Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

48. Phẩm "Thành Biện"

28/08/202010:38(Xem: 4157)
48. Phẩm "Thành Biện"

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***
buddha-436


PHẨM "THÀNH BIỆN"

Phần đầu quyển 444, Hội thứ II, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Biện Sự”, phần sau quyển 310

cho đến phần đầu quyển 311, Hội thứ I, ĐBN)



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Bát nhã Ba la mật thẳm sâu vì đại sự nhân duyên xuất hiện ở thế gian; vì việc không thể nghĩ bàn nên xuất hiện ở thế gian; vì việc không thể tính lường nên xuất hiện ở thế gian; vì việc không hạn lượng nên xuất hiện ở thế gian; vì việc không gì sánh bằng nên xuất hiện ở thế gian.

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng như ông đã nói, Bát Nhã vì đại sự nhân duyên xuất hiện ở thế gian, cho đến vì việc không gì sánh bằng nên xuất hiện ở thế gian. Vì sao? Thiện Hiện! Vì Bát Nhã thẳm sâu thành tựu bố thí Ba la mật, cũng thành tựu tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật. Thành tựu mười tám pháp Không. Thành tựu chơn như, cũng thành tựu pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì. Thành tựu tđế. Thành tựu bốn tịnh lự, cũng thành tựu bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Thành tựu tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ. Thành tựu ba mươi bảy pháp tr đạo. Thành tựu pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện. Thành tựu thập địa Tam thừa, cũng thành tựu Bồ Tát thập địa(1). Thành tựu năm loại mắt, sáu phép thần thông. Thành tựu Phật mười lực, cũng thành tựu bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cho đến... Nhất thiết tướng trí hay nói rộng tức là thành đạt tất cả các pháp mầu Phật đạo. (Q.444, ĐBN)

Thiện Hiện! Như Sát đế lợi quán đảnh đại vương, oai đức tự tại, chiến thắng tất cả, đem các quốc sự giao phó Đại thần, rồi thong dong hưởng nhàn. Như Lai cũng vậy, là Đại pháp vương, oai đức tự tại, chế ngự tất cả, đem pháp Thanh văn, hoặc pháp Độc giác, hoặc pháp Bồ Tát, hoặc pháp chư Phật đều qui về Bát nhã Ba la mật thẳm sâu. Do đó, nên Bát nhã Ba la mật đều thành tựu tất cả sự nghiệp. Thế nên, này Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật vì đại sự nhân duyên xuất hiện ở thế gian, cho đến vì việc không gì sánh bằng nên xuất hiện ở thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật thẳm sâu đối với sắc không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với thọ, tưởng, hành, thức không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với mười hai xứ, mười tám giới không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với nhãn xúc không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với địa giới không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với thủy, hỏa, phong, không, thức giới không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với vô minh không thủ, không chấp; đối với mười hai duyên khởi không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; đối với lục Ba la mật không thủ, không chấp, đối với 18 pháp không, chơn như, pháp giới pháp tánh cho đến đối với cảnh giới bất khả tư nghì không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp; nói rộng ra đối với tất cả pháp Phật không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp.

Cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bát nhã Ba la mật thẳm sâu đối với sắc không thủ, không chấp; đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng không thủ, không chấp. Cho đến đối với tất cả pháp Phật không thủ, không chấp, nên xuất hiện ở thế gian và thành tựu sự nghiệp?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao? Ông thấy sắc thủ được, chấp được không? Thấy thọ, tưởng, hành, thức thủ được, chấp được không? Cho đến thấy tất cả pháp Phật thủ được, chấp được không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không! Bạch Thiện Thệ! Không!

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Hay thay! Đúng vậy! Đúng như ông đã nói. Thiện Hiện! Ta cũng không thấy sắc thủ được, chấp được, không thấy thọ, tưởng, hành, thức thủ được, chấp được, cho đến không thấy tất cả pháp Phật thủ được, chấp được. Do không thấy nên không thủ, do không thủ nên không chấp. Do nhân duyên này nên Bát nhã Ba la mật thẳm sâu đối với sắc không thủ, không chấp; đối với thọ, tưởng, hành, thức không thủ, không chấp. Như vậy, cho đến đối với tất cả pháp Phật không thủ, không chấp.

Thiện Hiện! Ta cũng không thấy tất cả Chánh đẳng giác pháp, Như Lai pháp, tự nhiên giác pháp, Nhất thiết trí pháp của hết thảy các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thủ được, chấp được. Do không thấy nên không thủ, do không thủ nên không chấp. Bát nhã Ba la mật thẳm sâu cũng lại như thế, đều không thấy có tất cả Chánh đẳng giác pháp, Như Lai pháp, tự nhiên giác pháp, Nhất thiết trí pháp của hết thảy các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thủ được, chấp được. Do nhân duyên này nên không thủ, không chấp. Thế nên, Thiện Hiện! Các Đại Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật thẳm sâu không nên đối với sắc hoặc thủ, hoặc chấp; không nên đối với thọ, tưởng, hành, thức hoặc thủ, hoặc chấp. Như vậy, cho đến không nên đối với tất cả pháp Phật hoặc thủ, hoặc chấp. Cũng không nên đối với tất cả Chánh đẳng giác pháp, Như Lai pháp, tự nhiên giác pháp, Nhất thiết trí pháp của hết thảy các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hoặc thủ, hoặc chấp.

Lúc ấy, chư thiên cõi Dục, cõi Sắc đồng thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Bát Nhã như thế rất sâu xa, khó thấy, khó biết, không thể suy lường, vượt khỏi suy lường, vắng lặng mầu nhiệm, chân thật thẳm sâu. Người rất thông tuệ suy nghĩ kỹ mới hiểu rõ được. Các hữu tình nào sanh lòng tin hiểu thâm sâu Bát Nhã như thế thì nên biết họ đã từng cúng dường vô lượng chư Phật quá khứ, đã phát thệ nguyện rộng đối với chư Phật, trồng nhiều thiện căn, gần gũi nhiều thiện hữu, được vô lượng thiện hữu thủ hộ mới có thể tin hiểu Bát Nhã như thế. Hoặc người nào được nghe Bát nhã Ba la mật như thế sanh lòng tin hiểu thâm sâu, nên biết họ là Bồ Tát, nhất định đắc Vô thượng Bồ đề.

Bạch Thế Tôn! Giả sử các loài hữu tình trong tam thiên đại thiên thế giới, tất cả đều đạt tùy tín hành, tùy pháp hành, Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, họ đã thành tựu hoặc trí, hoặc đoạn, nhưng không bằng một người trong một ngày đối với Bát nhã Ba la mật này chấp nhận ưa thích, suy nghĩ, quán sát rõ ràng. Người này đối với Bát Nhã đây đã thành tựu nhẫn hơn người kia có trí, có đoạn... vô lượng, vô biên. Vì sao? Vì các tùy tín hành hoặc trí, hoặc đoạn, cho đến Độc giác hoặc trí, hoặc đoạn đều chỉ bằng một phần nhỏ nhẫn của các Đại Bồ Tát đắc Vô sanh pháp nhẫn.

Phật bảo chư thiên:

- Hay thay! Hay thay! Như các ông đã nói những trí và đoạn của các tùy tín hành, hoặc tùy pháp hành, Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác đều chỉ bằng một phần nhỏ nhẫn của các Đại Bồ Tát đắc Vô sanh pháp nhẫn.

Thiên chúng các ông nên biết: Các thiện nam, thiện nữ… nào tạm nghe Bát Nhã như thế, nghe rồi tin hiểu, ghi chép, thọ trì, đọc tụng, tu tập, tư duy, diễn nói thì các thiện nam, thiện nữ… này mau thoát khỏi sanh tử, chứng đắc Niết bàn, thành tựu Như Lai trí, hơn các thiện nam, thiện nữ… cầu Nhị thừa, xa lìa Bát Nhã, học các kinh điển khác, trải qua một kiếp, hoặc hơn một kiếp. Vì sao? Vì trong Kinh Bát Nhã đây nói rộng tất cả thắng pháp nhiệm mầu. Các tùy tín hành, hoặc tùy pháp hành, Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, đại Bồ Tát đều nên nương đây tinh tấn tu học, tùy theo nguyện cầu, làm việc gì sự nghiệp đều mau thành tựu. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều nương đây học đã chứng, đang và sẽ chứng Vô Thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Khi ấy, chư Thiên đồng ca ngợi:

- Bát nhã Ba la mật như thế là đại Ba la mật, là Ba la mật không thể nghĩ bàn, là Ba la mật không thể tính lường, là Bát nhã Ba la mật không số lượng, là Bát nhã Ba la mật không gì sánh bằng.

Bạch Thế Tôn! Các vị tùy tín hành, hoặc tùy pháp hành, Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, đều nương Bát nhã Ba la mật này tinh tấn tu học, mau thoát khỏi sanh tử, chứng Vô dư y Niết bàn. Tất cả chúng đại Bồ Tát đều nương Bát Nhã thậm sâu này tinh tấn tu học, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, vào Vô dư y Niết bàn.

Bạch Thế Tôn! Tuy các Thanh văn, Độc giác, Bồ Tát đều nương Bát nhã Ba la mật thâm sâu như thế, tinh tấn tu học, làm việc gì đều được thành tựu nhưng Bát Nhã này không thêm, không bớt.

Chư thiên cõi Dục, cõi Sắc vừa dứt lời đều vui mừng hớn hở, đối với Bát Nhã sanh tâm tin vui. Sau đó đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu quanh hữu ba vòng, từ tạ Phật về cung, đi cách hội không xa bỗng nhiên biến mất.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ Tát nào nghe thuyết Bát nhã Ba la mật thâm sâu như thế, sanh lòng tin hiểu, ghi chép, thọ trì, đọc tụng, tu tập, tư duy, diễn nói, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi. Đại Bồ Tát ấy từ cảnh giới nào mà sanh đến đây?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đại Bồ Tát nào nghe thuyết Bát Nhã thâm sâu như thế sanh lòng tin hiểu, ghi chép, thọ trì, đọc tụng, tu tập tư duy đúng lý, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Thường theo Pháp sư thỉnh hỏi ý nghĩa, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, không chút dừng nghỉ. Như nghé (trâu con) mới sanh không lìa khỏi mẹ, cho đến tuy chưa thông đạt ý nghĩa rốt ráo của Bát nhã Ba la mật thâm sâu để có thể giảng dạy cho người khác thì quyết không bao giờ xa lìa Kinh điển và người thuyết Bát nhã Ba la mật thâm sâu như thế.

Thiện Hiện nên biết: Đại Bồ Tát này từ cõi người sanh đến đây. Vì sao? Thiện Hiện! Đời trước Đại Bồ Tát này đã nghe Bát nhã Ba la mật thâm sâu, nghe rồi thọ trì, đọc tụng, tu tập, tư duy đúng lý; lại ghi chép và trang sức các đồ báu. Lại dùng các loại tràng hoa đẹp nhất, hương xoa, hương bột, y phục, anh lạc, tràng phan, lọng báu, âm nhạc, đèn sáng, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi. Nhờ thiện căn này nên lìa tám nạn xứ(2). Từ cõi người sanh lại cõi người, nghe thuyết Bát nhã Ba la mật thâm sâu sanh lòng tin hiểu, ghi chép, thọ trì, đọc tụng v.v…

Cụ thọ Thiện Hiện lại thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Có Đại Bồ Tát nào thành tựu công đức thù thắng như thế, cúng dường phụng thờ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác ở phương khác. Từ chỗ đó rồi sanh vào cõi này, nghe thuyết Bát nhã Ba la mật thâm sâu như thế, sanh lòng tin hiểu, ghi chép, thọ trì, v.v... không lười nhác chăng?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Các Đại Bồ Tát thành tựu công đức thù thắng như thế, cúng dường phụng thờ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác ở phương khác. Từ chỗ đó vào cõi này nghe thuyết Bát Nhã thâm sâu như thế, sanh lòng tin hiểu, ghi chép, thọ trì v.v… tâm không lười nhác. Vì sao? Vì đời trước đại Bồ Tát này đã ở chỗ vô lượng Phật nơi phương khác, nghe thuyết Bát Nhã thâm sâu như thế, sanh lòng tin hiểu, ghi chép, thọ trì v.v… tâm không lười nhác. Họ nhờ năng lực thiện căn như thế, nên từ cõi kia sanh vào nơi này.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ Tát từ thiên chúng ở cõi trời Đổ sử đa sanh vào cõi người. Họ cũng thành tựu công đức như thế. Vì sao? Vì đời trước Đại Bồ Tát này đã ở cõi trời Đổ sử đa chỗ Bồ Tát Từ Thị thỉnh hỏi ý nghĩa Bát Nhã thâm sâu. Họ nhờ năng lực thiện căn như thế, nên từ chỗ kia sanh vào cõi người, nghe thuyết Bát Nhã thâm sâu như thế sanh lòng tin hiểu, ghi chép, thọ trì v.v… tâm không lười nhác.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có các thiện nam, thiện nữ… trụ Bồ Tát thừa, dù đời trước được nghe Bát Nhã cho đến bố thí Ba la mật nhưng không thỉnh hỏi ý nghĩa sâu xa, nên nay sanh vào cõi người nghe thuyết Bát nhã Ba la mật thâm sâu như thế, tâm ý mờ mịt, do dự khiếp s, hoặc sanh hiểu biết khác, khó khai ngộ được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có các thiện nam, thiện nữ… trụ Bồ Tát thừa, dù đời trước nghe pháp nội không cho đến pháp vô tánh tự tánh không, nhưng không thỉnh hỏi ý nghĩa sâu xa. Dù đời trước được nghe chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì nhưng không thỉnh hỏi ý nghĩa sâu xa. Dù đời trước được nghe tất cả pháp Phật nhưng không thỉnh hỏi ý nghĩa sâu xa, nên nay sanh trong loài người nghe thuyết Bát nhã Ba la mật thâm sâu như thế, tâm ý mờ mịt, do dự, khiếp nhược, hoặc sanh hiểu biết khác, khó khai ngộ được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa, dù ở đời trước được nghe Bát nhã Ba la mật., cũng từng thỉnh hỏi nghĩa thú thẳm sâu, hoặc trải một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, mà chẳng như thuyết tinh tấn tu hành. Nay sanh trong người nghe thuyết Bát nhã Ba la mật như thế, hoặc trải một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày mặc dù vậy, tâm vẫn bền chắc, không lay động được.

Nhưng nếu lìa Bát Nhã đã nghe liền bèn lui mất, tâm sanh do dự. Vì sao? Thiện Hiện! Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa này nhờ ở đời trước được nghe Bát Nhã, cũng thỉnh hỏi nghĩa thú thẳm sâu nhưng chẳng như thuyết tinh tấn tu hành, nên đến đời nay nếu gặp bạn lành ân cần khuyên gắng, bèn muốn nghe thọ Bát Nhã. Nếu không bạn lành ân cần khuyên gắng, tất đối kinh này chẳng muốn nghe thọ. Các thiện nam, thiện nữ đối Bát Nhã hoặc khi muốn nghe, hoặc khi chẳng muốn, hoặc tâm bền chắc, hoặc khi lui mất, dễ bị loạn động, tiến thối phi hằng, in như lông nhẹ bay theo gió. Phải biết các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa như thế, phát tới Đại thừa trải qua thời gian chưa lâu, chưa gần gũi nhiều chơn thiện tri thức, chưa cúng dường nhiều chư Phật Thế Tôn, chưa từng thọ trì đọc tụng thơ tả suy nghĩ diễn nói Bát nhã Ba la mật.

Thiện Hiện phải biết: Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa này chưa học Bát nhã Ba la mật. cho đến bố thí Ba la mật. Chưa học nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Chưa học chơn như cho đến bất tư nghì giới. Chưa học khổ tập diệt đạo Thánh đế. Chưa học bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Chưa học tám giải thoát, tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ. Chưa học bốn niệm trụ cho đến tám Thánh đạo chi. Chưa học không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Chưa học Tam thừa Bồ Tát thập địa. Chưa học năm nhãn, sáu thần thông. Chưa học Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Chưa học ba mươi tướng Đại sĩ, tám mươi tùy hảo. Chưa học pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Chưa học tất cả Bồ Tát hạnh. Chưa học chư Phật Vô Thượng Bồ đề. Chưa học Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí.

Thiện Hiện phải biết: Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa này mới hướng tới Đại thừa, đối pháp Đại thừa, chỉ được phần ít kính tin ưa muốn, chưa có thể thơ tả thọ trì đọc tụng, tu tập suy nghĩ, vì người diễn nói Bát nhã Ba la mật thẳm sâu.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa, nếu chẳng thơ tả thọ trì đọc tụng tu tập suy nghĩ vì người diễn nói Bát nhã Ba la mật. thẳm sâu; nếu chẳng đem Bát Nhã cho đến bố thí Ba la mật nhiếp thọ hữu tình. Cho đến nếu chẳng đem Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí nhiếp thọ hữu tình. Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa này chẳng được Bát Nhã cho đến bố thí Ba la mật thủ hộ, cho đến chẳng được Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thủ hộ. Các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa này chẳng tùy thuận tu hành Bát Nhã cho đến bố thí Ba la mật. Cho đến chẳng có khả năng tùy thuận tu hành Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Bởi nhân duyên đây đọa bậc Thanh văn hoặc bậc Độc giác. Vì sao? Vì các thiện nam, thiện nữ trụ Bồ Tát thừa này đối Bát Nhã thẳm sâu chẳng thường thơ tả thọ trì đọc tụng, tu tập suy nghĩ vì người diễn nói. Cũng chẳng thường đem Bát Nhã thẳm sâu, nói rộng cho đến Nhất thiết tướng trí nhiếp thọ hữu tình.

Chẳng thường tùy thuận tu hành Bát nhã Ba la mật, nói rộng cho đến Nhất thiết tướng trí. Chẳng được Bát nhã Ba la mật thủ hộ cho đến chẳng được Nhất thiết tướng trí thủ hộ. Bởi nhân duyên đây đọa bậc Thanh văn hoặc bậc Độc giác. (Q. 444, ĐBN)

 

Thích nghĩa:

(1). Bồ Tát thập địa gồm: 1- Cực hỷ địa, 2- Ly cấu địa, 3- Phát quang địa, 4- Diệm tuệ địa, 5- Nan thắng địa, 6- Hiện tiền địa, 7- Viễn hành địa, 8- Bất động địa, 9-Thiện tuệ địa, 10- Pháp vân địa. Xin đừng lẫn lộn Bồ Tát thập địa và Bồ Tát thập vị cộng Tam thừa. Tuy cách diễn tả có khác nhưng kết quả chỉ là một. Hai địa vị nầy tùy theo Kinh hay tùy theo các tông phái đặt ra. Kinh Đại Bát Nhã đã phân định như vậy nên chúng tôi thích nghĩa như vậy. Đã thích nghĩa ở “Phần thứ I, Tổng luận” và trong phẩm “Các Tướng Công Đức”. Đây chỉ nhắc sơ lại để nhớ.

(2). Tám nạn xứ: Nói gọn là tám nạn: Là tám điều kiện bất lợi, tám trường hợp không may có thể xảy ra trên con đường tu học, gây \ khó khăn trở ngại cho việc tiến tu. Tám nạn bao gồm: 1- Địa ngục; 2- Súc sanh; 3- Ngạ quỉ; 4- Trường thọ thiên, là cõi trời thuộc Sắc giới với thọ mạng cao. Thọ mạng cao cũng là một chướng ngại vì nó làm mê hoặc người tu, làm cho dễ quên những nỗi khổ của sanh lão bệnh tử trong luân hồi; 5- Biên địa, là những vùng không nằm nơi trung tâm, không thuận tiện cho việc tu học Chánh pháp; 6- Căn khuyết (根缺; Phạn ngữ: indriyavaikalya), không có đủ giác quan hoặc các giác quan bị tật nguyền như mù, câm, điếc... 7- Tà kiến, những kiến giải sai lệch, bất thiện; 8- Như Lai bất xuất sanh, nghĩa là sanh sống trong thời gian không có Phật hoặc giáo pháp của Phật xuất hiện.

Trong một số kinh luận giải thích khác biệt về hai nạn xứ thứ 5- và thứ 7-: Biên địa được thay bằng châu Uất đan việt, vì cho rằng chúng sanh ở châu này hưởng nhiều sự sung sướng nên khó tu tập; tà kiến được thay bằng “thế trí biện thông”, vì cho rằng người học nhiều biết rộng sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp nhận Chánh pháp. (Mở rộng tâm hồn)

 

Sơ giải:

 

Dẫn ý:

Phẩm này và phẩm “Chẳng Nghĩ Bàn” (của ĐBN) do Ngài Huyền trang dịch chỉ là một, tương đương với phẩm “Thành Biện” của Kinh MHBNBLMĐ do Ngài La Thập dịch như đã gợi ý ở trên. Phẩm thứ 50, của Đại Trí Độ Luận cũng có cùng tên phẩm là “Thành Biện”, tập 4, quyển 71, nội dung cũng giống như hai Kinh ĐBN và Kinh MHBNBLMĐ. Đọc một phẩm thì biết cả ba.

 

Mấu chốt của phẩm này ở câu Phật nói “Ta chẳng thấy sắc có thể chấp, có thể trước; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức có thể chấp, có thể trước. Ta cũng chẳng thấy có pháp nào có thể chấp có thể trước, cũng chẳng thấy do pháp ấy mà có chấp có trước; do chẳng thấy nên chẳng chấp, do chẳng chấp nên chẳng trước”.

Tại sao có chấp? Do lục căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) khởi phân biệt mà sanh ra lục thức(thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Tất cả lập cước của đạo Phật đều nằm trên căn bản này. Vì do thấy sắc nên sanh ra phân biệt, do phân biệt đẹp xấu, hay dở… nên sanh chấp. Rồi từ chấp mới sanh tạo tác thi vi. Thấy đẹp nên muốn gần gũi ôm ấp, nên nói là thủ giữ; thấy xấu thì ghét bỏ, đuổi xua, xa lánh. Đầu mối là ở phân biệt chấp trước mà ra.

Bản thể của tất cả pháp là vô tri trì độn, là như huyễn như mộng… duyên hợp thì có, duyên tan thì rã rời biến hoại, không có tự tánh nên bảo là không. Nếu nhập được pháp không rồi, không còn chấp ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới… cho đến Nhất thiết chủng trí nữa. Vậy cái đáng qui trách làm gây ra động niệm là ở phân biệt chấp trước mà ra.

Thấy thì ai có nhãn căn đều thấy cả. Phân biệt thì ai cũng phân biệt cả. Phật là người phân biệt giỏi nhất thế gian này, nhưng Phật không bị sắc trần níu kéo, vì Phật không vướng mắc. Không vướng mắc, nên Phật không chấp, do công năng vô chấp mới được như như bất động. Do như như bất động này nên Phật được gọi là Như Lai. Còn chúng sanh thấy sắc mà tâm ôm cứng lấy, không rời một bước… dù có đổi lấy thân mạng. Tất cả đều do thủ tâm chấp tướng mà ra.

Ngài Hoàng Bá lại nói “Tất cả thanh (nghe) sắc (thấy) là mắt tuệ của Phật”. Cũng cùng cái nghe thấy đó mà biết quay lại (thấy tâm) thì cái nghe thấy ấy chính là mắt tuệ. Vì thấy như vậy là “kiến chiếu vào tự tánh” thì thấy tánh tức giác ngộ. Đó là cái thấy đặc biệt, nên bảo là mắt tuệ của chư Phật.

Kinh Lăng nghiêm Phật bảo ông A nan: “Căn trần đồng một thể (tâm), triền phược và giải thoát không hai (mê thì triền phược, ngộ thì giải thoát). Các thứ hư vọng như hoa đốm giữa hư không. Vì có trần cảnh, nên ở nơi căn khởi ra phân biệt. Vì có năng phân biệt ở nơi căn, nên mới hiện ra cái tướng bị phân biệt là cảnh. Căn (kiến) và cảnh (sắc tướng) đối đãi vọng hiện, chớ không có thật (vô tâm)(1). Cũng như hình cây lau gác nhau. Thế nên, khi thấy, nghe, hay, biết mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh triền phược. Còn khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn. Ở trong chơn tâm thanh tịnh, không dung chứa vật nào khác!”

 

Đó là cái thấy của chơn tâm theo kinh Lăng Nghiêm. Còn một khi thâm nhập Bát nhã Ba la mật, biết “nhân không, pháp không” rồi thì dù cho thấy nghe hay biết cũng đều là không cả. Do đó kinh bảo “Ta chẳng thấy sắc có thể chấp, có thể trước; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức có thể chấp, có thể trước. Ta cũng chẳng thấy có pháp nào có thể chấp có thể trước, cũng chẳng thấy do pháp ấy mà có chấp có trước; do chẳng thấy nên chẳng chấp, do chẳng chấp nên chẳng trước”.

 

Do đó, Kinh MHBNBLMĐ, Phật dạy:

“Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Nhất thiết chủng trí, Vô Thượng Bồ Đề có thể thủ, có thể chấp chăng?

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bach Thế Tôn! Chẳng thể được vậy.

Phật dạy: Lành thay, lành thay! Này Tu Bồ Đề! Ta cũng chẳng thấy sắc… dẫn đến thức có thể thủ, có thể chấp, cũng chẳng thấy Nhất thiết chủng trí, Vô Thượng Bồ Đề có thể thủ, có thể chấp. Vì chẳng thấy như vậy nên chẳng thủ, chẳng chấp.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Ta cũng chẳng thấy Phật pháp, Như Lai pháp, tự nhiên trí pháp, nhất thiết trí pháp có thể thủ, có thể chấp. Vì chẳng thấy như vậy nên chẳng thủ, chẳng chấp.

Lúc bấy giờ hàng chư Thiên cõi Dục và cõi Sắc đồng bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Bát nhã Ba la mật rất thậm thâm, khó thấy, khó giải, chẳng thể suy lường mà biết được. Chỉ có bậc thiện xảo vi diệu, trí huệ tịch diệt, mới có thể tín giải được.

Nếu người nào thâm tín Bát nhã Ba la mật này, thì phải biết đó là bậc đại Bồ Tát. Người đó trong vô lượng kiếp đã cúng dường chư Phật, đã gieo trồng thiện căn, đã thân cận chư thiện tri thức, mới có thể tín giải thâm Bát nhã Ba la mật này vậy”.

 

---o0o---

  


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,243,590