Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

III. Phần Thứ III: Tánh Không Bát Nhã

31/03/202108:05(Xem: 227)
III. Phần Thứ III: Tánh Không Bát Nhã

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

buddha-554

 

III. PHẦN THỨ III TỔNG LUẬN:

 

TÁNH KHÔNG BÁT NHÃ

(Với những nguyên lý chỉ đạo của nó)

 

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

 

Thay lời phi lộ:

 

Phần thứ III Tổng luận là phần hệ trọng đối với hành giả Bát Nhã. Bởi vì Tánh Không Bát Nhã với những nguyên lý chỉ đạo thật sự có đủ quyền năng đem lại sự chứng ngộ hay có thể đem lại công đức và an lạc cho tất cả chúng sanh mà mọi người mong chờ như Kinh thường bảo hay không? Xin đọc các đoạn kinh ngắn sau đây để có thể xác chứng:

 

-Phẩm “Khen Bát Nhã”, quyển 172, Hội thứ I, ĐBN. Xá Lợi Phất bảo Thiên Đế Thích:

Kiều Thi Ca! Các Bồ Tát Ma ha tát sở học Bát nhã Ba la mật vượt hơn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự vô số lượng. Thí như bọn người mù bẩm sinh có cả trăm ngàn, mà không có một kẻ sáng mắt dắt dẫn đi, cố nhiên chẳng thể gần tới đường chính, huống là đi xa thấu đại thành phong phú an vui. Bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự Ba la mật như thế là bọn người mù, nếu không có Bát nhã Ba la mật là kẻ sáng suốt dẫn đường, hãy chẳng đi tới Bồ Tát Chánh đạo, huống là năng vào được đại thành Nhất thiết trí.

Lại nữa, Kiều Thi Ca! Bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự Ba la mật như thế, do Bát nhã Ba la mật đây nhiếp thọ, nên bố thí v.v… tất cả đều được “đến bờ kia”.

“…Vì Chẳng phải do bố thí Ba la mật nhiếp thọ, mà năm cái khác được gọi là đáo bỉ ngạn; vì chẳng phải do tịnh giới Ba la mật nhiếp thọ, mà năm cái khác được tên là đáo bỉ ngạn; vì chẳng phải do an nhẫn Ba la mật nhiếp thọ v.v…mà năm cái khác được tên là đáo bỉ ngạn, vì chỉ do Bát nhã Ba la mật nhiếp thọ, nên năm cái khác được coi là đáo bỉ ngạn. Vì sao? Vì các Bồ tát cốt yếu là trụ Bát nhã Ba la mật mới có khả năng viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật; chẳng phải trụ năm cái khác có thể thành tựu việc ấy. Vì vậy nên Bát nhã Ba la mật đối với năm thứ trước là tối thắng, là tôn quí, là cao siêu, là vi diệu… không gì bằng”.

 

      Bát Nhã là một trong sáu pháp Ba la mật, nhưng Bát Nhã là Ba la mật đứng đầu, là chỉ đạo, thiếu Bát Nhã các Ba la mật khác không thể hoạt động được. Bát Nhã là kim chỉ nam, là địa bàn đối với người vượt biển, là thuyền trưởng trên đại dương bao la. Có bố thí, có trì giới, có nhẫn nhục, có thiền định nhưng thiếu Bát Nhã, các Ba la mật khác giống như một con thuyền không người lái lưu lạc trong cơn bão tố và sẽ không bao giờ thoát hiểm để đến bến bờ mong muốn! Vì vậy, Bát Nhã được ví như người sáng mắt trong vô số người mù bẩm sinh. Bát Nhã cũng được ví như đất nước gió lửa mà mọi sinh vật có thể sinh sống trên đó, thiếu chúng là thiếu mầm sống, là thiếu tất cả!

 

- Phẩm “Chúc Lụy”, quyển 346, Hội thứ I, ĐBN. Phật bảo:

“Nên biết, Nhất thiết trí trí, quả vị Giác ngộ tối cao, sở đắc của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều nương vào Bát Nhã mà xuất sanh. Bát Nhã như thế là mẹ của các đại Bồ tát, sanh ra các đại Bồ tát. Bát Nhã như thế là Kinh điển sáu phép Ba la mật sâu xa, là tạng pháp vô tận của chư Như Lai”.

Không những Bát nhã Ba la mật là mẹ của Bồ tát mà Bát nhã Ba la mật cũng là mẹ của chư Phật, sanh ra chư Phật, chư Bồ tát cùng tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.

 

-Phẩm “Tịnh Đạo”, quyển 74, ĐBN. Xá lợi Phất hỏi Thiện Hiện:

- “Tất cả pháp Phật đều mang lại vô lượng vô biên các nhóm công đức nên gọi là đạo Bồ đề. Nhưng công đức như vậy do đâu mà có?

Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Công đức như vậy đều do thế lực của Bát nhã Ba la mật mà đạt được. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì Bát nhã Ba la mật bao giờ cũng là mẹ của tất cả thiện pháp. Tất cả thiện pháp của Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai đều từ đó mà sanh.

- Xá Lợi Tử! Bát nhã Ba la mật này có khả năng nhiếp thọ khắp tất cả thiện pháp. Thiện pháp của Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai đều nương nơi đây mà an trú.

- Xá Lợi Tử! Chư Phật quá khứ tu hành Bát nhã Ba la mật đạt đến chỗ viên mãn rốt ráo, đã chứng đắc quả vị giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân vi diệu, độ vô lượng chúng sanh. Chư Phật vị lai tu hành Bát nhã Ba la mật đạt viên mãn rốt ráo, sẽ chứng đắc quả vị giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân vi diệu, độ vô lượng chúng sanh. Chư Phật hiện tại trong mười phương thế giới tu hành Bát nhã Ba la mật đạt viên mãn rốt ráo, hiện chứng đắc quả vị giác ngộ tối cao, chuyển pháp luân vi diệu, độ vô lượng chúng sinh”.

Vì vậy, Kinh Đại Bát Nhã nhiều chỗ xưng tán công đức và thế lực của Bát nhã Ba la mật như vậy. Nên Bát Nhã Ba la mật được qui hướng và ngưỡng mộ hơn bao giờ hết.

 

      - Phẩm “Xá Lợi Phất”, quyển thứ 479, ĐBN. Nói:

-“Nếu Bồ Tát Ma ha tát muốn dùng oai lực của mình khiến hữu tình trong mười phương thế giới như cát sông Hằng: Kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ câm được nói, kẻ cuồng được nhớ, kẻ loạn được định, kẻ nghèo được giàu, kẻ trần được áo, kẻ đói được ăn, kẻ khát được uống, kẻ bệnh được mạnh, kẻ xấu được đẹp, kẻ tàn tật được đầy đủ, kẻ căn khuyết được vuông tròn, kẻ mê lầm được tỉnh ngộ, kẻ mỏi mệt được an thới, kẻ đọa ác thú được sanh thiện thú, kẻ tập ác nghiệp đều tu thiện nghiệp, kẻ phạm giới an trụ nhóm giới, kẻ chưa được định an trụ nhóm định, kẻ có ác huệ an trụ nhóm huệ, kẻ không giải thoát an trụ nhóm giải thoát, kẻ không giải thoát trí kiến an trụ nhóm giải thoát trí kiến, kẻ chưa thấy thánh đế được quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, hoặc quả Bất hoàn, hoặc quả A la hán, hoặc Duyên giác, hoặc lần lữa chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, thời nên học Bát nhã Ba la mật. Nếu Bồ Tát Ma ha tát muốn học oai nghi thù thắng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác khiến các hữu tình xem đó không chán, diệt ác sanh thiện, nên học Bát nhã Ba la mật.

Với những quả quyết đó, nên chúng ta nhiều lần tán tụng Bát nhã Ba la mật như một thứ pháp mầu với đầy đủ quyền nang, để tạo dựng một thế giới đầy tươi đẹp có thể đem lại an vui giải thoát cho thế gian thống khổ này.

Trên đây chỉ là bốn đoạn Kinh ngắn trong hàng trăm đoạn Kinh như vậy, chúng ta có thể tìm thấy bất cứ ở pháp hội nào nói về Tánh không Bát Nhã với những nguyên tắc chỉ đạo của nó. Nếu theo đúng những chỉ dẫn đó tu hành thì có thể đạt ngộ, có đầy đủ quyền năng công đức để có thể trọn vẹn làm chủ thế gian này.

Vì vậy, phẩm “Bất Khả Động”, quyển 388, Hội thứ I, ĐBN cho thấy tính cách trọng yếu của Bát Nhã Tánh không: “Chư Phật xuất thế đều thuyết Bản tánh không; hữu tình được giáo hóa cần phải lắng nghe Phật thuyết lý Bản tánh không, mới có thể nhập Thánh đạo, chứng Thánh quả; lìa Bản tánh không, không có phương tiện nào khác”. 

Với các luận giải sau đây chúng tôi cố gắng nêu lên những nguyên tắc chỉ đạo này. Còn hiểu, học và áp dụng trong việc hành trì và đạt ngộ được công đức oai nghi thù thắng là ở hành giả Bát Nhã.

 

Trong nhà Thiền dưới trướng của Sư Đại Huệ Tông Cảo (1089-1163) đời Tống, có một ông Tăng tên là Đạo Khiêm học Thiền đã nhiều năm nhưng chưa nhập lý. Sư phụ bắt đi hành cước ở phương xa, ông tỏ vẻ thất vọng. Một cuộc viễn du kéo dài đến sáu tháng trời chắc rằng sẽ là mối chướng đạo hơn là trợ đạo cho ông. Có một ông bạn đồng môn tên là Tông Nguyên thương hại bèn nói: “Tôi sẽ theo ông trên đường hành cước, sẽ làm những gì có thể làm được để giúp ông. Không có lý do nào khiến ông phải bỏ dở việc tham thiền, cả đến lý do xê dịch”. Thế rồi cả hai lên đường.

Một đêm kia, Đạo Khiêm tuyệt vọng nài nỉ người bạn đường giúp ông vén màn bí mật của nhân sinh và vũ trụ. Người bạn đáp: “Tôi sẵn sàng giúp ông bất cứ thứ gì, nhưng có năm điều tôi không thể giúp ông. Những điều ấy, tự ông phải đảm đương lấy”. Đạo Khiêm xin cho biết là những điều gì, ông bạn đáp: “Chẳng hạn như khi ông mặc áo ăn cơm thì tôi không thể ăn không thể mặc giùm ông được, ông phải tự mình ăn tự mình mặc lấy. Khi ông mắc ỉa mắc đái, ông phải tự mình lo liệu, tôi không thể làm thay ông. Rốt hết chính là ông, không ai khác, phải mang cái thây chết này của ông suốt khoảng đường trường này”.

Lời nói đó phút chốc mở tâm người cầu đạo; ông này mừng quá với những điều khám phá mới không còn biết nói gì để tỏ niềm vui. Bấy giờ, Tông Nguyên mới nói rằng công quả của ông nay đã tròn, từ nay sự đi chung không còn ý nghĩa nữa. Thế rồi hai người chia tay nhau, và Đạo Khiêm tiếp tục cuộc hành trình một mình. Sáu tháng sau, Đạo Khiêm trở về chùa cũ. Sư phụ là Đại Huệ xuống núi tình cờ gặp ông đang lên chùa, bèn cười rồi tự nói:

“Bây giờ, thì chắc đệ tử biết như thế nào rồi”!

Thử hỏi cái gì bừng ra lúc ấy trong tâm trí của Đạo Khiêm khi ông bạn (Tông Nguyên) đưa ra một lời khuyên quá đỗi tầm thường như vậy?(1)

Ở đây chúng tôi như Sư Tông Nguyên, chỉ là người bạn đường của Đạo Khiêm, giúp Quý đạo hữu mở con mắt Đạo. Nhưng rốt lại Tông Nguyên cũng chẳng giúp ích được gì, chính Đạo Khiêm phải làm tất cả. Cũng như vậy, chúng tôi chỉ là người trình bày lại giáo lý của đức Thế Tôn. Chúng tôi cũng như Tông Nguyên giúp các đạo hữu trên bước đường hành cước, là người giải Kinh, cốt chỉ cho Quý vị bên kia sườn núi có khói. Còn Quý vị phải nhờ cái thấy mà biết cái không thấy: Thấy khói bên kia sườn núi là biết bên kia có lửa. Cũng vậy, tuy chúng tôi đào xới bới dỡ để chỉ cho Quý vị các giáo pháp cực kỳ ảo diệu của Tánh không với những nguyên lý chỉ đạo của nó, nhưng hiểu, học, hành để đạt ngộ được hay không đó là do công phu của Quý vị!

Thích nghĩa cho “Thay lời phi lộ này”:

(1). Câu chuyện Thiền này được trích dẫn từ Thiền Luận quyển hạ của Thiền sư D.T. Suzuki.

 

 

 

 

 

---o0o---

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn