Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

75. Phẩm “Thắng Nghĩa Du Già” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

03/08/202012:10(Xem: 423)
75. Phẩm “Thắng Nghĩa Du Già” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

75. Thắng nghĩa du già

PHẨM “THẮNG NGHĨA DU GIÀ”(1)



Phần sau quyển 396 cho đến phần đầu quyển 397, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Bình Đẳng” quyển thứ 29, MHBNBLM)



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le



 

 




Gợi ý:

Trước khi chấm dứt Hội thứ I, với 400 quyển, chiếm 2/3 trong số 600 quyển Đại-Bát-Nhã, Phật nói các giáo lý tương ứng với cơ, cảnh, hành, lý, quả… của Kinh này với tên phẩm là “Thắng Nghĩa Du Già”. Đây là giáo pháp thậm thâm, “tháo đinh gở chốt” cho chúng ta. Cái gì chúng ta thắc mắc nghi ngờ thì phẩm này trả lời tất cả. Vậy phải tụng đọc tư duy và ghi nhớ kỹ.

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Những cái thấy là thật không nhiễm, không tịnh, những cái thấy là chẳng thật cũng không nhiễm, không tịnh. Vì sao? Vì tất cả pháp đều dùng vô tánh làm tự tánh.

- Bạch Thế Tôn! Các pháp vô tánh không nhiễm, không tịnh, các pháp có tánh cũng không nhiễm, không tịnh. Các pháp có tánh vô tánh cũng không nhiễm, không tịnh.

- Bạch Thế Tôn! Pháp vô tự tánh không nhiễm, không tịnh, pháp có tự tánh cũng không nhiễm, không tịnh; pháp có tự tánh, vô tự tánh cũng không nhiễm, không tịnh. Vì tất cả pháp đều dùng vô tánh làm tự tánh.

Nếu vậy tại sao Thế Tôn nói có pháp thanh tịnh?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ta nói tánh bình đẳng của tất cả pháp là pháp thanh tịnh.  

 

(Pháp nào là pháp bình đẳng?)

 

- Bạch Thế Tôn! Vậy tất cả pháp nào được coi là bình đẳng?

- Này Thiện Hiện! Các pháp chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì, dù Như Lai xuất thế hay chẳng xuất thế, tánh tướng thường trụ, đó gọi là tánh bình đẳng của tất cả pháp; tánh bình đẳng này gọi là pháp thanh tịnh; đây chỉ nương vào thế tục mà nói là thanh tịnh, chứ chẳng y cứ vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì trong thắng nghĩa đế, không có sự phân biệt, không có hý luận, tất cả ngôn ngữ danh tự đều dứt.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp như thấy trong mộng, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng nắng, như bóng sáng, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành(2), tuy hiện ra giống như có mà không thật có thì tại sao đại Bồ tát nương vào pháp phi chân như thế mà phát tâm cầu quả vị Giác ngộ tối cao, và phát nguyện: Ta sẽ viên mãn bố thí Ba-la-mật, ta sẽ viên mãn tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba-la-mật; ta sẽ viên mãn bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; ta sẽ viên mãn 37 pháp trợ đạo; ta sẽ viên mãn Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; ta sẽ viên mãn pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; ta sẽ viên mãn Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí; ta sẽ viên mãn ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc; ta sẽ phát khởi Vô lượng quang minh chiếu khắp vô biên thế giới trong mười phương; ta sẽ phát khởi một loại âm thanh vi diệu khắp vô biên thế giới mười phương, tùy theo tâm, tâm sở, ý thích sai khác của các hữu tình mà vì họ nói các loại pháp môn vi diệu, khiến họ siêng tu học, chứng đắc lợi ích an lạc thù thắng?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao: Những điều mà ông đã thuyết đâu chẳng khác như mộng được thấy, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng nắng, như bóng sáng, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành?

Thiện Hiện đáp:

- Đúng vậy! Bạch Thế Tôn! Đúng vậy! Bạch Thiện Thệ! Nếu tất cả pháp như điều thấy trong mộng, nói đủ cho đến như ảo thành, đều không thật, thì tại sao đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, phát lời chắc thật: Ta sẽ viên mãn tất cả công đức lợi ích an lạc vô lượng hữu tình?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải điều thấy trong mộng… cho đến những vật loại hiện ra như ảo thành, có thể hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba-la-mật, huống là có thể viên mãn tất cả pháp như tứ thiền, tứ vô lượng , tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… hay tất cả pháp Phật khác?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải điều thấy trong mộng... cho đến những vật loại hiện ra trong ảo thành, có thể thành tựu tất cả việc làm theo ước nguyện. Tất cả pháp khác cũng giống như thế, đều chẳng phải thật?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Pháp chẳng phải thật có, chẳng có thể hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba-la-mật, huống là có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật có, nói chi đến việc hành bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, huống là có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật có, nói chi đến việc hành 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí huống có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật có, nói chi đến việc hành ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc, huống có thể viên mãn. Pháp chẳng phải thật, chẳng thể thành tựu việc làm theo nguyện ước, pháp chẳng phải thật có, chẳng thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ tối cao.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Vì bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba-la-mật chẳng phải thật có, nên chẳng thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ. Vì tất cả pháp Phật nói chung chẳng phải thật có, nên chẳng thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ.

- Này Thiện Hiện! Các pháp như thế, tất cả đều do tư duy tạo tác. Các pháp do tư duy tạo tác đều chẳng thể đắc Nhất thiết trí trí. Các pháp như thế đối với đạo Bồ đề, tuy có thể dẫn phát nhưng đối với kết quả không thể giúp ích gì. Do vì các pháp này không sanh, không khởi, không có thật tướng, nên các đại Bồ tát từ khi mới phát tâm, tuy khởi các pháp thiện của thân, ngữ, ý, đó là tu hành các pháp Phật nói chung, nhưng biết tất cả đều như mộng, như bóng, như vang, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành, đều chẳng phải thật.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Các pháp như thế tuy chẳng phải thật, nhưng nếu chẳng viên mãn thì nhất định chẳng có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, chứng đắc quả vị Giác ngộ. Các đại Bồ tát nếu chẳng viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã và tất cả các thiện pháp khác thì quyết định chẳng có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ tát ấy khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, hành tất cả thiện pháp đều như thật biết như mộng, như tượng, như vang, như ảnh, như bóng, như trò huyễn, như thân biến hóa, như ảo thành. Nếu các đại Bồ tát hành được như vậy, thì đối với tất cả pháp chẳng chấp thủ Có, chẳng chấp thủ Không. Vì sao? Vì bố thí Ba-la-mật chẳng thể nắm bắt, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã cũng chẳng thể nắm bắt; tất cả thiện pháp cũng chẳng có thể nắm bắt. Vì sao? Vì tất cả pháp đều chẳng thể nắm bắt, hoàn toàn không phải thật, giống như mộng, như thành bằng hương khói… chẳng thể nắm bắt mà cũng chẳng thể chứng đắc. Nhưng các hữu tình đối với các pháp như thế, chẳng biết chẳng thấy, đại Bồ tát, vì độ thoát các hữu tình nên cầu đạt đến quả vị Giác ngộ tối cao để hóa độ họ.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ tát ấy, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, thấy các phàm phu ngu si ở trong cái chẳng phải ngã mà chấp tưởng là ngã; ở trong cái chẳng phải hữu tình, mạng giả, sanh giả, dưỡng giả, sĩ phu, bổ đặc già la, ý sanh, nho đồng, tác giả, khiến tác giả, khởi giả, khiến khởi giả, thọ giả, khiến thọ giả, tri giả, khiến tri giả, kiến giả, khiến kiến giả(3) mà tưởng chấp là hữu tình, mạng giả v.v… Đại Bồ tát ấy, thấy như vậy vô cùng thương xót, phương tiện giáo hóa, khiến lìa điên đảo, vọng tưởng, chấp trước, an để trong cảnh giới cam lồ vô tướng; trụ trong cảnh giới ấy, chẳng khởi tưởng là ngã, cũng chẳng khởi tưởng chấp trước hữu tình, mạng giả v.v… Khi ấy, tất cả trạo cử, tán loạn, phân biệt, hý luận chẳng còn hiện hành, tâm thể an trụ cảnh giới an nhiên tịch lặng, vô hý luận.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ tát ấy, do phương tiện này tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, tự mình đối với các pháp không còn chấp trước, sạch các lậu hoặc, các tập khí tương tục, chỉ trong sát na tương ưng với diệu huệ thì “đắc” Vô Thượng Giác ngộ. Đây là nương vào thế tục mà nói, chẳng y vào thắng nghĩa. Trong thắng nghĩa năng đắc, sở đắc, đều bất khả đắc. Vì sao? Vì nếu bảo đắc pháp tức rơi vào hữu sở đắc. Kẻ hữu sở đắc bèn chấp có hai. Kẻ chấp hai chẳng năng đắc quả, cũng chẳng hiện quán, kẻ chấp không hai cũng lại như thế. Nếu không hai, không chẳng hai tức gọi đắc quả, cũng gọi là hiện quán. Vì sao? Vì chấp đây chấp kia đều là hý luận. Lìa hý luận mới gọi là bình đẳng. (Q.396, ĐBN)

Cụ thọ Thiện Hiện Bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều vô tánh, thì cái gì gọi là tánh bình đẳng của pháp?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Nếu ở nơi nào không nói hữu tánh, cũng không nói vô tánh, cũng chẳng nói là tánh bình đẳng, thì như thế mới gọi là tánh bình đẳng của pháp. Nên biết, tánh bình đẳng của pháp đã bất khả thuyết, cũng bất khả tri, trừ tánh bình đẳng không có pháp nào có thể đắc, lìa tất cả pháp không có tánh bình đẳng.

Thiện Hiện phải biết: Đối với Tánh bình đẳng này hàng phàm phu kể cả Thánh giới đều chẳng thể hành, vì chẳng phải cảnh giới sở hành của họ.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Tánh bình đẳng cũng chẳng phải cảnh sở hành của Phật chăng?

Phật bảo Thiện Hiện!

- Tánh bình đẳng của pháp chẳng phải cảnh sở hành của các Hiền Thánh. Nghĩa là kẻ tùy tín hành, hoặc kẻ tùy pháp hành, hoặc kẻ Đệ bát, hoặc Dự lưu, hoặc Nhất lai, hoặc Bất hoàn, hoặc A la hán, hoặc Độc giác, hoặc Bồ tát, hoặc các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều chẳng thể đem tánh bình đẳng làm cảnh sở hành.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối tất cả pháp đều được tự tại, vì sao lại nói tánh bình đẳng chẳng phải cảnh sở hành của chư Phật?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối tất cả pháp tuy được tự tại, nếu tánh bình đẳng cùng Phật có khác, thì có thể nói là cảnh sở hành của Phật. Nhưng tánh bình đẳng cùng Phật không khác, làm sao có thể nói là cảnh sở hành của chư Phật.

Này Thiện Hiện! Nên biết, hoặc pháp tánh bình đẳng của các phàm phu, hoặc pháp tánh bình đẳng của tùy tín hành, hoặc pháp tánh bình đẳng của tùy pháp hành, hoặc pháp tánh bình đẳng của Đệ bát… cho đến hoặc pháp tánh bình đẳng của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả pháp tánh bình đẳng như thế đều đồng nhất tướng, chỗ gọi vô tướng. Nhất tướng bình đẳng này không có hai, không khác, cho nên chẳng thể nói: Đây là pháp tánh bình đẳng của phàm phu, nói rộng cho đến đây là pháp tánh bình đẳng của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Ở trong tánh bình đẳng nhất tướng đây, các tánh bình đẳng đã chẳng thể nắm bắt được, trong đó, tướng sai biệt của phàm phu và Thánh giả cũng chẳng thể nắm bắt được. (Q.396, ĐBN)

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu trong tánh bình đẳng của tất cả pháp, các tướng sai biệt đều chẳng thể nắm bắt được thì các phàm phu, hoặc tùy tín hành, hoặc tùy pháp hành, hoặc các Đệ bát, hoặc các Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, hoặc các Độc giác, hoặc các đại Bồ tát, hoặc chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả pháp như thế và hữu tình đáng lẽ không sai biệt?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng như ông đã nói, ở trong tánh bình đẳng của tất cả pháp, hoặc các phàm phu, hoặc các bậc Thánh cho đến Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, pháp và hữu tình đều không sai biệt.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu trong tánh bình đẳng của tất cả pháp phàm phu, Thánh giả, pháp và hữu tình đều không sai khác, thì tại sao có Tam Bảo xuất hiện ở thế gian, đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Phật, Pháp, Tăng bảo cùng với tánh bình đẳng có khác nhau chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Như con hiểu nghĩa Phật nói thì Phật, Pháp, Tăng bảo cùng với tánh bình đẳng đều không có sai khác.

- Bạch Thế Tôn! Hoặc Phật bảo, hoặc Pháp bảo, hoặc Tăng bảo, hoặc tánh bình đẳng, tất cả như thế đều chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng đó là vô tướng. Nhưng Phật Thế Tôn ở trong vô tướng, phương tiện thiện xảo, kiến lập các pháp v.v... có sự sai khác, gọi đây là phàm phu, đây là tùy tín hành, đây là tùy pháp hành, đây là Đệ bát, đây là Dự lưu, đây là Nhất lai v.v... cho đến đây là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng như ông đã nói. Như Lai đối với pháp phương tiện thiện xảo, có thể đối với vô tướng kiến lập các pháp v.v... sai biệt.

- Lại nữa, Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Nếu Như Lai chẳng chứng quả vị Giác ngộ tối cao vì hữu tình kiến lập các pháp sai khác thì liệu hữu tình có thể tự biết: Đây là địa ngục, đây là bàng sanh, đây là quỷ giới, đây là người, đây là chúng trời; đây là sắc, đây là thọ, tưởng, hành, thức; đây là 12 xứ, 18 giới; đây là tứ thiền, tứ vô luợng, tứ định vô sắc; đây là Tứ đế, đây là 37 trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến đây là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, các loại hữu tình đối với các tướng sai biệt như thế có thể tự biết chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Bạch Thế Tôn! Không! Bạch Thiện Thệ! Không! Nếu Phật chẳng vì hữu tình an lập tướng sai biệt như thế thì các hữu tình chẳng có thể tự biết các tướng sai biệt như thế.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Vì vậy Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối với pháp vô tướng phương tiện thiện xảo tuy vì hữu tình an lập các thứ tướng sai khác, nhưng đối với pháp tánh bình đẳng của các pháp hoàn toàn vô động.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Có phải Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối với pháp tánh bình đẳng của tất cả pháp hoàn toàn không có lay động? Như vậy thì tất cả phàm phu ngu si đối với pháp tánh bình đẳng của các pháp không có lay động chăng? Như vậy thì tùy tín hành, hoặc tùy pháp hành, hoặc Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán v.v… đối với pháp tánh bình đẳng của các pháp cũng không lay động chăng?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Vì tất cả pháp và các hữu tình đều chẳng vượt(4) pháp tánh bình đẳng, đối các pháp tánh bình đẳng cũng đều không chỗ động.

- Này Thiện Hiện! Nên biết, chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác tức là chơn như, pháp giới, pháp tánh v.v… của phàm phu ngu si, cũng là chơn như, pháp giới, pháp tánh v.v… của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát v.v… Vì sao? Vì tất cả pháp và các hữu tình đều chẳng vượt qua chơn như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh… cho đến cảnh giới bất tư nghì.

- Này Thiện Hiện! Nên biết, chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì tánh không sai khác.

- Này Thiện Hiện! Vì tướng của sắc khác nhau nên tánh cũng phải khác nhau, vì tướng của thọ, tưởng, hành, thức khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; vì tướng của 12 xứ, 18 giới khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; nói rộng cho đến vì tướng của Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; vì tướng của phàm phu ngu si khác nên tánh cũng phải khác, vì tướng của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát v.v… khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau; vì tướng của các pháp thế gian, pháp xuất thế gian khác nên tánh cũng phải khác, vì tướng của các pháp hữu lậu, vô lậu, pháp hữu vi, vô vi khác nên tánh cũng phải khác, vậy thì pháp tánh cũng phải khác nhau.

Thiện Hiện bạch Phật:

- Bach thế Tôn! Làm sao đối với các pháp tướng sai khác mà có thể an lập được pháp tánh nhất tướng? Làm sao đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng phân biệt pháp và các hữu tình có các loại tánh?

 

(Tất cả pháp đều rỗng không).

 

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Pháp tánh của sắc là rỗng không. Pháp tánh của thọ, tưởng, hành, thức là rỗng không. Pháp tánh của 12 xứ, 18 giới cũng rỗng không. Pháp tánh của tứ thitứ, tứlượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cũng rỗng không. Pháp tánh của phàm phu ngu si là rỗng không. Pháp tánh của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát, v.v… là rỗng không. Pháp tánh của pháp thế gian, xuất thế gian là rỗng không. Pháp tánh của pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi cũng rỗng không. Nói chung, Tất cả pháp tánh đều là rỗng không.

Vì vậy, Cụ thọ Thiện Hiện mới hỏi Phật:

- “Làm sao đối với các pháp tướng sai khác mà có thể an lập được pháp tánh nhất tướng”?

Phật hỏi lại Cụ thọ:

- Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Pháp tánh của sắc là rỗng không chăng? Pháp tánh của thọ, tưởng, hành, thức là rỗng không chăng? Nói rộng, pháp tánh của tất cả pháp là rỗng không chăng?

Cụ thọ bạch Phật:

- Bạch Thiện Thệ! Đúng vậy! Tất cả pháp tánh đều là rỗng không.

Phật lại hỏi:

- Trong rỗng không, tướng sai khác của pháp thảy có thể nắm bắt được chăng? Nghĩa là tướng sai khác của sắc có thể nắm bắt được chăng? Tướng sai khác của thọ, tưởng, hành, thức có thể nắm bắt được chăng? Tướng sai khác của pháp thế gian, xuất thế gian có thể nắm bắt được chăng? Tướng sai khác của pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi có thể nắm bắt được chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Bạch Thế Tôn! Không! Trong rỗng không, tất cả tướng sai khác đều chẳng thể nắm bắt được”.

Do đó nên biết, pháp tánh bình đẳng chẳng phải sắc, chẳng lìa sắc; chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức, chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức; pháp tánh bình đẳng chẳng phải 12 xứ, 18 giới, chẳng lìa 12 xứ, 18 giới; pháp tánh bình đẳng chẳng phải tứ thiền, tứ vô lương, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí…, cũng chẳng lìa tất cả các pháp ấy; pháp tánh bình đẳng chẳng phải phàm phu ngu si, cũng chẳng lìa phàm phu ngu si; chẳng phải tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán… cho đến Như Lai Chánh đẳng Chánh giác, cũng chẳng lìa tùy tín hành cho đến Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác; chẳng phải pháp thế gian xuất thế gian, chẳng lìa pháp thế gian xuất thế gian; chẳng phải pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi, chẳng lìa pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi. (Q. 397, ĐBN)

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Pháp tánh bình đẳng có phải là hữu vi, có phải là vô vi?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Pháp tánh bình đẳng chẳng phải là hữu vi, chẳng phải là vô vi; nhưng lìa pháp hữu vi, pháp vô vi chẳng thể nắm bắt được; lìa pháp vô vi, pháp hữu vi cũng chẳng thể nắm bắt được.

Này Thiện Hiện! Hoặc cảnh giới hữu vi, hoặc cảnh giới vô vi, hai cảnh giới như thế, chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng đó là vô tướng. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nương vào thế tục mà nói, chứ chẳng y cứ vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì chẳng phải trong thắng nghĩa có thể có thân hành, ngữ hành, ý hành, chẳng phải lìa thân hành, ngữ hành, ý hành mà có thể nắm bắt được thắng nghĩa.

Này Thiện Hiện! Nên biết, chính pháp tánh bình đẳng của hữu vi, vô vi gọi là thắng nghĩa, cho nên đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng động thắng nghĩa mà hành hạnh đại Bồ tát, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, có thể chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao.

 

Thích nghĩa:

(1). Thắng nghĩa du già: Thắng nghĩa có nghĩa là cao tột, vi diệu hay thực tại tối hậu cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa. Du già có nghĩa là tương ứng, tức là tương ứng với cơ, cảnh, hành, lý, quả… Thắng nghĩa du già: Tu hành như thế nào để (nghĩa là đã được quả tròn đầy, lợi sanh cứu vật, tùy cơ duyên mà cảm ứng, thuốc và bệnh tương ứng với nhau), cảnh (không trái với tự tánh của tất cả pháp), hành (tương ứng với hành các định, tuệ v.v…), (lý hai đế: an lập, phi an lập), quả (có thể chứng đắc Vô Thượng Bồ đề cùng tột) tương ưng với “đạo lí chân thực tối thắng”.

(2). Ảo thành hay Thành tầm hương còn gọi là Thành Càn thát bà (Phạm: Gandharva-nagara): Dịch ý là ảo thành, Tầm hương thành, thành bằng hương khói. Chỉ lầu gác, núi sông, rừng rậm, không có thực mà hiện giữa hư không. Truyền thuyết cho rằng, thần Càn thát bà hóa hiện thành quách giữa hư không, vì thế mà gọi là Càn thát bà thành. Hoặc chỉ các ảo ảnh trên biển, sa mạc, giữa đồng không mông quạnh ở vùng nhiệt đới, do nhiệt độ nung nóng thay đổi chiết suất của không khí tạo thành lâu cát thành quách nhưng không có thật. Trong Kinh thường dùng hình ảnh này để thí dụ các pháp không thật có. Đó là một thí dụ trong thập dụ của Kinh điển Đại thừa. Thích nghĩa này bổ khuyết cho thập dụ đã giải thích ở phẩm trên.

(3). Ngã, chúng sanh, thọ giả, mạng giả, sanh giả, dưỡng dục giả, tác giả, sử tác giả, khởi giả, sử khởi giả, thọ giả, sử thọ giả, tri giả, kiến giả. Đây là 14 khoa danh tướng trong Bát thập nhất khoa (Tám mươi mốt khoa): Đã được thích nghĩa rồi, xin xem lại các phẩm trước!

(4). Vượt qua: Chân như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì, còn gọi là “thập nhị Chân như”của Kinh Bát Đại Nhã. Tánh Bình đẳng như trên đã thuyết là bất khả thuyết, bất khả tư nghì, là một trong thập nhị Chân như, cũng chính là Phật tánh, cũng chính là Tánh Không, cũng gọi Tất cánh tịnh hay Niết bàn… Vậy thì tất cả pháp và tất cả hữu tình làm sao có thể vượt qua (To overcome—To outdo) được.

 

Lược giải:

 

Đây là một phẩm đặc biệt được Phật thuyết trước khi chấm dứt Hội thứ I, ĐBN. Tại sao phẩm này gọi là đặc biệt? Điểm thứ nhất: Vì phẩm này trả lời được những thắc mắc của chúng ta: Tại sao tất cả pháp kể cả pháp Phật đều như huyễn như mộng không giúp ích gì, không thể thành tựu sở cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà lại phải học phải tu, và còn được ca tụng là thắng nghĩa? Điểm thứ hai là nói về pháp tánh tất cả pháp đều rỗng không?

 

1. Nhất tánh Bình đẳng hay Thắng nghĩa Du già:

 

Có một điều làm cho chúng ta ngạc nhiên (tôi không muốn nói là ngỡ ngàng hay lẫn lộn) là Kinh thường nói tất cả pháp (kể cả pháp Phật) đều như mộng ảo, như trăng trong nước, như ảnh trong gương hay như thành bằng hương khói, chẳng thật có (vì những lý do như không có tự tánh hòa hợp, do duyên hội, nên nói là giả có v.v...). Nếu như vậy không riêng gì Thiện Hiện mà kể cả chúng ta cũng tự nghĩ là không thể thành tựu những việc làm như nguyện ước, cũng chẳng có thể chứng đắc sở cầu là quả vị Giác ngộ tối cao?

Để trả lời Phật bảo Thiện Hiện: "Các pháp như thế tuy chẳng phải thật (đều do tư duy tạo tác), nhưng nếu chẳng viên mãn thì nhất định chẳng có thể thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao".

Câu trả lời có vẻ như mâu thuẫn với cái hiểu biết thông thường của chúng ta. Vì sao? Vì đã nói các pháp không thật như trò huyễn đều do tư duy tạo tác, nhưng nếu không viên mãn nhất định sẽ không thể chứng đắc sở cầu? Tại sao? Để trả lời vấn nạn này, Phật bảo nếu hành tất cả các thiện pháp như trò huyễn cho đến ảo thành như vậy, thì đối với tất cả pháp chẳng chấp thủ. Nếu chấp thủ thì không thể thành tựu hay chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao.

Lý do gì đưa đến chấp thủ? Câu trả lời là: Tại vì nắm bắt!

Động cơ chính nằm đằng sau chấp thủ hay nắm bắt đó chính là ngã. Chư Bồ tát vì muốn cứu độ chúng sanh ra khỏi mê lộ đó nên mới giảng nói rằng chẳng có ngã mà tưởng có ngã, nên phải quay đi lộn lại trong sáu no luân hồi. Diệt ngã thì không còn điên đảo, vọng tưởng, chấp trước nữa thì mới có thể an trụ trong cảnh giới cam lồ vô tướng. Muốn được như vậy, thì phải học và hành Bát Nhã Ba-la-mật để tự mình không còn chấp ngã nữa mới sạch hết các lậu hoặc, các tập khí tương tục, rồi thì chỉ trong sát na tương ưng với diệu huệ thì “đắc” Vô Thượng Giác ngộ. Nhưng còn nói đắc là còn thấy năng chứng sở chứng. Đó là nói theo thế tục, trong thắng nghĩa "năng đắc, sở đắc, đều bất khả đắc. Vì sao? Vì nếu bảo đắc pháp tức rơi vào hữu sở đắc. Kẻ hữu sở đắc bèn chấp có hai. Kẻ chấp hai chẳng năng đắc quả, cũng chẳng hiện quán, kẻ chấp không hai cũng lại như thế. Nếu không hai, không chẳng hai tức gọi đắc quả, cũng gọi là hiện quán. Vì sao? Vì chấp đây chấp kia đều là hý luận. Lìa hý luận mới gọi là bình đẳng". (Q.396, ĐBN)

Có bình đẳng mới có thanh tịnh, đó là mục tiêu chính của việc tu hành. Vậy thế nào là bình đẳng? Phật thường bảo: "Nếu ở nơi nào không nói hữu tánh, cũng không nói vô tánh, cũng chẳng nói là tánh bình đẳng, thì như thế mới gọi là tánh bình đẳng của pháp. Nên biết, tánh bình đẳng của pháp đã bất khả thuyết, cũng bất khả tri, trừ tánh bình đẳng không có pháp nào có thể đắc, lìa tất cả pháp không có tánh bình đẳng".

"Hoặc pháp tánh bình đẳng của các phàm phu, hoặc pháp tánh bình đẳng của Thánh giả… cho đến hoặc pháp tánh bình đẳng của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả pháp tánh bình đẳng như thế đều đồng nhất tướng, chỗ gọi vô tướng. Nhất tướng bình đẳng này không hai, không khác, cho nên chẳng thể nói: Đây là pháp tánh bình đẳng của phàm phu, nói rộng cho đến đây là pháp tánh bình đẳng của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Ở trong tánh bình đẳng nhất tướng đây, các tánh bình đẳng đã chẳng thể nắm bắt được…” (Q.396, ĐBN)

Bởi lý do đó, nên mở đầu phẩm "Thắng Nghĩa Du Già", Phật Bảo:

"Các pháp chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì, dù Như Lai xuất thế hay chẳng xuất thế, tánh tướng thường trụ, đó gọi là tánh bình đẳng của tất cả pháp; tánh bình đẳng này gọi là pháp thanh tịnh; đây chỉ nương vào thế tục mà nói là thanh tịnh, chứ chẳng y cứ vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì trong thắng nghĩa đế, không có sự phân biệt, không có hý luận, tất cả ngôn ngữ danh tự đều dứt”.

Như vậy, chúng ta có thể kết luận: Nhất tướng bình đẳng này cũng chính là Chân như, Pháp giới, Pháp tánh, Pháp định, Pháp trụ, Thật tế... cũng gọi là Phật tánh, Tánh không, Thật Tướng, Pháp thân, Viên Thành Thực, Tự tánh Thanh tịnh thân, Như lai tạng, Niết bàn... tất cả không hai không khác. Chứng biết như vậy thì cơ cảnh hành quả đạt đến chỗ rối ráo, tức đạt được đạo lý chân thực tối thắng, nên gọi là “Thắng nghĩa Du già”. Nếu đạt tới chỗ đó thì pháp tánh của phàm phu cùng chư Phật nào khác.

 

2. Tất cả pháp tánh đều rỗng không.

 

Pháp tánh của sắc là rỗng không, pháp tánh của thọ, tưởng, hành, thức là rỗng không. Pháp tánh ca 12 xứ, 18 giới cũng rỗng không. Pháp tánh của tứ thiền tứ, vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cũng rỗng không. Pháp tánh của phàm phu ngu si rỗng không. Pháp tánh của tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát, cho đến Phật Vô thượng cũng rỗng không. Pháp tánh của pháp thế gian, xuất thế gian rỗng không. Pháp tánh của pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi cũng rỗng không. Nói chung, tất cả pháp tánh đều là rỗng không.

Trong cái rỗng không, tất cả tướng sai khác đều chẳng thể nắm bắt được. Do đó nên biết, pháp tánh bình đẳng chẳng phải sắc, chẳng lìa sắc; chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức, chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức; pháp tánh bình đẳng chẳng phải 12 xứ, 18 giới, chẳng lìa 12 xứ, 18 giới; pháp tánh bình đẳng chẳng phải tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí…cho đến Vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác, cũng chẳng lìa tất cả các pháp ấy; pháp tánh bình đẳng chẳng phải pháp thế gian xuất thế gian, chẳng lìa pháp thế gian xuất thế gian; chẳng phải pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi, chẳng lìa pháp hữu lậu vô lậu, pháp hữu vi vô vi.

Vì lìa pháp hữu vi, thì không có pháp vô vi; lìa pháp vô vi, thì không có pháp hữu vi.

Do đó, phẩm “Bình Đẳng” quyển thứ 29, Kinh MHBNBLM, nói:

"Đức Phật cũng dùng thế đế để nói chớ chẳng phải dùng đệ nhất nghĩa. Tại sao? Vì trong đệ nhất nghĩa không có thân hành, không có khẩu hành, không có ý hành, cũng chẳng lìa thân, khẩu, ý hành mà được đệ nhất nghĩa. Tướng bình đẳng của các pháp hữu vi, vô vi ấy tức là đệ nhất nghĩa.

Lúc hành Bát Nhã Ba-la-mật, đại Bồ Tát ở trong đệ nhất nghĩa chẳng động mà làm lợi ích cho chúng hữu tình”.

 

Phẩm "Pháp Tánh Vô Động" tiếp theo sẽ quảng diễn thêm pháp rỗng không này.

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn