng năng tác sở tác…”

Bởi vì là không, không có y chỉ, nên không thể nương gá, đình trú, bám vúi… thì làm gì có năng tác sở tác. Tác giả còn không hiến chi sở tác. Khi nhập pháp không, pháp như và sống trong đệ nhất nghĩa đế tâm như  như bất động, tức lìa ngôn ngữ, tâm hành dứt, bặt hý luận thì không còn thi vi tạo tác nữa.

 

4. “Không có sắc nào mà chẳng phải hóa; không có thọ, tưởng, hành, thức nào mà chẳng phải hóa. Các pháp hóa này đều không. Các pháp khác, hữu tình cũng phải biết như vậy”.

“Tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều là biến hóa, nhưng trong đó, có pháp là sở hóa của Thanh văn, có pháp là sở hóa của Độc giác, có pháp là sở hóa của Bồ Tát, có pháp là sở hóa của Như Lai, có pháp là sở hóa của phiền não, có pháp là sở hóa của thiện pháp. Do nhân duyên này Ta nói là tất cả pháp đều như biến hóa như nhau không sai khác”.

Để giải thích điểm này Đại Trí Độ Luận nói:

“Phàm phu chấp các pháp là thật có, mà chẳng biết rằng các pháp là không, là chẳng thật có, là như hóa.

Phật nêu lên các thí dụ để cho họ thấy rằng hết thảy các pháp đều là như hóa; hết thảy pháp cùng hóa chẳng có sai khác vậy.

Phật dạy: Sắc tức là hóa; thọ, tưởng, hành và thức tức là hóa… dẫn đến nhất thiết chủng trí tức là hóa.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Nói pháp phàm phu là hư vọng, là như hóa, thì còn hợp lý. Vì sao cũng nói các pháp xuất thế gian là như hóa?

Nếu pháp xuất thế gian đều như hóa, thì Niết Bàn cũng là như hóa; Các quả Thanh Văn, quả Bích Chi Phật… dẫn đến quả Phật cũng là như hóa chăng?

Phật dạy: Hết thảy các pháp hữu vi và vô vi đều là như hóa. Tất cả các bậc Thánh Hiền… dẫn đến Phật cũng đều là như hóa, đều là rốt ráo không cả.

Nghĩa này, Phật đã dạy rõ ở các phẩm trước rồi. Nay chỉ rộng nói thêm rằng “ Hết thảy pháp đều là như hóa”.

Hỏi: Nếu các pháp đều là như hóa, thì làm sao phân biệt có các pháp sai khác?

Đáp: Ví như Phật hóa hiện ra các người hóa. Các người hóa, tuy chẳng phải là thật có, nhưng cũng có những tướng mạo khác nhau, có những tâm tư tình cảm khác nhau, như có xấu, có đẹp, có buồn, có vui, có sợ hãi, có an ổn v.v… Hết thảy các pháp đều ví như bóng trong gương. Tuy có hình tướng sai nhau, mà đều là chẳng thật có.

Phật dạy: Hết thảy pháp đều là biến hóa. Pháp Thanh Văn biến hóa, pháp Bích Chi Phật biến hóa, pháp Bồ Tát biến hóa… dẫn đến pháp Phật là biến hóa. Lại có các pháp phiền não biến hóa, nên có các pháp nghiệp nhân duyên biến hóa. Vì Thanh Văn biến hóa, nên 4 niệm xứ… dẫn đến 8 thánh đạo biến hóa, 4 thánh đế… dẫn đến ba giải thoát môn biến hóa. Vì sao? Vì người tu pháp Thanh Văn, trú trong giới luật, trong thiền định nhiếp tâm cầu Niết Bàn, quán nội ngoại thân bất tịnh, nên gọi là thân niệm xứ. Đây là vì cầu Niết Bàn mà siêng năng, tinh tấn tu tập, sanh khởi các pháp ấy. Các pháp ấy, ngay từ căn bản, vốn là không, vốn không mà nay trở thành có; nay có rồi lại trở lại thành không. Như vậy gọi là Thanh Văn biến hóa.

Người tu Bích Chi Phật đạo, do quán 12 nhân duyên mà được đạo. Như vậy gọi là Bích Chi Phật biến hóa.

Người hành Bồ Tát đạo, do tu đầy đủ 6 pháp Ba La Mật, mà được đầy đủ các quả báo thần thông, đầy đủ các Phật pháp. Như vậy gọi là Bồ Tát biến hóa.

Phật biến hóa thành tựu đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, 10 Phật lực… dẫn đến nhất thiết chủng trí; Ở nơi vô lượng Phật pháp đều được bình đẳng.

Phiền não biến hóa là do phiền não mà khởi sanh ra các nghiệp; Trong đó có nghiệp thiện, nghiệp bất thiện, nghiệp vô ký. Là còn có nghiệp định, nghiệp bất định, nghiệp bất động hoặc thiện hoặc ác, cùng vô lượng nghiệp khác”.

 

5. “Các pháp nếu cùng hai tướng sanh diệt hợp nhau, thì đều là hóa. Nếu pháp chẳng cùng với tướng sanh diệt hợp nhau, pháp ấy chẳng phải hóa”.

 

Để giải thích điểm tế nhị khó khăn này, Đại Trí Độ Luận nói:

Phật dạy: Các pháp có sanh, có diệt đều là như hóa. Vì sao? Vì các pháp ấy trước là  không, nay là có; nay có rồi lại trở thành không, nên là như hóa, chỉ làm cho tâm người lầm chấp mà thôi.

Ý Phật muốn nói rằng hết thảy pháp đều do nhân duyên sanh, chẳng có tánh, nên là rốt ráo không, là như hóa vậy.

Ngài Tu Bồ Đề cầu thật tướng pháp, muốn hiểu được rõ hơn, nên lại hỏi Phật: Có pháp gì chẳng phải như hóa chăng?

Ý ngài Tu Bồ Đề muốn nói rằng ắt phải có 1 pháp quyết định chẳng phải như hóa, thì mới có thể nương theo đó mà tinh tấn tu hành vậy.

Phật dạy: Pháp chẳng sanh, chẳng diệt là pháp chẳng như hóa. Chỉ có Niết Bàn là pháp chẳng phải là tướng hư vọng, là pháp chẳng có biến hóa.

Pháp này chẳng có sanh (vô sanh), nên là chẳng có diệt (vô diệt). Do pháp này chẳng diệt, nên chẳng làm cho người tu sanh ưu bi, buồn khổ.

Như vậy là Phật phân biệt nói hết thảy các pháp đều là rốt ráo không, là hư hóa; duy chỉ có Niết Bàn là chẳng phải như hóa.

Ngài Tu Bồ Đề thưa: Như lời Phật dạy thì pháp bình đẳng chẳng phải do Thanh Văn làm ra, chẳng pháp do Bích Chi Phật làm ra, chẳng phải do Bồ Tát làm ra… dẫn đến chẳng phải do Phật làm ra; dù có Phật hay chẳng có Phật thì tánh của pháp vẫn thường trú, thường không, mà tánh không tức là Niết Bàn.

Ý ngài Tu Bồ Đề muốn nói “Nếu thâm nhập vào trong Bát nhã Ba la mật, thì Niết Bàn cũng là không. Như vậy vì sao nay Phật lại dạy Niết Bàn là như hóa?”

Suy nghĩ như vậy, nên ngài dẫn lời Phật để hỏi lại: Thật tướng các pháp là tánh không, là pháp thường trú, mà chư Phật chỉ vì chúng sanh diễn nói tánh không tức là Niết Bàn. Nay vì sao ở nơi các pháp sanh diệt mà nói tướng không tức là tướng Niết Bàn, và nói Niết Bàn là chẳng như hóa?

Phật dạy: Các pháp bình đẳng là thường trú, chẳng phải do chư Thánh làm ra… dẫn đến chẳng phải do chư Phật làm ra. Nếu các Bồ Tát tân học nghe như vậy mà sanh sợ hãi, thì phải nên vì họ nói các pháp sanh diệt là như hóa, các pháp chẳng sanh diệt là chẳng như hóa.

Đây chỉ vì hàng tân học Bồ Tát mà Phật nói Niết Bàn là chẳng phải như hóa.

Hỏi: Như vậy là vì tùy đối tượng (người nghe) mà chuyển các pháp tướng chăng?

Đáp: Phật thường nói “Các pháp tướng là tánh không, mà tánh không thì chẳng làm sao có thể chuyển được”.

Lúc ban đầu, khi vừa mới thành đạo, chứng được thật tướng các pháp, Phật chỉ muốn hướng về Niết Bàn tịch diệt. Lúc bấy giờ, chư Thiên ở các cõi Phật khắp 10 phương đồng thỉnh Phật chớ nên vào Niết Bàn, và nên vì hết thảy chúng sanh trụ lại ở đời này, nhằm độ thoát hết thảy chúng sanh thoát khỏi các khổ.

Trong suốt thời gian thuyết pháp, độ sanh, Phật đã tùy thuận theo từng đối tượng chúng sanh mà phương tiện nói pháp.

Phật dạy chúng sanh tu tập, hướng về Niết Bàn tịch tịnh. Thế nhưng có nhiều vị Bồ Tát sơ phát ý, khi quán hết thảy các pháp đều là hư vọng, chỉ riêng có Niết Bàn là chẳng biến đổi, nên họ liền khởi tâm chấp Niết Bàn. Do nơi tâm chấp đó mà khởi sanh các phiền não, chẳng còn muốn có độ sanh nữa. Đối với những Bồ Tát sơ phát ý này, Phật nói “Niết Bàn là như hóa”.

Như vậy, đối với hạng người chẳng có chấp tâm, thì Phật dạy họ rằng “Niết Bàn chẳng phải như hóa”.

Nói như vậy là để hai hạng Bồ Tát xả tâm chấp Niết bàn thì chẳng có lỗi.

 

6. Dùng phương tiện nào dạy bảo trao truyền tân học Bồ Tát khiến biết các pháp tự tánh thường không?

“Không có bất cứ một pháp nào dù nhỏ nhặt bằng đầu mảy lông mà tự tánh chẳng không, tự tánh không này không do ai làm ra, tánh nó thường không, đây tức là Niết bàn. Vì không ai làm ra, tự tánh thường không, chẳng lúc nào chẳng không, nên mới gọi là Niết bàn. Niết bàn là vô sanh, vô diệt, phi hóa”.

Luận Đại Trí Độ giải thích câu hỏi cuối cùng như sau:

“Ý ngài Tu Bồ Đề muốn nói rằng “Phàm phu rất sợ hãi khi nghe nói các pháp là tánh không. Khi họ nghe nói tánh không, tánh vô sở hữu của các pháp, họ tự xem mình như rơi xuống hầm sâu thăm thẳm.

Vì sao? Vì người chưa được đạo, do tâm chấp sâu dày, nên vừa nghe nói đến pháp không, thì liền sanh tâm sợ hãi, nghĩ rằng “Phật dạy người đời phải nên hành các thiện pháp. Nhưng nếu rốt ráo sau cùng, ai cũng trở về trong không, trong vô sở hữu, thì hành đạo đâu có sự lợi ích gì?

Phật dạy: Đối với hạng người này, nên nói “Các pháp trước có, nay không”.

Ý Phật muốn nói rằng “Vì các Bồ Tát tâm phát ý này sợ hãi về sau cùng sẽ không, nên phải vì họ nói các pháp trước có, nay không”.

Nói như vậy có nghĩa là ở ngay hiện tại, nếu biết được thật tướng các pháp, thì liền thấy các pháp là không vậy”.

Ngài Tu Bồ Đề đã biết rõ các pháp từ trước vốn là không, nay cũng là không. Chỉ vì các Bồ Tát tân phát ý, do bị phiền não che tâm, mà sanh sợ hãi. Nếu trừ được tâm chấp điên đảo của họ, khiến họ thấy được chỗ rốt ráo không, biết được thật tướng của phiền não cũng là rốt ráo không, thì chẳng còn sợ hãi nữa.

Bởi vậy, phải nên dạy các Bồ Tát tân phát ý rằng “Các pháp trước có, do hành đạo mà nay mới được không, chớ nên sợ hãi”. Vì sao? Vì các pháp từ ban đầu vốn đã là không rồi, nên chẳng có gì mà phải sợ hãi. Chỉ cần trừ tâm chấp là thấy rõ như vậy”.

 Để giải rộng Kinh, Bồ Tát Long Thọ không ngại diễn dịch ý của Tu Bồ Đề, cũng như diễn dịch ý của Phật không những trong phẩm này mà còn trong toàn bộ Hội thứ II của Đại Bát Nhã, có tên là MHBNBLMĐ. Chúng tôi hy vọng những chú giải trên đem lại kết quả tốt cho Quý vị trong việc thấu hiểu pháp Hội thứ II này.

Chúng ta thành kính cám ơn Ngài không ngại gian khổ xiển dương Kinh này để chúng ta có dịp thọ trì kho tàn trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật như ngày hôm nay!

 

---o0o---

 

 

Đến đây chấm dứt phần hai,

(Hội thứ II)

 

Hội thứ I tổng cộng có đến 400 quyển, Hội thứ II ngắn gọn hơn, chỉ có 78 quyển bắt đầu từ quyển thứ 401 cho đến quyển 478, thiếu ba phẩm: “Bồ Tát Thường Đề”, “Bồ Tát Pháp Dũng” và phẩm “Kết Khuyến”. Tuy nhiên, giáo lý hạnh quả, tu chứng cùng kỹ thuật tu trì quán tưởng… của hai Hội như nhau. Điểm đáng lưu ý là Hội thứ II cô động, rõ ràng, chúng tôi mặc dù nói là tóm lược, nhưng thật sự chẳng tóm lược mấy. Toàn bộ Kinh văn thuộc Hội thứ II, gần như giữ “nguyên chất”, hơn 90%.

Nếu tụng hết phần tóm lược 400 quyển của Hội thứ I, quý vị gặp nhiều trở ngại, không nắm được đầu mối (tổng quát), Hội thứ II bổ túc và giúp ích rất nhiều. Tuy nhiên, nếu tụng phần thứ II còn trở ngại nữa thì quý vị có thể tụng Kinh MHBNBLMĐ của Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn sang Hán và HT Thích Trí Tịnh dịch từ Hán sang Việt. Vì Kinh MHBNBLMĐ do Phật thuyết ở Hội thứ II cũng được gọi là đại phẩm như  Hội thứ I vậy. Nếu tụng Kinh MHBNBLMĐ còn trở ngại nữa thì nên tụng thêm Đại Trí Độ Luận của Bồ Tát Long Thọ, cũng do nhóm của Tam tạng Cưu Ma La Thập dịch. Chúng tôi tụng cả bốn!

Khi chiết giải Hội thứ I chúng tôi có nói dùng Kinh MHBNBLMĐ làm khung, so chiếu từ chi tiết đến tổng quát của từng phẩm, để giúp Quý vị nắm vững Hội thứ I, ĐBN mà không than phiền tác giả dẫn mình vào rừng, mà “mình nói không thấy rừng, chỉ thấy lá và cây”.

Đồng thời để giúp độc giả nắm vững Hội thứ II, ở mỗi phẩm của Hội này, chúng tôi có ghi phẩm tương đương với Hội thứ I và phẩm tương đương của Đại Trí Độ Luận để quý vị dễ tra cứu. Công việc tuy nhiêu khê, nhưng rất hữu ích cho độc giả rất nhiều. Vì văn từ cũng như lối dịch thuật trong mỗi Hội rất khác nhau, có thể gây trở ngại cho sự hiểu biết. Trong sáu Hội đầu, chỉ cần nắm vững một Hội là hiểu tất cả.

Chúng tôi lưu ý độc giả kinh nghiệm quý báo này: Hội thứ I quản diễn và trùng tụng quá nhiều so với bất cứ Hội nào trong 16 Hội ĐBN nên việc thọ trì trở nên khó khăn. Trong khi Hội thứ II cũng được xem là đại phẩm (hay đại bản) như Hội thứ I, nhưng các phẩm của Hội này đặc biệt lại ngắn gọn, dễ hiểu hơn. Nên chúng tôi thường dùng Hội thứ II để ôn tập. Kèm theo đó chúng tôi cũng đọc thêm Kinh MHBNBLMĐ do HT Thích Trí Tịnh dịch và Đại Trí Độ Luận để nắm vững sáu Hội đầu của Kinh ĐBN. Đây là phần căn bản để học tập các giáo lý Bát Nhã, và các pháp mầu Phật đạo để phát khởi trí tuệ.

Quý vị nào đã chịu khó theo dõi đọc tụng đến đây đã thật sự tinh tấn lắm rồi. Từ Hội thứ VI trở đi, giáo lý Kinh ĐBN hoàn toàn thay đổi, sẽ cho chúng ta một lối lãnh hội mới, trong khi 5 Hội đầu chỉ đặt nền móng. Nhưng không có nền móng làm sao có thể xây dựng dù là lâu dài trí tuệ, nên phải cố gắng thôi.

 

Hội thứ III kế tiếp, chúng tôi chỉ tóm lược. Tuy nhiên, trên mỗi phẩm tựa của Hội thứ III, chúng tôi có ghi các phẩm tương đương với Hội thứ I và Hội thứ II để quý vị tiện việc đối chiếu, tra cứu nếu cần. Hội thứ III này ngắn hơn hai Hội trước, chỉ có điều là Hội thứ III, các phẩm hơi dài vì thường nhập nhiều phẩm của Hội thứ II thành một phẩm duy nhất, nên sự đọc tụng có thể làm độc giả không được thoải mái như Hội thứ II.

Cũng nên nói trước, nếu Quý vị trì tụng Hội thứ I và Hội thứ II kỹ rồi, Hội thứ III chỉ cần đọc lướt qua thôi, chúng tôi không lược giải Hội thứ III, Quý vị tự đọc và tự chiết giải lấy để xây dựng trí tuệ cho chính mình. Chúng tôi hy vọng Quý vị có thể làm được việc này nếu đã đọc tụng thọ trì kỹ hai Hội đầu.

Giáo pháp của 6 Hội đầu giống nhau, có thể làm độc giả chán nản, mỏi mệt mà “bỏ cuộc” nửa chừng? Kinh nầy được xem là mẹ của chư Phật, sanh ra tất cả pháp thế gian, xuất thế gian, chắc chắn sẽ mang lại nhiều diệu dụng. Điều cần nhất của người học đạo là phải siêng năng trì tụng. Tụng nhiều sẽ ru ngủ được các cảm quan và thức vọng sanh diệt, và cũng nhờ sự tụng đọc lâu ngày tâm sẽ sạch trí sẽ sáng thôi.

 

 

Đến đây chấm dứt Hội thứ II. ĐBN.

 

---o0o---

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,264,353