Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

23. Phẩm ‘Vô Biên Tế” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

12/08/202021:17(Xem: 396)
23. Phẩm ‘Vô Biên Tế” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

2.23. phẩm vô biên tế

PHẨM ‘VÔ BIÊN TẾ”

Cuối quyển 420 đến đầu quyển 423, Hội thứ II, ĐBN.

(Tương đương phẩm “Vô Sở Đắc”, cuối Q.61 đến đầu Q.70, Hội thứ I, ĐBN)

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Quảng Thiện Hùng Jordan Le




 



Tóm lược:

 

(Tất cả pháp Phật vô biên tế nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế)

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Các  đại Bồ tát thời trước, thời sau, giữa, ba thời đều vô sở hữu bất khả đắc.

Bạch Thế Tôn! Sắc vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế; thọ tưởng hành thức vô biên tế, nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế. Mười hai xứ, mười tám giới vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế; nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế.

Bạch Thế Tôn! Nội không cho đến không tánh tự tánh, chơn như cho đến an ẩn giới vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát vô biên tế; sáu Ba-la-mật cho đến 37 pháp trợ đạo vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế; tam giải thoát môn cho đến Phật mười lực vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế; bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế. Thanh văn thừa vô biên tế, nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế; Độc giác thừa, Đại thừa vô biên tế, nên phải biết đại Bồ tát cũng vô biên tế.(Tất cả pháp Phật vô biên tế nên đại Bồ tát cũng vô biên tế)

 

(Nơi tất cả pháp Phật, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc,

lìa tất cả pháp Phật, đại Bồ tát cũng vô sở hữu bất khả đắc).

 

Bạch Thế Tôn! Ngay nơi(1) sắc, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly sắc, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi (ở) thọ tưởng hành thức, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly(lìa) thọ tưởng hành thức, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi mười hai xứ, mười tám giới đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly mười hai xứ, mười tám giới, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi nhãn xúc đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc, ly nhãn xúc đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc, ly nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc, ly nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc, ly nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc.

Bạch Thế Tôn! Ngay nơi nội không cho đến vô tánh tự tánh không, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly nội không cho đến vô tánh tự tánh không, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi pháp giới đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly pháp giới đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới… đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới… đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc.

Bạch Thế Tôn! Ngay nơi bố thí Ba-la-mật, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly bố thí, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi ba mươi bảy pháp trợ đạo, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly ba mươi bảy pháp trợ đạo đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi tam giải thoát môn, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly tam giải thoát môn đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi Phật mười lực, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly Phật mười lực, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly bốn vô sở úy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc.(Ngay trong tất cả pháp Phật hay ly tất cả pháp Phật đại Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc).

Bạch Thế Tôn! Ngay nơi Thanh văn thừa, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly Thanh văn thừa, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi Độc giác thừa, Đại thừa Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly Độc giác thừa, Đại thừa Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc.

Bạch Thế Tôn! Con đối tất cả pháp đây, dùng tất cả chủng, tất cả xứ, tất cả thời tìm các Bồ tát đều không thấy, trọn chẳng khá được, làm sao khiến con đem Bát Nhã Ba-la-mật dạy bảo trao truyền cho các Bồ tát được!

Bạch Thế Tôn! Các Bồ tát, Bồ tát chỉ giả danh, đều không tự tánh. Như nói ngã, chúng sanh, thọ giả… rốt ráo chẳng sanh, chỉ có giả danh đều không tự tánh. Các pháp cũng vậy rốt ráo chẳng sanh, chỉ có giả danh đều không tự tánh. (Q. 420, ĐBN)

 

(Tất cả pháp rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi là tất cả pháp.

Lìa rốt ráo chẳng sanh cũng không có Bồ tát năng hành Vô Thượng Bồ đề)

 

Bạch Thế Tôn! Sao là sắc rốt ráo chẳng sanh, sao là thọ tưởng hành thức rốt ráo chẳng sanh? Bạch Thế Tôn! Nếu rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi sắc, cũng chẳng gọi thọ tưởng hành thức. Sao là mười hai xứ, mười tám giới rốt ráo chẳng sanh? Bạch Thế Tôn! Nếu rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi mười hai xứ, cũng chẳng gọi mười tám giới.

Bạch Thế Tôn! Sao là nội không rốt ráo chẳng sanh, sao là ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không rốt ráo chẳng sanh? Bạch Thế Tôn! Nếu rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi nội không, cũng chẳng gọi ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không. Sao là pháp giới rốt ráo chẳng sanh, sao là chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới thảy rốt ráo chẳng sanh? Bạch Thế Tôn! Nếu rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi pháp giới, cũng chẳng gọi chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới thảy.

Bạch Thế Tôn! Sao là sáu Ba-la-mật rốt ráo chẳng sanh? Sao là ba mươi bảy pháp trợ đạo, tam giải thoát môn rốt ráo chẳng sanh? Bạch Thế Tôn! Nếu rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi sáu Ba-la-mật; cũng chẳng gọi là ba mươi bảy pháp trợ đạo cho đến tam giải thoát môn. Sao là Phật mười lực rốt ráo chẳng sanh? Sao là bốn vô sở úy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng rốt ráo chẳng sanh? Bạch Thế Tôn! Nếu rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi Phật mười lực, cũng chẳng gọi bốn vô sở úy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Bạch Thế Tôn! Sao là Thanh văn thừa rốt ráo chẳng sanh, sao là Độc giác thừa, Đại thừa rốt ráo chẳng sanh? Bạch Thế Tôn! Nếu rốt ráo chẳng sanh thời chẳng gọi Thanh văn thừa, cũng chẳng gọi Độc giác thừa hay Đại thừa.

Bạch Thế Tôn! Con đâu có thể đem Bát Nhã Ba-la-mật rốt ráo chẳng sanh dạy bảo trao truyền cho các Bồ tát rốt ráo chẳng sanh được. Bạch Thế Tôn! Lìa rốt ráo chẳng sanh cũng không có Bồ tát năng hành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.(Rốt ráo tất cả pháp Phật cũng chẳng sanh, lìa rốt ráo chẳng sanh cũng không có Bồ tát năng hành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề)

Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát nghe thuyết như thế tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng ưu hối; tâm kia chẳng kinh, chẳng e, chẳng sợ, phải biết Bồ tát này năng hành Bát Nhã Ba-la-mật.

 

Bấy giờ, Tôn giả Xá lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hiện rằng:

- Vì duyên cớ gì nói các Bồ tát ba thời đều vô sở hữu bất khả đắc?

Xá Lợi Tử! Các hữu tình vô sở hữu nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Hữu tình không nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Hữu tình xa lìa nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Hữu tình vô tự tánh nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Sắc vô sở hữu nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; thọ tưởng hành thức vô sở hữu nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Sắc không nên các Bồ tát Ma ha tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; thọ tưởng hành thức không nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Sắc xa lìa nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; thọ tưởng hành thức xa lìa nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Sắc vô tự tánh nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; thọ tưởng hành thức vô tự tánh nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Mười hai xứ, mười tám giới vô sở hữu nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; mười hai xứ, mười tám giới vô sở hữu nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; mười hai xứ, mười tám giới không nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; mười hai xứ, mười tám giới xa lìa nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; mười hai xứ, mười tám giới vô tự tánh nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Tất cả pháp Phật vô sở hữu nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; tất cả pháp Phật không nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; tất cả pháp Phật xa lìa nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc; tất cả pháp Phật vô tự tánh nên các Bồ tát ba thời vô sở hữu bất khả đắc. Vì sao?

Xá Lợi Tử! Trong không như thế, thời trước chẳng khá được, thời sau chẳng khá được, thời giữa chẳng khá được, Bồ tát cũng chẳng khá được. Xá Lợi Tử! Hoặc không như thế, hoặc thời trước, hoặc thời sau, hoặc thời giữa, hoặc Bồ tát, tất cả pháp như thế đều không hai không hai phần. Xá Lợi Tử! Bởi nhân duyên đây tôi tác thuyết này: Các Bồ tát thời trước vô sở hữu bất khả đắc, các Bồ tát thời sau vô sở hữu bất khả đắc, các Bồ tát thời giữa vô sở hữu bất khả đắc.(Ở trong không ba thời không thể nắm bắt được, Bồ tát cũng chẳng có gì nắm bắt được, nên nói Bồ tát ba thời đều vô sở hữu bất khả đắc)

 

Tôn giả Xá lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hiện rằng:

- Vì duyên cớ gì nói sắc vô biên tế nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế; thọ tưởng hành thức vô biên tế nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế? Cho đến Thanh văn thừa vô biên tế nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế; Độc giác thừa, Đại thừa vô biên tế nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế ?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Sắc như hư không, thọ tưởng hành thức như hư không. Vì sao? Xá Lợi Tử! Như hư không ba thời bất khả đắc. Do giới biên bất khả đắc, nên nói là hư không. Sắc cho đến thức cũng lại như thế, ba thời bất khả đắc. Vì sao? Vì sắc cho đến thức đều tánh không vậy. Xá Lợi Tử! Trong không thời trước bất khả đắc, thời sau, thời giữa bất khả đắc, vì giới biên đều bất khả đắc, nên nói là không. Xá Lợi Tử! Bởi nhân duyên đây tôi tác thuyết này: Sắc vô biên tế, nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế; thọ tưởng hành thức vô biên tế, nên phải biết Bồ tát cũng vô biên tế. Cho đến Tam thừa cũng lại như vậy.(trong Tánh không như hư không rộng lớn, chẳng có gì có thể nắm bắt được, Không ai có thể nắm bắt được hư không)

Tôn giả Xá lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hin rằng: 

-Vì duyên cớ nào nói tức sắc, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly sắc, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Tức thọ tưởng hành thức, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly thọ tưởng hành thức, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Cho đến tức Thanh văn thừa, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly Thanh văn thừa, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Tức Độc giác thừa, Đại thừa, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly Độc giác thừa, Đại thừa, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Sắc, tánh sắc không; thọ tưởng hành thức, tánh thọ tưởng hành thức không. Vì sao? Trong sắc tánh không, sắc vô sở hữu bất khả đắc, nên các Bồ tát cũng vô sở hữu bất khả đắc. Trong thọ tưởng hành thức tánh không, thọ tưởng hành thức vô sở hữu bất khả đắc, nên các Bồ tát cũng vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Phi sắc, tánh phi sắc không. Phi thọ tưởng hành thức, tánh phi thọ tưởng hành thức không. Vì sao? Trong phi sắc tánh không, phi sắc vô sở hữu bất khả đắc, nên các Bồ tát cũng vô sở hữu bất khả đắc. Trong phi thọ tưởng hành thức tánh không, phi thọ tưởng hành thức vô sở hữu bất khả đắc, nên các Bồ tát cũng vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Bởi nhân duyên đây tôi tác thuyết này: Ngay nơi sắc, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly sắc, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Ngay nơi thọ tưởng hành thức, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc; ly thọ tưởng hành thức, Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Cho đến Tam thừa cũng lại như vậy.

 

Tôn giả Xá lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hin rằng: 

- Vì duyên cớ gì nói tôi đối tất cả pháp, đem tất cả chủng, tất cả xứ, tất cả thời, tìm các Bồ tát đều không thấy, trọn chẳng khá được, làm sao khiến tôi đem Bát Nhã Ba-la-mật-đa dạy bảo trao truyền cho các Bồ tát?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Sắc, tánh sắc không, nên sắc đối sắc vô sở hữu bất khả đắc. Sắc đối thọ tưởng hành thức vô sở hữu bất khả đắc. Thọ, tưởng, hành, thức trong sắc cũng vô sở hữu bất khả đắc. Thọ, tánh thọ không, nên thọ đối thọ vô sở hữu bất khả đắc. Thọ đối sắc, tưởng, hành, thức vô sở hữu bất khả đắc. Sắc, tưởng, hành, thức trong thọ cũng vô sở hữu bất khả đắc. Tưởng, tánh tưởng không, nên tưởng đối tưởng vô sở hữu bất khả đắc. Tưởng đối sắc, thọ, hành, thức vô sở hữu bất khả đắc. Sắc, thọ, hành, thức trong tưởng cũng vô sở hữu bất khả đắc. Hành và thức cũng lại như vậy v.v… Xá Lợi Tử! Mười hai xứ, mười tám giới tánh mười hai xứ, mười tám giới không, nên mười hai xứ, mười tám giới đối mười hai xứ, mười tám giới vô sở hữu bất khả đắc cũng giống như vậy.

Xá Lợi Tử! Nhãn xúc, tánh nhãn xúc không, nên nhãn xúc đối nhãn xúc vô sở hữu bất khả đắc. Nhãn xúc đối nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc vô sở hữu bất khả đắc. Nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc trong nhãn xúc cũng vô sở hữu bất khả đắc.

Nhĩ xúc, tánh nhĩ xúc không, nên nhĩ xúc đối nhĩ xúc vô sở hữu bất khả đắc. Nhĩ xúc đối nhãn tỷ thiệt thân ý xúc vô sở hữu bất khả đắc. Nhãn tỷ thiệt thân ý xúc trong nhĩ xúc cũng vô sở hữu bất khả đắc. Tỷ xúc, tánh tỷ xúc không, nên tỷ xúc đối tỷ xúc vô sở hữu bất khả đắc. Tỷ xúc đối nhãn nhĩ thiệt thân ý xúc vô sở hữu bất khả đắc. Nhãn nhĩ thiệt thân ý xúc trong tỷ xúc cũng vô sở hữu bất khả đắc. Thiệt xúc, thân xúc, ý xúc… cũng lại như vậy.

Xá Lợi Tử! Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, tánh nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ không, nên nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ đối nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ vô sở hữu bất khả đắc. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ đối nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vô sở hữu bất khả đắc. Nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ trong nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cũng vô sở hữu bất khả đắc. Nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ, tánh nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ không, nên nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ đối nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ vô sở hữu bất khả đắc. Nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ đối nhãn tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vô sở hữu bất khả đắc. Nhãn tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ trong nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ cũng vô sở hữu bất khả đắc. Tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc… cũng lại như vậy.

Xá Lợi Tử! Sáu Ba-la-mật, tánh sáu Ba-la-mật không, nên sáu Ba-la-mật đối sáu Ba-la-mật vô sở hữu bất khả đắc. Sáu Ba-la-mật đối ba mươi bảy pháp trợ đạo, vô sở hữu bất khả đắc. Ba mươi bảy pháp trợ đạo trong sáu Ba-la-mật cũng vô sở hữu bất khả đắc. Như vậy cho đến Phật mười lực, tánh Phật mười lực không, nên Phật mười lực đối Phật mười lực vô sở hữu bất khả đắc. Phật mười lực đối bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng vô sở hữu bất khả đắc. Bốn vô sở úy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng trong Phật mười lực cũng vô sở hữu bất khả đắc. Như vậy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, tánh mười tám pháp Phật bất cộng không, nên mười tám pháp Phật bất cộng đối mười tám pháp Phật bất cộng vô sở hữu bất khả đắc. Mười tám pháp Phật bất cộng đối Phật mười lực cho đến đại từ đại bi đại hỷ đại xả vô sở hữu bất khả đắc. Phật mười lực cho đến… đại xả trong mười tám pháp Phật bất cộng cũng vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Nhất thiết trí, tánh Nhất thiết trí không, nên Nhất thiết trí đối Nhất thiết trí vô sở hữu bất khả đắc. Nhất thiết trí đối Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí vô sở hữu bất khả đắc. Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí trong Nhất thiết trí cũng vô sở hữu bất khả đắc. Đạo tướng trí, tánh Đạo tướng trí không, nên Đạo tướng trí đối Đạo tướng trí vô sở hữu bất khả đắc. Đạo tướng trí đối Nhất thiết trí, Nhất thiết tướng trí vô sở hữu bất khả đắc. Nhất thiết trí, Nhất thiết tướng trí trong Đạo tướng trí cũng vô sở hữu bất khả đắc. Nhất thiết tướng trí, tánh Nhất thiết tướng trí không, nên Nhất thiết tướng trí đối Nhất thiết tướng trí vô sở hữu bất khả đắc. Nhất thiết tướng trí đối Nhất thiết trí, Đạo tướng trí vô sở hữu bất khả đắc. Nhất thiết trí, Đạo tướng trí trong Nhất thiết tướng trí cũng vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Dự lưu, tánh Dự lưu không, nên Dự lưu đối Dự lưu vô sở hữu bất khả đắc. Dự lưu đối Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, Bồ tát, Như Lai vô sở hữu bất khả đắc. Nhất lai cho đến Như Lai trong Dự lưu cũng vô sở hữu bất khả đắc. Như vậy, cho đến Như Lai, tánh Như Lai không, nên Như Lai đối Như Lai vô sở hữu bất khả đắc. Như Lai đối Dự lưu cho đến Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Dự lưu cho đến Bồ tát trong Như Lai cũng vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Bồ tát, tánh Bồ tát không, nên Bồ tát đối Bồ tát vô sở hữu bất khả đắc. Bồ tát đối Bát Nhã Ba-la-mật dạy bảo trao truyền vô sở hữu bất khả đắc. Bát Nhã Ba-la-mật dạy bảo trao truyền trong Bồ tát cũng vô sở hữu bất khả đắc. Bát Nhã Ba-la-mật, tánh Bát Nhã Ba-la-mật không, nên Bát Nhã Ba-la-mật đối Bát Nhã Ba-la-mật vô sở hữu bất khả đắc. Bát Nhã Ba-la-mật đối Bồ tát tát dạy bảo trao truyền vô sở hữu bất khả đắc. Bồ tát dạy bảo trao truyền trong Bát Nhã Ba-la-mật cũng vô sở hữu bất khả đắc. Dạy bảo trao truyền, tánh dạy bảo dạy trao không, nên dạy bảo trao truyền đối dạy bảo trao truyền vô sở hữu bất khả đắc. Dạy bảo trao truyền đối Bồ tát, Bát Nhã Ba-la-mật vô sở hữu bất khả đắc. Bồ tát, Bát Nhã Ba-la-mật trong dạy bảo trao truyền cũng vô sở hữu bất khả đắc.(không có pháp nào trong pháp nào có sở hữu, nên nói tất cả đều vô sở hữu bất khả đắc, không cộng với không cũng là không)

Xá Lợi Tử! Tôi đối tất cả pháp đây thảy, đem tất cả chủng, tất cả xứ, tất cả thời tìm Bồ tát đều vô sở hữu cũng bất khả đắc. Vì sao? Vì tự tánh không vậy. Bởi nhân duyên đây tôi tác thuyết: Đối với tất cả pháp đây, đem tất cả chủng, tất cả xứ, tất cả thời tìm các Bồ tát đều không thấy đâu, trọn chẳng khá được, làm sao khiến tôi đem Bát Nhã Ba-la-mật-đa dạy bảo trao truyền cho các Bồ tát!

 

Tôn giả  Xá lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hin rằng: 

- Vì duyên cớ gì nói các Bồ tát, các Bồ tát chỉ có giả danh đều vô tự tánh?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Vì danh các Bồ tát chỉ nhiếp khách danh.

Khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hiện rằng:

- Do duyên nào nên nói: Tên các Bồ tát chỉ là tạm mượn mà có?

Thiện Hiện đáp:

- Xá lợi Tử! Như tên sắc chỉ là tạm mượn mà có, tên thọ, tưởng, hành, thức cũng chỉ là tạm mượn mà có. Vì sao? Vì sắc chẳng phải là tên, tên chẳng phải là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải là tên, tên chẳng phải là thọ, tưởng, hành, thức. Trong sắc v.v... không có tên, trong tên không có sắc v.v... Chẳng hợp, chẳng tan, chỉ là giả lập. Vì sao? Vì tự tánh của sắc v.v... và tên đều là không. Trong tự tánh không, hoặc sắc v.v... hoặc tên đều vô sở hữu bất khả đắc.

Này Xá lợi Tử! Tên các Bồ tát cũng như vậy, chỉ là tạm mượn mà có. Do đây nên nói các Bồ tát chỉ có giả danh hoàn toàn không có tự tánh.

Xá lợi Tử! Như tên mười hai xứ chỉ tạm mượn mà có, tên mười tám giới chỉ tạm mượn mà có. Vì sao? Vì mười hai xứ chẳng phải tên, tên chẳng phải mười hai xứ. Mười tám giới chẳng phải tên, tên chẳng phải mười tám giới. Trong xứ, giới không có tên, trong tên không có xứ giới. Chẳng hợp chẳng tan, chỉ là giả lập. Vì sao? Vì tự tánh của xứ, giới và tên đều là không. Trong tự tánh không, hoặc xứ, giới hoặc tên đều vô sở hữu bất khả đắc.

Xá Lợi Tử! Như tên sáu Ba-la-mật chỉ tạm mượn mà có; tên ba mươi bảy pháp trợ đạo chỉ tạm mượn mà có. Vì sao? Vì sáu Ba-la-mật chẳng phải tên, tên chẳng phải sáu Ba-la-mật; Ba mươi bảy pháp trợ đạo chẳng phải tên, tên chẳng phải ba mươi bảy pháp trợ đạo. Trong sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo không có tên, trong tên không có sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo. Chẳng hợp chẳng tan, chỉ là giả lập. Vì sao? Vì tự tánh của sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo và tên là không. Trong tự tánh không hoặc sáu Ba-la-mật, hoặc 37 pháp trợ đạo hoặc tên đều vô sở hữu bất khả đắc vậy. Xá Lợi Tử! Tên Bồ tát cũng lại như thế, chỉ tạm mượn mà có. Do đấy nên nói các Bồ tát chỉ có giả danh đều vô tự tánh.

Xá lợi Tử! Cho đến như tên Nhất thiết trí chỉ là tạm mượn mà có; tên Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí cũng chỉ là tạm mượn mà có. Vì sao? Vì Nhất thiết trí chẳng phải là tên, tên chẳng phải là Nhất thiết trí. Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí chẳng phải là tên, tên chẳng phải là Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Trong Nhất thiết trí v.v... không có tên, trong tên không có Nhất thiết trí v.v... Chẳng hợp, chẳng tan, chỉ là giả lập. Vì sao? Vì tự tánh Nhất thiết trí v.v... và tên đều là không. Trong tự tánh không, hoặc Nhất thiết trí v.v... hoặc tên đều vô sở hữu bất khả đắc. Xá lợi Tử! Tên Bồ tát cũng như vậy, chỉ là tạm mượn mà có. Do đây nên nói các Bồ tát chỉ có giả danh hoàn toàn không có tự tánh.

 

Tôn giả Xá lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hiện rằng:

- Vì duyên cớ nào nói như nói ngã, chúng sanh, thọ mạng… rốt ráo chẳng sanh, chỉ có giả danh đều vô tự tánh.

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Ngã rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Cho đến kiến giả cũng rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh?

Xá Lợi Tử! Sắc rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh; thọ tưởng hành thức cũng rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Mười hai xứ, mười tám giới rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Nhãn xúc rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh; nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc cũng rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh; nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ cũng rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Sáu Ba-la-mật rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Nội không rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh; ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không cũng rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. 37 pháp trợ đạo rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Như vậy cho đến Phật mười lực rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh; bốn vô sở úy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Thanh văn thừa rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh; Độc giác thừa, Đại thừa cũng rốt ráo vô sở hữu bất khả đắc, làm sao có sanh. Xá Lợi Tử! Do nhân duyên đây tôi tác thuyết: Như nói ngã, chúng sanh, thọ giả v.v… rốt ráo chẳng sanh, chỉ có giả danh đều vô tự tánh.(Tất cả pháp rốt ráo đều vô sở hữu bất khả đắc làm sao có sanh)

 

Tôn giả Xá Lợi Tử lại hỏi cụ thọ Thiện Hiện:

- Do duyên nào nên nói: Các pháp cũng vậy, rốt ráo không sanh, chỉ có giả danh hoàn toàn không có tự tánh?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá Lợi Tử! Tự tánh các pháp hoàn toàn không hòa hợp. Vì sao? Vì tự tánh pháp hòa hợp cũng không.

Khi ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng:

- Tự tánh pháp nào hoàn toàn không có hòa hợp?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Xá Lợi Tử! Tự tánh của sắc hoàn toàn không có hòa hợp; tự tánh của thọ, tưởng, hành, thức cũng hoàn toàn không có hòa hợp. Tự tánh của mười hai xứ, mười tám giới hoàn toàn không có hòa hợp. Tự tánh của nhãn xúc hoàn toàn không có hòa hợp; tự tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc cũng hoàn toàn không có hòa hợp. Tự tánh của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra hoàn toàn không có hòa hợp; tự tánh của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra cũng hoàn toàn không có hòa hợp. Tự tánh của sáu Ba-la-mật hoàn toàn không có hòa hợp. Tự tánh của ba mươi bảy pháp trợ đạo cũng hoàn toàn không có hòa hợp. Cho đến tự tánh mười lực của Phật hoàn toàn không có hòa hợp; tự tánh của bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng cũng hoàn toàn không có hòa hợp. Cho đến tự tánh của Thanh văn thừa hoàn toàn không có hòa hợp; tự tánh của Độc giác thừa, Đại thừa hoàn toàn cũng không có hòa hợp.

Xá lợi Tử! Do nhân duyên này tôi nói: Các pháp cũng vậy, rốt ráo không sanh, chỉ có giả danh hoàn toàn không có tự tánh.(Tự tánh của tất cả pháp hoàn toàn không có hòa hợp, nên rốt ráo không sanh, chỉ có giả danh hoàn toàn không có tự tánh)

 

Lại nữa, Xá lợi Tử! Các pháp chẳng phải thường cũng không có chỗ đi.

Bấy giờ, Tôn giả Xá lợi Tử hỏi Thiện Hiện:

- Pháp nào chẳng phải thường cũng không có chỗ đi?

Thiện Hiện đáp:

- Xá lợi Tử! Sắc chẳng phải thường cũng không có chỗ đi, thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải thường cũng không có chỗ đi. Vì sao? Vì pháp chẳng thường tự tánh tận vậy. Do đây nên nói pháp nào chẳng phải thường cũng không có chỗ đi.

Xá lợi Tử! Pháp hữu vi chẳng phải thường cũng không có chỗ đi, pháp vô vi chẳng phải thường cũng không có chỗ đi. Pháp hữu lậu chẳng phải thường cũng không có chỗ đi, pháp vô lậu chẳng phải thường cũng không có chỗ đi, pháp thiện chẳng phải thường cũng không có chỗ đi, pháp ác chẳng phải thường cũng không có chỗ đi v.v... Vì sao? Xá lợi Tử! Vì pháp chẳng thường tự tánh tận vậy.

Xá lợi Tử! Do đây nên nói nếu pháp chẳng phải thường cũng không có chỗ đi.

Lại nữa, Xá lợi Tử! Các pháp chẳng thường cũng không hoại diệt.

 

Bấy giờ, Tôn giả Xá lợi Tử lại hỏi  cụ thọ Thiện Hiện:

- Pháp nào chẳng thường cũng không hoại diệt(2)?

Thiện Hiện đáp:

- Xá lợi Tử! Sắc chẳng thường cũng không hoại diệt, thọ, tưởng, hành, thức chẳng thường cũng không hoại diệt. Vì sao? Vì bản tánh như vậy là như vậy.

Xá lợi Tử! Pháp hữu vi chẳng thường cũng không hoại diệt, pháp vô vi chẳng thường cũng không hoại diệt. Pháp hữu lậu chẳng thường cũng không hoại diệt, pháp vô lậu chẳng thường cũng không hoại diệt. Pháp thiện chẳng thường cũng không hoại diệt, pháp ác chẳng thường cũng không hoại diệt v.v… Vì sao? Vì bản tánh như vậy là như vậy.

Xá lợi Tử! Do nhân duyên này nên tôi nói: Các pháp cũng vậy, rốt ráo không sanh, chỉ có giả danh hoàn toàn không có tự tánh.

 

Tôn giả Xá lợi Tử lại hỏi cụ thọ Thiện Hiện:

- Do duyên nào nên nói: Những sắc nào rốt ráo không sanh, những thọ, tưởng, hành, thức nào rốt ráo không sanh, cho đến những Thanh văn thừa nào rốt ráo không sanh; những Độc giác thừa, Đại thừa nào rốt ráo không sanh?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá lợi Tử! Bản tánh tất cả sắc không sanh, bản tánh tất cả thọ, tưởng, hành, thức không sanh. Vì sao? Vì tất cả sắc cho đến thức không có tạo tác nên không có sanh khởi. Vì sao? Vì tất cả sắc cho đến thức tác giả, khởi giả bất khả đắc.

Xá lợi Tử! Cho đến bản tánh tất cả Thanh văn thừa không sanh; bản tánh tất cả Độc giác thừa, Đại thừa không sanh. Vì sao? Vì tất cả Thanh văn thừa, Độc giác thừa, Đại thừa không có tạo tác nên không có sự sanh khởi. Vì sao? Vì tất cả Thanh văn thừa, Độc giác thừa, Đại thừa tác giả, khởi giả bất khả đắc.

Xá lợi Tử! Do nhân duyên này nên tôi nói: Sắc rốt ráo không sanh, thọ, tưởng, hành, thức rốt ráo không sanh, cho đến Thanh văn thừa, Độc giác thừa, Đại thừa rốt ráo không sanh.

 

Tôn giả Xá lợi Tử lại hỏi cụ thọ Thiện Hiện:

- Do duyên nào nên nói: Nếu rốt ráo không sanh thì không gọi là sắc, cũng không gọi là thọ, tưởng, hành, thức, cho đến nếu rốt ráo không sanh thì không gọi là Thanh văn thừa; cũng không gọi là Độc giác thừa, Đại thừa?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá lợi Tử! Sắc bản tánh không. Nếu bản tánh là không, thì không thể thi thiết, hoặc sanh, hoặc diệt, hoặc trụ, hoặc dị. Do duyên này nên nói: Nếu rốt ráo chẳng sanh thì chẳng gọi là sắc. Vì sao? Vì không chẳng phải sắc(3).

Xá lợi Tử! Thọ, tưởng, hành, thức bản tánh không. Nếu bản tánh là không, thì không thể lập hoặc sanh, hoặc diệt, hoặc trụ, hoặc dị. Do duyên này nên nói: Nếu rốt ráo chẳng sanh thì chẳng gọi là thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì không chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức.

Xá lợi Tử! Cho đến Thanh văn thừa bản tánh không. Nếu bản tánh là không, thì không thể lập, hoặc sanh, hoặc diệt, hoặc trụ, hoặc dị. Do duyên này nên nói: Nếu rốt ráo chẳng sanh thì chẳng gọi là Thanh văn thừa. Vì sao? Vì không chẳng phải Thanh văn thừa. Xá lợi Tử! Bản tánh của Độc giác thừa, Đại thừa cũng lại như vậy. Do nhân duyên này tôi nói: Nếu rốt ráo không sanh thì không gọi là sắc, cũng không gọi là thọ, tưởng, hành, thức, cho đến nếu rốt ráo không sanh thì không gọi là Thanh văn thừa, cũng không gọi là Độc giác thừa, Đại thừa.

 

Tôn giả Xá lợi Tử lại hỏi cụ thọ Thiện Hiện:

- Do duyên nào nên nói: Lẽ nào tôi có thể đem Bát Nhã Ba-la-mật rốt ráo không sanh, dạy bảo, truyền trao cho các Bồ tát rốt ráo không sanh?

Cụ thọ Thiện Hiện đáp:

- Xá lợi Tử! Rốt ráo chẳng sanh tức là Bát Nhã Ba-la-mật, Bát Nhã Ba-la-mật tức rốt ráo chẳng sanh. Vì sao? Vì rốt ráo chẳng sanh và Bát Nhã Ba-la-mật không hai, không hai phần(4). Rốt ráo không sanh tức là Bồ tát, Bồ tát tức là rốt ráo không sanh. Vì sao? Vì rốt ráo không sanh và Bồ tát cũng không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Do nhân duyên này tôi nói như vầy: Lẽ nào tôi có thể đem Bát Nhã Ba-la-mật rốt ráo không sanh dạy bảo truyền trao cho các Bồ tát rốt ráo không sanh.

 

Lại nữa, Xá lợi Tử! Theo lời Tôn giả hỏi:

- Do duyên gì nên nói: Lìa rốt ráo chẳng sanh cũng không có Bồ tát có thể hành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?

- Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh mà có Bát Nhã Ba-la-mật. Cũng không thấy không lìa rốt ráo chẳng sanh mà có Bồ tát. Vì sao? Vì hoặc Bát Nhã Ba-la-mật, hoặc Bồ tát cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có sắc, cũng không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì hoặc sắc, hoặc thọ, tưởng, hành, thức cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có 12 xứ, cũng không thấy lìa rốt ráo không sanh có 18 giới. Vì sao? Vì hoặc mười hai xứ, hoặc mười tám giới cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có nhãn xúc, cũng không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc. Vì sao? Vì hoặc nhãn xúc, hoặc nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, cũng không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra. Vì sao? Vì hoặc các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, hoặc các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Nói rộng ra, các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo cho đến Phật mười lực; cũng không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng. Vì sao? Vì hoặc sáu Ba-la-mật, hoặc ba mươi bảy pháp trợ đạo, hoặc bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có Nhất thiết trí; cũng không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Vì sao? Vì hoặc Nhất thiết trí; hoặc  Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có Thanh văn thừa, cũng không thấy lìa rốt ráo chẳng sanh có Độc giác thừa, Đại thừa. Vì sao? Vì hoặc Thanh văn thừa, hoặc Độc giác thừa, Đại thừa cùng với rốt ráo chẳng sanh, không hai, không hai phần.

Xá lợi Tử! Do nhân duyên này tôi nói: Lìa rốt ráo chẳng sanh cũng không có Bồ tát có thể hành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

 

Lại nữa, Xá lợi Tử! Theo lời Tôn giả hỏi: Do duyên nào nên nói: Bồ tát nào nghe nói như vậy, tâm không hoang mang, cũng chẳng lo lắng, hối hận, không kinh hãi, sợ sệt. Nên biết Bồ tát này có thể hành Bát nhã.

Xá lợi Tử! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã, không thấy các pháp thật có tác dụng, chỉ thấy các pháp như mộng, như huyễn, như tiếng vang, như bóng sáng, như sóng nắng, như ảnh ảo, như thành tầm hương (Càn thát bà), như việc biến hóa, tuy hiện như có, nhưng không thật dụng. Nghe nói bản tánh các pháp đều không, sanh tâm rất hoan hỷ, xa lìa hoang mang.

Xá lợi Tử! Do nhân duyên này nên tôi nói: Bồ tát nào nghe nói như vậy, tâm không hoang mang, cũng không lo lắng, hối hận, không kinh hãi, không sợ sệt. Nên biết Bồ tát này có thể hành Bát Nhã Ba-la-mật. (Q.422, ĐBN)

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng(5):

- Bạch Thế Tôn! Nếu khi Bồ tát tu hành Bát nhã quán sát các pháp. Khi ấy, Bồ tát đối sắc không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Đối thọ tưởng hành thức không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này lúc bấy giờ chẳng thấy sắc cho đến thức vậy. Đối với mười hai xứ không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Đối với mười tám giới cũng không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này lúc bấy giờ chẳng thấy xứ cho đến giới vậy. Đối nhãn xúc không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Đối nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này bấy giờ chẳng thấy nhãn xúc cho đến ý xúc vậy. Đối nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Đối nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này chính lúc bấy giờ chẳng thấy nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ cho đến ý xúc làm duyên sanh ra các thọ vậy. (Q.423, ĐBN)

Đối nội không không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Đối ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán vô tán không, bổn tánh không, tự cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này lúc bấy giờ chẳng thấy nội không cho đến vô tánh tự tánh không vậy. Đối với sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này chính lúc bấy giờ chẳng thấy sáu Ba-la-mật cho đến ba mươi bảy pháp trợ đạo vậy. Như vậy cho đến đối Phật mười lực không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Đối bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này lúc bấy giờ chẳng thấy Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng vậy. Cho đến đối Nhất thiết trí không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Đối Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí không thọ, không lấy, không trụ, không trước, cũng chẳng thi thiết là ngã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Bồ tát này chính lúc bấy giờ chẳng thấy Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí vậy.

Bạch Thế Tôn! Các Bồ tát khi tu hành Bát nhã chẳng thấy sắc, cũng chẳng thấy thọ tưởng hành thức. Vì sao? Sắc thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy mười hai xứ, mười tám giới. Vì  sao? Xứ, giới thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy nhãn xúc, cũng chẳng thấy nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc. Vì sao? Nhãn xúc thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, cũng chẳng thấy nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ. Vì sao? Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy nội không, cũng chẳng thấy ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không. Vì sao? Nội không thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy pháp giới; cũng chẳng thấy chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới thảy. Vì sao? Pháp giới thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo. Vì sao? Sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Như vậy cho đến chẳng thấy Phật mười lực, cũng chẳng thấy bốn vô sở úy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Vì sao? Phật mười lực thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy Bồ tát hạnh, cũng chẳng thấy chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vì sao? Tất cả Bồ tát hạnh thảy tánh không, vô sanh diệt vậy. Chẳng thấy Nhất thiết trí; cũng chẳng thấy Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Vì sao? Nhất thiết trí thảy tánh không, vô sanh diệt vậy.

Bạch Thế Tôn! Sắc chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải sắc; thọ tưởng hành thức chẳng sanh chẳng diệt cũng phi thọ tưởng hành thức. Vì sao? Vì sắc, thọ, tưởng v.v… cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng nhiều, chẳng khác. Vậy nên sắc chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải sắc; thọ tưởng hành thức chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải thọ tưởng hành thức.

Bạch Thế Tôn! Mười hai xứ, chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải mười hai xứ, mười tám giới chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải mười tám giới. Vì sao? Vì xứ giới cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng nhiều, chẳng khác. Vậy nên mười hai xứ chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải mười hai xứ; mười tám giới chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải mười tám giới.

Bạch Thế Tôn! Nhãn xúc chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải nhãn xúc, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc. Vì sao? Vì nhãn xúc thảy cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng nhiều, chẳng khác. Vậy nên nhãn xúc chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải nhãn xúc, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ. Vì sao? Vì nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ thảy cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng nhiều, chẳng khác. Vậy nên nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ.

Bạch Thế Tôn! Nội không chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải nội không; ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không. Vì sao? Vì nội không thảy cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai chẳng nhiều, chẳng khác. Vậy nên nội không chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải nội không; ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không. Pháp giới chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải pháp giới; chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới thảy chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới thảy. Vì sao? Vì pháp giới thảy cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng nhiều, chẳng khác. Vậy nên pháp giới chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải pháp giới; chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới thảy chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới thảy.

Bạch Thế Tôn! Sáu Ba-la-mật chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải sáu Ba-la-mật; ba mươi bảy pháp trợ đạo chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải ba mươi bảy pháp trợ đạo. Vì sao? Vì Sáu Ba-la-mật cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng nhiều, chẳng khác. Vậy nên sáu Ba-la-mật chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải sáu Ba-la-mật; mười hai xứ, mười tám giới chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải mười hai xứ, mười tám giới.

Bạch Thế Tôn! Tất cả Bồ tát hạnh chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải tất cả Bồ tát hạnh. Chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vì sao? Vì tất cả Bồ tát hạnh thảy cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải nhiều, chẳng phải khác. Vậy nên tất cả Bồ tát hạnh chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải tất cả Bồ tát hạnh. Chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Bạch Thế Tôn! Nhất thiết trí chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải Nhất thiết trí; Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Vì sao? Vì Nhất thiết trí thảy cùng chẳng sanh chẳng diệt, không hai không hai phần. Vì sao? Vì pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải nhiều, chẳng phải khác. Vậy nên Nhất thiết trí chẳng sanh chẳng diệt tức chẳng phải Nhất thiết trí; Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí chẳng sanh chẳng diệt cũng chẳng phải Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí.

Bạch Thế Tôn! Sắc chẳng hai (bất nhị) tức chẳng phải sắc, thọ tưởng hành thức chẳng hai cũng chẳng phải thọ tưởng hành thức. Mười hai xứ chẳng hai tức chẳng phải mười hai xứ, mười tám giới chẳng hai cũng chẳng phải mười tám giới. Nhãn xúc chẳng hai tức chẳng phải nhãn xúc, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc chẳng hai cũng chẳng phải nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ chẳng hai tức chẳng phải nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ chẳng hai cũng chẳng phải nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ.

Nội không chẳng hai tức chẳng phải nội không, ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không chẳng hai cũng chẳng phải ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không. Pháp giới chẳng hai tức chẳng phải pháp giới; chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới… chẳng hai cũng chẳng phải chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới...

Sáu Ba-la-mật chẳng hai tức chẳng phải sáu Ba-la-mật; ba mươi bảy pháp trợ đạo chẳng hai tức chẳng phải ba mươi bảy pháp trợ đạo. Như vậy, Phật mười lực chẳng hai tức chẳng phải Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng chẳng hai chẳng phải mười tám pháp Phật bất cộng. Tất cả Bồ tát hạnh chẳng hai tức chẳng phải tất cả Bồ tát hạnh. Chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề chẳng hai tức chẳng phải chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Nhất thiết trí chẳng hai tức chẳng phải Nhất thiết trí; Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí chẳng hai cũng chẳng phải Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí.

Bạch Thế Tôn! Sắc nhập vô nhị pháp số (vào pháp số không hai)(6), thọ tưởng hành thức nhập vô nhị pháp số. Mười hai xứ nhập vô nhị pháp số, mười tám giới nhập vô nhị pháp số. Nhãn xúc nhập vô nhị pháp số, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc nhập vô nhị pháp số. Nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ nhập vô nhị pháp số, nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ nhập vô nhị pháp số. Nội không nhập vô nhị pháp số, ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không nhập vô nhị pháp số. Pháp giới nhập vô nhị pháp số; chơn như, thật tế, bất tư nghì giới, an ẩn giới… nhập vô nhị pháp số. Sáu Ba-la-mật nhập vô nhị pháp số, ba mươi bảy pháp trợ đạo nhập vô nhị pháp số. Như vậy cho đến Phật mười lực nhập vô nhị pháp số. Tất cả Bồ tát hạnh nhập vô nhị pháp số. Chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề nhập vô nhị pháp số. Nhất thiết trí nhập vô nhị pháp số; Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí nhập vô nhị pháp số.

 

Thích nghĩa:

(1). Bản dịch đã củ soát dịch là "ngay nơi sắc", trong khi bản dịch của của HT Thích Trí Nghiệm lại dịch "tức sắc". Nguyên văn bản chữ Hán là " tức sắc"

(2). Pháp nào chẳng thường cũng không hoại diệt: Nguyên văn bằng chữ Hán là:      pháp   phi thường . diệc sở khứ ” .

(3). Nguyên văn câu chữ Hán: “ giả . Lợi Tử . sắc bổn tánh không cố . nhược pháp bổn tánh không tắc bất khả thi thiết nhược sanh . nhược diệt . nhược trụ . nhược dị . do thử duyên cố . nhược tất cánh bất sanh tắc bất danh sắc . cố . không phi sắc cố” là: “Này Xá lợi Tử! Sắc bản tánh không. Nếu bản tánh là không, thì không thể thi thiết, hoặc sanh, hoặc diệt, hoặc trụ, hoặc dị (đổi dời). Do duyên này nên nói: Nếu rốt ráo chẳng sanh thì chẳng gọi là sắc. Vì sao? Vì không chẳng phải sắc”.

(4). Không hai, không hai phần, dịch nguyên văn câu chữ Hán: nhị nhị xứ cố”. Các bản khác thường dịch từ “xứ” chữ Hán là “chỗ”, có khi không dịch ra chữ Việt, giữ y nguyên văn chữ Hán là “xứ”; nhiều bản dịch lại thường dịch là “phần”. Chúng tôi chọn từ phổ thông nhất là phần.

(5). Đoạn Kinh này từ đây trở xuống tương đương với phẩm “Quán Hạnh” từ quyển 70 đến phần cuối quyển thứ 71, tập 03, Hội thứ I.

(6). Sắc nhập vô nhị pháp số: Dịch là sắc vào pháp số chẳng hai, nguyên văn chữ Hán là sắc nhập nhị pháp số”. Pháp số chỉ các con số đứng trước những danh từ như nhị nguyên(phân hai), tam tế(ba thời), tứ cú… Trong đạo Phật thay vì nói chẳng phải một thì nói chẳng hai (vô nhị, bất nhị), vì có một tức có hai, có hai tức có ba…, chẳng hai tức chỉ có một, duy nhất một. Vì vậy, từ sắc cho đến Nhất thiết trí vào vô nhị pháp số không rối! (Xem lại thích nghĩa trong phẩm “Quán Hạnh”, quyển 71 và 72, tập 03, ĐBN)

Tự điển Phật Quang giải thích pháp số như sau:(法數) Cũng gọi Danh số, Sự số. Chỉ cho những danh từ trong Phật giáo có chữ chỉ số đứng trước. Như: Tam giới (3 cõi), Tứ đế(4 đế), Ngũ uẩn(5 uẩn), Lục độ (6 độ), Bát chính đạo(8 chính đạo), Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên), Ngũ vị thất thập ngũ pháp (5 vị 75 pháp) v.v... Thông thường các số này được ghi theo hình thức tăng 1 số từ 1 theo thứ tự đến 2, 3, 4 v.v... Kinh Tạp A hàm, Kinh Bản sự... lấy pháp số làm trung tâm để giải thích các Kinh nói về pháp số. Kinh Pháp tập danh số cũng là Kinh điển liệt kê pháp số. Lý Sư Chính đời Đường biên soạn Pháp môn danh nghĩa tập, Nhất Như đời Minh biên soạn Đại minh tam tạng pháp số... đều là các trứ tác sưu tập các pháp số. Ngoài ra, các sách đồng loại còn có: Đại tạng pháp số, Tạng thừa pháp số, Chư thừa pháp số... lưu hành rất rộng.

 

Lược giải:

 

Kinh thuyết: “Sắc chẳng sanh chẳng diệt thì chẳng phải sắc” và Kinh cũng thuyết “sắc chẳng hai tức chẳng phải sắc”. Sanh và diệt là nhị pháp: Tất cả pháp hữu vi do duyên hợp lại từ không mà trở thành có thì gọi là sanh; các pháp đang hiện hữu mà biến hoại, tan rã thì gọi là diệt. Sự xuất hiện và tan rã đó gọi là sanh diệt. Sinh và diệt là nhị nguyên, pháp phân hai. Pháp không hai, tức chẳng sanh chẳng diệt, thì không thành một pháp, nên Kinh nói: Sắc chẳng hai tức chẳng phải sắc. Ngược lại, bất sanh bất diệt là vô nhị. Pháp nào thường còn bất biến, nằm ngoài sự phân biệt của lưỡng nguyên đối đãi thì gọi là pháp bất nhị. Pháp Phật là pháp môn bất nhị. Khi thấy sắc nội, ngoại, hay cả nội ngoại đều không, vô sở hữu bất khả đắc thì lúc đó sẽ biết sắc nhập vô nhị pháp số.

Xin đọc lại phẩm “Vô Sở Đắc”, cuối quyển 61 đến đầu quyển 70 và phần đầu phẩm “Quán Hạnh”, Hội thứ I, ĐBN. Vì hai phẩm này dễ hiểu hơn.

 

Lưu ý:

Vì không muốn trùng tuyên nên chúng tôi không lặp lại các chiết giải của Hội thứ I ở đây. Như nhiều lần nhắc nhở nội dung của 5 Hội đầu gần như giống nhau chỉ khác là giải rộng hay tóm lược mà thôi. Chúng tôi tập trung thích nghĩa và lược giải nhiều ở Hội thứ I và Hội thứ IV. Chỉ cần nắm vững một Hội là nắm vững các Hội khác. Đó là đứng về phương diện chiết giải kinh. Đứng về phương diện trì tụng chánh văn Bát Nhã hoàn toàn khác hẳn.

Sở dĩ, Kinh trùng tụng chánh văn trong 5 Hội cùng một chủ đề như nhau là vì sự trùng tụng không ngoài mục đích ru ngủ các cảm quan và ý thức của chúng ta vì cảm quan và ý thức là một thứ đo lường lệch lạc, chúng không thể cho ta những phán xét trung thực. Nhờ trùng tụng qua năm tháng các cảm quan ý thức sẽ giảm bớt áp lực của chúng hay nói khác là giảm thiểu ảnh hưởng của chúng trong đời sống thường nhật. Chúng là thứ được coi là mau mắn, nhanh nhẹn giăng trước mắt tai mũi lưỡi của chúng ta, như Thiền sư D.T. Suzuki nói là “làm việc cũng muốn trả ơn”. Do sự đọc tụng lâu ngày một giác quan mới sẽ nhảy vào để thay thế vai trò của chúng trong nhận thức. Đó là trực giác thực chứng phát sinh qua trì tụng. Người ta tin tưởng rằng với trực giác mới này sẽ cho ta một huệ nhãn có thể soi sáng suốt cõi đời vô tận!

Cứ một mặt trì tụng, trì tụng mãi rồi sẽ thấy cái bí ẩn lạ lùng này!

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn