Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

10. Phẩm “Huyễn Dụ” (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu; Diễn đọc: Phật tử Quảng Tịnh; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Phước)

08/08/202009:11(Xem: 4674)
10. Phẩm “Huyễn Dụ” (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu; Diễn đọc: Phật tử Quảng Tịnh; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Phước)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***

2.10. Huyễn Dụ - QT

PHẨM “HUYỄN DỤ”



Phần cuối quyển 410, Hội thứ II, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Thí Dụ”, quyển 42 trở đi, Hội thứ I, ĐBN)



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước




 

 

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Giả sử có người hỏi: Nếu nhà ảo thuật có thể học Bát Nhã, cho đến học bố thí Ba la mật thì người ấy có thể thành tựu Nhất thiết trí trí không? Nếu nhà ảo thuật có thể học bốn niệm trụ cho đến học mười tám pháp Phật bất cộng thì người ấy có thể thành tựu Nhất thiết trí trí không? Nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như thế nào?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Ta hỏi lại ông, tùy theo ông trả lời. Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao sắc cùng với huyễn có khác không? Thọ, tưởng, hành, thức cùng với huyễn có khác nhau không?

- Bạch Thế Tôn! Không khác!

Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao mười hai xứ, mười tám giới cùng với huyễn có khác nhau không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo cùng với huyễn có khác nhau không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao pháp môn giải thoát không, pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cùng với huyễn có khác nhau không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao Bố thí Ba la mật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cùng với huyễn có khác nhau không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật cùng với huyễn có khác nhau không?

Thiện Hiện thưa:  

- Bạch Thế Tôn! Không! Vì sao? Vì sắc chẳng khác huyễn, huyễn chẳng khác sắc. Sắc tức là huyễn, huyễn tức là sắc. Như vậy, cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật không khác huyễn, huyễn không khác Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là huyễn, huyễn tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao Huyễn có tạp nhiễm, có thanh tịnh không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao Huyễn có sanh, có diệt không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao nếu pháp nào không tạp nhiễm, không thanh tịnh, không sanh, không diệt, thì pháp đó có thể học Bát Nhã, thành tựu Nhất thiết trí trí không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao ở trong năm uẩn phát sanh ra các tưởng, từ tưởng sanh ra ngôn thuyết giả gọi Bồ Tát phải không?

- Bạch Thế Tôn! Đúng như vậy!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao trong năm uẩn phát sanh ra các tưởng, từ tưởng phát ra ngôn thuyết giả lập có sanh, có diệt, có tạp nhiễm, có thanh tịnh phải không?

- Bạch Thế Tôn! Không!

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao nếu pháp vô tưởng hay vô đẳng tưởng, không thiết lập, không ngôn thuyết, không giả danh, không thân, không nghiệp của thân, không ngữ, không nghiệp của ngữ, không ý, không nghiệp của ý, không tạp nhiễm, không thanh tịnh, không sanh, không diệt thì pháp này có thể học Bát Nhã, thành tựu Nhất thiết trí trí không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không!

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Bồ Tát nào đem vô sở đắc làm phương tiện tu học Bát Nhã thậm thâm như vậy, sẽ mau thành tựu Nhất thiết trí trí.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Bồ Tát nào muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải như huyễn nhân học Bát Nhã. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Nên biết huyễn nhân chẳng khác năm uẩn.

Phật bảo Thiện Hiện:

- Ý ông nghĩ sao năm uẩn như huyễn có thể học Bát Nhã, sẽ được thành tựu Nhất thiết trí trí không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không! Vì sao? Vì năm uẩn như huyễn, lấy vô tánh làm tự tánh, vô tánh tự tánh bất khả đắc.

Phật bảo Thiện Hiện:

- Ý ông nghĩ sao năm uẩn như mộng có thể học Bát Nhã, sẽ được thành tựu Nhất thiết trí trí không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không! Vì sao? Vì năm uẩn như mộng, lấy vô tánh làm tự tánh, vô tánh tự tánh bất khả đắc.

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao năm uẩn như tiếng vang, như ảnh ảo, như bóng sáng, như sóng nắng, như hoa đốm giữa hư không, như biến hóa, như thành Càn thát bà có thể học Bát Nhã, sẽ được thành tựu Nhất thiết trí trí không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không! Vì sao? Vì năm uẩn như tiếng vang cho đến như thành Càn thát bà lấy vô tánh làm tự tánh, vô tánh tự tánh bất khả đắc.

Phật bảo:

- Này Thiện Hiện! Ý ông nghĩ sao năm uẩn như huyễn v.v... đều có tánh khác không?

Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không! Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì ngũ uẩn như huyễn v.v... tức là ngũ uẩn như mộng. Năm uẩn như huyễn v.v... tức là sáu căn như huyễn v.v.... Sáu căn như huyễn v.v... tức là năm uẩn như huyễn v.v.... Như vậy, tất cả đều do pháp không nội nên bất khả đắc, cho đến pháp không vô tánh tự tánh nên bất khả đắc.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại thưa:

- Bạch Thế Tôn! Các Bồ Tát mới hướng đến Đại thừa, nghe nói Bát Nhã thâm sâu như vậy, tâm họ sẽ không kinh, không hãi, không ngại phải không?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Các Bồ Tát mới hướng đến Đại thừa, khi tu hành Bát nhã Ba la mật, nếu không có phương tiện thiện xảo, chẳng được bạn lành hộ trì, nghe nói Bát nhã Ba la mật thậm thâm như vậy, thì tâm đâm ra kinh, hãi, e ngại.

Tôn giả Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật có phương tiện thiện xảo, nghe nói Bát nhã Ba la mật thậm thâm như vậy, tâm họ không kinh, không hãi, không e ngại?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật, đem tâm tương ưng với Nhất thiết trí trí quán tướng vô thường của sắc bất khả đắc, quán tướng vô thường của thọ, tưởng, hành, thức cũng bất khả đắc. Quán tướng khổ của sắc cũng bất khả đắc, quán tướng khổ của thọ, tưởng, hành, thức cũng bất khả đắc. Quán tướng vô ngã, quán tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện, tịch tịnh, viễn ly của ngũ uẩn cũng bất khả đắc.

Này Thiện Hiện! Bồ Tát này khi tu hành Bát Nhã vì có phương tiện thiện xảo, nên nghe nói Bát nhã Ba la mật thậm thâm như vậy, tâm họ không kinh, không hãi, không e ngại.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bồ Tát nào quán như vậy rồi, lại nghĩ: Ta sẽ đem vô sở đắc làm phương tiện vì tất cả hữu tình nói tướng vô thường của năm uẩn như vậy cũng bất khả đắc; tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện v.v… cũng bất khả đắc. Đó là Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật không chấp bố thí Ba la mật.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật, xa lìa tác ý tương ưng với Thanh văn, Độc giác, mà tư duy tướng vô thường của năm uẩn cũng bất khả đắc; tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện v.v… cũng bất khả đắc, vì đem vô sở đắc làm phương tiện. Đó là Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật không chấp tịnh giới Ba la mật.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật, đem vô sở đắc làm phương tiện, quán pháp như vậy, tướng vô thường cũng bất khả đắc; tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện v.v… cũng bất khả đắc. Có thể ở trong đó an nhẫn vui thích, không kinh, không hãi, không e ngại. Đó là Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật không chấp trước an nhẫn Ba la mật.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật đem tâm tương ưng với Nhất thiết trí trí, thường quán tướng vô thường của năm uẩn cũng bất khả đắc; tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện v.v… cũng bất khả đắc. Tuy đem vô sở đắc làm phương tiện nhưng thường không bỏ tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí, thường tu Bát nhã Ba la mật. Đó là Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật không chấp trước tinh tấn Ba la mật.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật, không đem tác ý tương ưng với Thanh văn, Độc giác mà tư duy tướng vô thường của năm uẩn cũng bất khả đắc; tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện v.v… cũng bất khả đắc. Vì đem vô sở đắc làm phương tiện, ở trong đó không phát sanh tác ý tương ưng với Thanh văn, Độc giác và tâm tán loạn, bất thiện khác làm chướng ngại Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó là Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật không chấp trước tịnh lự Ba la mật.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật, như thật quán sát chẳng phải sắc thuộc không nên không không thuộc sắc mà là sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Chẳng phải mười hai xứ thuộc không, nên không không thuộc mười hai xứ mà là mười hai xứ tức không, không tức mười hai xứ. Chẳng phải mười tám giới thuộc không, nên không không thuộc mười tám giới mà là mười tám giới tức không, không tức mười tám giới. Chẳng phải bốn niệm trụ thuộc không, nên không không thuộc bốn niệm trụ mà bốn niệm trụ tức không, không tức bốn niệm trụ. Như vậy, cho đến chẳng phải mười tám pháp Phật bất cộng thuộc không, nên không không thuộc mười tám pháp Phật bất cộng mà là mười tám pháp Phật bất cộng tức không, không tức mười tám pháp Phật bất cộng. Đó là Bồ Tát không chấp trước Bát nhã Ba la mật.

Này Thiện Hiện! Như vậy, Bồ Tát khi tu hành Bát Nhã vì có phương tiện thiện xảo nên nghe nói Bát nhã Ba la mật thâm sâu như vậy, tâm không kinh, không hãi, không e ngai.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Bồ Tát khi tu hành Bát Nhã được các bạn lành hỗ trợ như thế nào nên nghe nói Bát nhã Ba la mật thậm thâm mà tâm họ không kinh, không hãi, không e ngại?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Các bạn lành của Bồ Tát hoặc có thể đem vô sở đắc làm phương tiện nói tướng vô thường của sắc cũng bất khả đắc, nói tướng vô thường của thọ, tưởng, hành, thức cũng bất khả đắc. Nói tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện của ngũ uẩn v.v… cũng bất khả đắc và khuyên nương vào đó siêng năng tu tập thiện căn, không phải để hồi hướng quả Thanh văn, Độc giác, mà chỉ để cầu được Nhất thiết trí trí. Đó là bạn lành của Bồ Tát.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bạn lành của các Bồ Tát hoặc có thể đem vô sở đắc làm phương tiện, nói tướng vô thường của mười hai xứ, mười tám giới bất khả đắc; tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện v.v… cũng bất khả đắc và khuyên nương vào đó siêng năng tu tập thiện căn, không phải để hồi hướng quả Thanh văn, Độc giác, mà chỉ để cầu được Nhất thiết trí trí. Đó là bạn lành của Bồ Tát.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bạn lành các Bồ Tát hoặc có thể đem vô sở đắc làm phương tiện, tuy nói tu bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo bất khả đắc; tuy nói tu ba môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện bất khả đắc; tuy nói tu mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng bất khả đắc; tuy nói tu Nhất thiết trí cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng bất khả đắc, nhưng vẫn khuyên nương vào đó siêng tu tập thiện căn, không cho hướng đến Thanh văn, Độc giác, mà chỉ để cầu được Nhất thiết trí trí. Đó là bạn lành của Bồ Tát.

Bồ Tát nào khi tu hành Bát Nhã được bạn lành này hộ trì thì nghe nói Bát Nhã thâm sâu như vậy, tâm sẽ không kinh, không hãi, không e ngại.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát khi tu hành Bát Nhã, không có phương tiện thiện xảo, nên nghe nói Bát Nhã thâm sâu như vậy, tâm họ có kinh, có hãi, có e ngại?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Bồ Tát nào khi tu hành Bát nhã Ba la mật, lấy s đắc làm phương tiện, xa lìa tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí tu hành Bát Nhã. Đối với tu Bát nhã Ba la mật thấy có chứng có đắc, ỷ lại, lấy sở đắc làm phương tiện nên xa lìa tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí. Tuy tu hành tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba la mật. Đối với tu tịnh lự cho đến bố thí Ba la mật thấy có chứng có đắc, ỷ lại, lấy sở đắc làm phương tiện, nên xa lìa tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí. Tu hành bốn niệm trụ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Đối với việc tu bốn niệm trụ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng thấy có chứng có đắc, ỷ lại, lấy sở đắc làm phương tiện nên xa lìa tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí. Như vậy, Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật, không có phương tiện thiện xảo, nên nghe nói Bát nhã Ba la mật thậm thâm, tâm họ có kinh, có hãi, có e ngại.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại thưa:

- Bạch Thế Tôn! Bồ Tát khi tu hành Bát Nhã bị các bạn ác khống chế như thế nào nên khi nghe Bát nhã Ba la mật thậm thâm tâm họ bị kinh, hãi, e ngại?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Các bạn ác của Bồ Tát hoặc bảo họ nhàm chán xa lìa Bát Nhã, hoặc bảo nhàm chán xa lìa sáu pháp Ba la mật: Các ông không nên tu học những pháp này. Vì sao? Vì sáu pháp Ba la mật như vậy không phải do Phật nói mà do những người làm văn kệ hư dối tạo ra. Vì vậy, các ông không nên nghe theo, không nên thọ trì, không nên đọc tụng, không nên tư duy, không nên nghiên cứu, không nên giảng nói khai thị cho người khác.

Thiện Hiện! Đó là bạn ác của Bồ Tát.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bạn ác của các Bồ Tát hoặc trá hình làm Phật đến bảo Bồ Tát nhàm chán xa lìa sáu pháp Ba la mật, hoặc trá hình Phật đến giảng nói khai bày các pháp tương ưng với Thanh văn, Độc giác cho Bồ Tát, hoặc trá hình Phật đến chỗ Bồ Tát nói như vầy: Các ông chẳng phải là Bồ Tát, không có Bồ đề tâm, không thể an trụ địa vị Bất thối chuyển, không thể chứng đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đã mong cầu; hoặc trá hình Phật đến bảo Bồ Tát: Các ông nên biết uẩn, xứ, giới không, không có ngã, ngã sở; bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo không, không có ngã, ngã sở; bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật không, không có ngã, ngã sở; Phật mười lực cho đến tám pháp Phật bất cộng không, không có ngã, ngã sở thì cần gì quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Hoặc ác ma trá hình Độc giác đến chỗ Bồ Tát nói như vầy: Ôi, thiện nam tử! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, Thanh văn, Bồ Tát trong thế giới mười phương đều vô sở hữu. Đối với việc này ông nên tin nhận kỹ, chớ tự mình siêng năng khổ nhọc mong cầu, cúng dường, nghe giảng Chánh pháp như lời dạy mà tu hành. Hoặc ác ma trá hình Thanh văn đến chỗ Bồ Tát, làm cho họ nhàm chán xa lìa tác ý tương ưng với Nhất thiết trí trí, đồng thời lại làm cho họ ưa thích tác ý tương ưng với Thanh văn, Độc giác.

Lại nữa, này Thiện Hiện! Bạn ác của Bồ Tát hoặc không nói việc ma, lỗi ma cho người, nghĩa là không nói có ác ma trá hình cha mẹ đến chỗ Bồ Tát bảo: Con ơi! Con nên siêng năng cầu chứng quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, đủ để được dứt hẳn khổ lớn sanh tử, mau chứng Niết bàn, cứu cánh an lạc rồi, cần gì phải hướng đến quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật xa xôi; mong cầu quả Bồ đề cần phải trải vô lượng, vô số đại kiếp luân hồi sanh tử, giáo hóa hữu tình; xả bỏ mạng sống uổng công khổ nhọc, ai mà biết đến ơn con. Sự mong cầu Bồ đề có khi chứng được, có khi không?

Lại nữa, bọn ác ma có thể trá hình làm Bí sô đến chỗ Bồ Tát, lấy sở đắc làm phương tiện, nói tướng vô thường của sắc thật có thể đắc; nói tướng vô thường của thọ, tưởng, hành, thức thật có thể đắc. Nói tướng khổ, tướng vô ngã, tướng bất tịnh, tướng không, vô tướng, vô nguyện, tịch tịnh, viễn ly của ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới… thật có thể đắc. Lấy sở đắc làm phương tiện, nói tướng bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo thật có thể đắc, khiến họ tu học. Lấy sở đắc làm phương tiện nói bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật thật có thể đắc, khiến họ tu học. Lấy sở đắc làm phương tiện nói ba môn giải thoát, các Đà la ni, Tam ma địa thật có thể đắc, khiến họ tu học. Lấy sở đắc làm phương tiện nói năm loại mắt, sáu phép thần thông thật có thể đắc, khiến họ tu học. Lấy sở đắc làm phương tiện nói Phật mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng thật có thể đắc, khiến họ tu học.

Nếu Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật bị bạn ác này khuynh đảo, khống chế như vậy, thì khi nghe nói Bát nhã Ba la mật thậm thâm, tâm họ bị kinh, bị hãi hay e ngại. Vì thế, Bồ Tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật, đối với các bạn ác nên quan sát kỹ, tìm cách xa lìa.

 

Lược giải:

 

1. Bát Nhã với cái nhìn “Như huyễn”.

 

Đoạn Kinh sau đây tóm lược thuyết như huyễn rõ ràng, nên được trích dẫn lại để độc giả thưởng thức:

“Phật hỏi Tu Bồ Đề:

- Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, Huyễn (Maya) khác với Sắc (rupam), Sắc khác với Huyễn? Lại nữa, ý ông nghĩ sao, Huyễn khác với Thọ (vedana), tưởng (samjna), Hành (samskara), Thức (vijnana)? Và Thọ, tưởng, Hành, Thức có khác với Huyễn không? 

Tu Bồ Đề thưa:

- Bạch Thế Tôn! Chúng không khác.

Nếu Sắc khác Huyễn, Sắc không phải là Sắc; nếu Huyễn khác với Sắc, Huyễn không phải là Huyễn. Huyễn là Sắc và Sắc là Huyễn. Thọ, tưởng, Hành và Thức cũng vậy.

Phật:

- Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, năm thủ uẩn có phải là Bồ Tát hay không?

Tu Bồ Đề:

- Bạch Thế Tôn! Không.

Phật:

- Này Tu Bồ Đề, ông nên biết rằng, năm thủ uẩn tức thị Huyễn. Tại sao? Bởi vì Sắc là như Huyễn, Thọ, tưởng, Hành, Thức cũng như Huyễn; năm uẩn và sáu căn tức thị Bồ Tát, cho nên Bồ Tát cũng như Huyễn. Nếu ai muốn học Bát nhã Ba la mật, hãy nên như Huyễn mà học... Những Bồ Tát sơ trụ Đại thừa, nếu theo các bậc thiện tri thức mà học, khi nghe pháp đó sẽ không sinh ra kinh hoàng và sợ hãi”.

Đó là giáo pháp ghê gớm nhất, làm thay đổi cả trào lưu Phật đạo khi tuyên bố rằng: “…Sắc là như Huyễn, Thọ, tưởng, Hành, Thức cũng như Huyễn; năm uẩn và sáu căn tức thị Bồ Tát, cho nên Bồ Tát cũng như Huyễn”. Sông nước, núi đồi, cây cỏ, hoa lá, nhà cửa, xe cộ kể cả con người… đều như huyễn như mộng. Nếu nghe những giáo pháp như vậy mà không kinh, không sợ thì phải biết những người như vậy có căn tánh Đại thừa, có thể thọ trì Bát nhã Ba la mật mà qua được bờ kia! Giáo pháp Bát Nhã như huyễn là như thế!

 

2. Học Bát Nhã hãy như huyễn mà học,

giống như ảo nhân thính pháp.

 

Đoạn kinh kế, nói tiếp:

“Nếu đại Bồ Tát muốn chứng quả vị Giác ngộ tối cao, thì khi tu học Bát Nhã nên như ảo nhân tu học Bát Nhã, đối với tất cả mọi sự, mọi việc, không phân biệt. Vì sao? Vì nên biết ảo nhân tức là năm uẩn, năm uẩn tức là ảo nhân.

Năm uẩn ấy học Bát nhã Ba la mật cũng chẳng được Nhất thiết chủng trí. Vì năm uẩn này tánh vô sở hữu. Tánh vô sở hữu cũng bất khả đắc.

Năm uẩn như mộng, như ảnh, như hưởng, như dương diệm, như biến hoá, học Bát nhã Ba la mật cũng không được Nhất thiết chủng trí. Vì tánh mộng cho đến tánh biến hóa vô sở hữu. Tánh vô sở hữu cũng là bất khả đắc.

Lục tình cũng như vậy. Năm uẩn tức là lục tình, lục tình tức là năm uẩn. Vì những pháp ấy tức là nội không, nhẫn đến vô pháp hữu pháp không nên bất khả đắc.

Bồ Tát mới phát tâm đối với Bát nhã Ba la mật, không phương tiện, lại không gặp được bậc thiện tri thức hướng dẫn chắc có lo sợ, e ngại”.

Năm thủ uẩn tức lục tình, lục tình tức con người cũng như tất cả pháp đều như huyễn như mộng, như tiếng vang, như ảo ảnh, như sóng trong ánh nắng, như hoa đốm giữa hư không, như thành Càn thát bà. Tất cả đều không, lấy vô tánh làm tự tánh, nên vô sở hữu bất khả đắc. Ai muốn học Bát Nhã phải như “ảo nhân thính pháp” mà học. Nhưng phải lấy vô sở hữu bất khả đắc làm phương tiện và phải hồi hướng Nhất thiết trí trí mới mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

 

3. Lời luận giải của Thiền sư D.T. Suzuki trong

“Thiền Luận”, quyển hạ.

 

Cái khó thấy, khó giác, khó tri nhận là cả vạn hữu sờ sờ trước mắt mà bảo là không thật, giống như huyễn như mộng, ai là người có thể tin nhận cái thấy như huyễn này? Đó là tích không quán tức các pháp tuy có đó nhưng thực chất là không. Hãy nghe bài luận giải quan trọng sau đây của Thiền sư D.T. Suzuki trong Luận 7 Bát Nhã và Như Huyễn trong “Thiền Luận, quyển hạ”, như sau:

 

- “Phật nói: “Ví như huyễn sư (māyākāra) ở giữa ngã tư đường dùng huyễn pháp của mình làm hiện ra một đám người đông đảo. Vừa hiện ra tức thì biến mất. Này Tu bồ đề, ý ông nghĩ sao? Đám người huyễn đó có chỗ đến thực sự ư? Chúng có thực? Chúng thực có chỗ đi đến? Chúng biến mất thực ư?”

- Tu bồ đề nói: “Bạch đức Thế Tôn, không.”

- “Phật nói: “Bồ Tát cũng như vậy. Tuy độ vô lượng vô số chúng sinh đưa vào Niết bàn, kỳ thực khôngchúng sinh được dẫn tới Niết bàn. Những ai không chút kinh sợ khi nghe những pháp như thế, đó đích thực là những Bồ Tát mình mặc giáp trụ Đại thừa” .

- Tu bồ đề nói với Mãn Từ Tử (Pūrṇa-Maitrayāniputra): “Sắc của người huyễn không trói không mở. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, không trói không mở. Chân như sắc của người huyễn cũng vậy và bốn uẩn kia cũng vậy, không trói không mở. Tại sao? Vì vô sở hữu(asadbhūtatvāt) nên không trói không mở; vì viễn ly(viviktatvāt)nên không trói không mở; vì bất sinh(anutpannatvāt)nên không trói không mở. Nếu Bồ Tát biết rõ như vậy là thực sự an trụ trong Đại thừa, mình vận giáp trụ Đại thừa” .

Bấy giờ các Thiên tử (Devaputra) hỏi Tu bồ đề: “Phải chăng tất cả chúng sinh cũng đều như huyễn?”

- Tu bồ đề nói: “Này các Thiên tử, hết thảy chúng sinh cũng đều như huyễn, và lại nữa, cũng đều như mộng (svapna). Tại sao? Bởi vì hết thảy chúng sinh cùng với huyễn, mộng không hai không khác. Vì vậy, hết thảy chúng sinh đều như huyễn, như mộng. Bốn quả Thanh văn (Śrāvaka) và Bích chi Phật (Pratyekabuddha) cũng đều như huyễn như mộng. Cả đến Vô thượng Chính đẳng Chính giác cũng như huyễn như mộng”.

- Các Thiên tử nói: “Nếu thế, cho đến Niết bàn cũng như huyễn như mộng?”

- Tu bồ đề: “Quả thực, Niết bàn cũng như huyễn như mộng; huống chi các pháp khác!”

- Các Thiên tử: “Tại sao thế?”

- Tu bồ đề: “Dù có pháp nào cao hơn Niết bàn, tôi cũng nói là như huyễn như mộng. Bởi vì, huyễn mộng và Niết bàn, không hai không khác” .

Từ quan điểm này, đương nhiên những người tín phụng Bát Nhã kết luận rằng: “Phật chỉ là danh tự giả tướng (nāmadheya-mātra). Bồ Tát chỉ là danh tự giả tướng; Bát nhã Ba la mật đa cũng chỉ là danh tự giả tướng; vì hết thảy danh tự giả tướng đó vốn không là hiện khởi chân thật (anabhinirvṛta)”.

Danh tự chưa từng có sinh khởi thực thụ, chúng như hư không, không hề có dấu vết đến hay đi, và do đó hoàn toàn vượt ngoài mọi hình danh sắc tướng. Nói cách khác, hư không (ākāśa) tức tính Không. “Pháp của Phật tùy thuận với tự tính của hết thảy các pháp, mà hết thảy các pháp vốn bất khả đắc. Pháp lìa mọi chướng ngại. Cũng như hư không, lìa hết thảy các chướng ngại. Các pháp như hư không nên vượt ngoài hết thảy các ngôn thuyết. Các pháp là bình đẳng nên vượt ngoài pháp hiện khởi. Các pháp vốn vô diệt nên vượt ngoài pháp diệt tận. Các pháp vốn vô tướng nên vượt ngoài thủ tướng. Các pháp vốn vô xứ nên hết thảy xứ đều bất khả đắc”.

Từ những trích dẫn trên, ta có thể cảm thấy như đang kéo ra kết luận rằng Pháp (Dharma) của các kinh Bát nhã Ba la mật đa kỳ cùng là một thứ ảo ảnh, mộng mị, xa vời, gần như đồng với vô thể. Nếu quán sát hết thảy các pháp tùy thuận Bát nhã Ba la mật đa tức quán sát chúng tùy thuận với Nhất thiết trí. Nếu quán sát hết thảy các pháp tùy thuận với Nhất thiết trí tức quán sát chúng tùy thuận với bản tính hư không (ākāśa). Và nếu thế, giáo pháp của Bát Nhã kỳ cùng đáng gọi là giáo pháp về không vô, vô sở hữu, đích danh là “thuyết Như huyễn” (māyāvāda), học thuyết nói về tính phi thực của vạn hữu. Cho nên, đừng lấy làm lạ: Kinh không ngớt cảnh giác độc giả chớ kinh ngạc, chớ sợ hãi, chớ khiếp đảm, vì những nghĩa lý này, khi nghe về triết lý của thậm thâm Bát nhã Ba la mật đa (gambhīra-prajñāp­āra­mitā). Rồi, với những lý do đó, chúng ta đã có thể tuyên bố rằng Bát Nhã là như huyễn, như mộng, giả danh, và Đại thừa là một lâu đài xây trên bãi cát, được chưa? Nó chỉ là một trò chơi chữ với những bong bóngtiếng vang ư? Một số học giả đã kết luận cả quyết như vậy, nhất là các học giả Tây phương. Khó mà đứng trên khái niệm về tính bất thực của vạn hữu và cũng khó mà nắm vạn hữu trong thực tính Như Như của chúng. Hiểu rõ thuyết Như huyễn là nhận được Như Như của vạn hữu.

Dân Ấn lừng danh về tài huyễn thuật, đương nhiên các triết gia đạo Phật muốn vẽ ra bản chất mong manh của đời sống cũng dùng các lối huyễn thuật. Nhưng đừng hiểu lối nói của họ qua nghĩa đen. Chúng ta phải cố đạt tới ý nghĩa trung thực của nó. Như đã nhắc nhở nhiều lần, sức mạnh luận chứng mà kinh Bát Nhã chọn nhắm đối trị mê lầm căn để trong cái nhìn của chúng ta thường ném vào thế giới, tức cái nhìn duy thực ngây ngô. Khuôn mặt thực của thứ duy thực đó là coi thế giới như một thực tại thường trụ vĩnh viễn và nằm trơ ra đó ngược với những gì được nhận như là thế giới nội tại của tư tưởng, tình cảm và cảm giác, một thế giới được điều động bởi ngã linh hồn cô lập với những cái khác và tranh sống với chúng. Một trong những khí giới tuyệt hảo để hủy diệt sức mạnh của óc duy thực ngây thơ là tuyên bố rằng tất cả như huyễn, và rằng, không có trật tự vĩnh viễn cố định trong thế gian, rằng khái niệm phân đôi về hiện hữu, nội tại và ngoại tại, hữu thểvô thể v.v… là ảo tưởng, và rằng muốn đạt tới căn cơ chân thực của hiện hữu thì phải thức tỉnh Trí Bát Nhã mới có thể điều chỉnh tất cả mọi thứ chấp thủ, dù tri thức hay tình cảm; và cũng nhờ đó mới có thể nhận Chân như tính của hiện hữu và hành động theo đó. Kinh Bát nhã Ba la mật đa luôn luôn nhắm tới công dụng này cho nên triết lý của nó bất chấp tưởng tượng bốc cao, bất chấp bí nhiệm như sương mù.

Đạo Phật mà có ý nhận một nền triết lý nào đó, chỉ vì để bứng gốc rễ của phiền não (kleśa) đã từng chôn chặt hoạt dụng thong dong vô ngại của Trí Bát Nhã. Phiền não bao giờ cũng nghiêng lệch, và tạo ra mọi hình thái chấp trước, rồi do phiền nãochấp trước mới tạo ra các hành vi tội lỗi qua ba ngã đường thân, miệng và ý, rồi chúng lại dẫn tới những tái diễn bất tận y như thế. Cho nên, chúng ta biết rằng những khoái lạc và đau khổ đáng phải hứng chịu đây, chẳng có bản tính thường hằng nào cả; các đối tượng của khoái lạc và đau khổ cũng vậy, chúng giả tạm và biến thiên như huyễn. Hoàn toàn không có thực tại bất biến. Chúng chỉ là những giả tướng, và phải thấy chúng là giả tướng chứ không có giá trị nào nữa. Đối với các giả tướng, chúng đang ở đó, và sự kiện đó đừng bao giờ quên lãng. Nhưng bám vào chúng lấy làm những cùng đích, người trí biết rõ lắm, vì con mắt Bát Nhã của họ đã mở rồi, rọi thẳng vào hang sâu của thực tại. Theo ngài Long Thọ (Nāgārjuna), trẻ thơ thấy mặt trăng trong nước, trong lòng nổi dậy ước muốn vớt trăng lên, rồi duỗi tay vào nước. Nhưng nào có nắm được nó đâu, nên quá đỗi phiền muộn. Bấy giờ người khôn mới dạy cho rằng cái thấy trong nước đó không thể nắm được. Cũng vậy, không phải phủ nhận thế giới của những giả tưởng; chỉ phủ nhận tính chất khả thủ khả đắc của nó. Thế giới sai biệt có đó, trước mặt kẻ trí cũng như người ngu; khác nhau chăng ở chỗ, trí thấy nó mà tâm không ôm cứng lấy; còn ngu thì dời xa một chút không nổi để vào cảnh giới của tính Không. Bồ Tát đã nhận ra bức màn như huyễn như thế; chỉ những ai đang còn trong vòng trói buộc mới cho nó là có thực.

Vì vậy, phải dựa trên hậu cứ của tính Không hay Chân như mà hiểu thuyết như huyễn. Nếu không, huyễn vẫn y nhiên là huyễn, và những người theo đạo Phật sẽ không bao giờ biết đặt chân vào đâu, mặc dù không ai dám nói đặt chân vào cõi phân biệt. Nếu không giảng luận ra như thế, Như huyễn sẽ hoàn toàn vô nghĩa trong giáo pháp của Bát nhã Ba la mật đa. Câu nói: “Cho đến Niết bàn cũng như huyễn, như mộng”, sẽ không hơn một câu trào lộng. Như huyễn là một chỉ điểm viên. Ai theo nó một cách thông minh sẽ thấy đằng sau màn bạc có một thế giới của những huyền diệu không thể tả và những thực tại “bất khả đắc”.

Nói như huyễn, như mộng, như hưởng, như hóa... để nhằm nêu lên nghĩa hư vọng của tất cả pháp. Hư vọng cũng là không, chẳng thật có của tất cả pháp, để đừng vin vào đó làm lẽ sống mà mất cả chơn tâm, cái sẳn có nơi chính mình.

 

Phẩm thứ 43, “Vô Tác”, tập 4, quyển 64, Đại Trí Độ Luận đưa ra một thí dụ “tiếng dội từ hang núi” để luận về huyễn như sau:

“Ví như tiếng nói truyền trong hư không, chạm vàọ vách đá, dội trở lại, người nghe cảm tưởng như có hai âm, trong đó có một âm chánh và một âm vang; âm chánh là chân thật, âm vang là ngụy tạo, chẳng nên tin. Họ chẳng biết rằng cả hai âm đều là hư vọng, chẳng thật có.

Cũng như vậy, hết thảy các pháp, dù là phàm phu pháp, dù là Thánh pháp, đều là như mộng, như huyễn. Hàng tiểu Bồ Tát, do chưa được đây đủ các lực phương tiện Bát nhã Ba la mật, nên chỉ biết phàm phu pháp là như mộng, như huyễn, nhưng vẫn còn chấp Thánh pháp là chân thật. Các bậc đại Bồ Tát biết rõ Bát nhã Ba la mật cũng như hết thảy các pháp đều là như mộng, như huyễn cả”.

Tiếng vọng từ hang núi là huyễn mà tiếng nói phát ra từ cửa miệng cũng là huyễn. Vậy, cái gì là thật trên đời này? Chẳng có gì là thật cả. Đây là câu trả lời phủ phàng nhất! Khi còn thấy một chút thật dù là đầu sợi lông cọng tóc thì chưa thấy không, chưa thấy không không, chưa thấy tận không, chưa được rốt ráo không. Phải thấy tất cả pháp do duyên hòa hợp mà có, chẳng phải thật có, hư vọng giả có như huyễn như mộng v.v...

Toàn bộ các pháp như huyễn là sự thật đảo nghịch trong tư duy của con người phàm tục, khó có thể chấp nhận một cách dễ dàng những tư tưởng “vặn chéo” này. Nếu thường quán tất cả pháp đều như huyễn như hóa như mộng... rồi một ngày nào đó sẽ thấy cái mầu nhiệm vi diệu đàng sau cái “nghịch đảo” đáng yêu đó.

 

Kết luận:

(Tất cả pháp như huyễn như mộng...)

 

Khi hiểu ra rằng, tất cả pháp là không, như huyễn như mộng, thì tâm như như bất động. Tâm như như bất động thì sạch trong sạch ngoài. Lúc đó chẳng thấy Vật, chẳng thấy Tâm, gọi là “Tức Tâm tức Vật”, không còn năng sở, rỗng không thì được tịch lặng an nhiên.

Phật nói các pháp như huyễn như hóa là để chúng sanh đừng chấp nhận một cách dễ dãi cái thân hiện hữu do tứ đại duyên hợp giả có nầy là trường tồn, bất biến mà mang nhiều khổ lụy. Kinh Viên Giác lại nói: “Mỗi thứ đều trả về cho tứ đại, khiến ngộ được sáu căn giả hợp đều là huyễn diệt, để hiển bày cái không huyễn diệt”. Chính cái giả hợp kể cả con người hay các pháp gọi là huyễn và một khi cái huyễn diệt rồi thì cái không huyễn (phi huyễn tức chân) sẽ hiển bày.

Cũng Kinh Viên giác Phật bảo: “Vì huyễn thân diệt cho nên huyễn tâm cũng diệt. Vì huyễn tâm diệt cho nên huyễn trần cũng diệt. Vì huyễn trần diệt cho nên cái “huyễn diệt” cũng diệt. Vì cái “huyễn diệt” cũng diệt cho nên cái phi huyễn hiện bày”. Phi huyễn tức chân.

 

Tóm lại, nói huyễn nói mộng không phải là không có gì hết, mà kết quả không thể nào ngờ được:

“Bồ Tát nương nơi huyễn thân, tu như huyễn pháp môn, dứt huyễn ái kiến, độ huyễn hữu tình, chứng huyễn Thánh quả. Do thấy thân như huyễn hóa toàn hư vọng, không có ái trước nơi thân, nên phiền não không sanh; không ái trước nơi thân, thì khỏi vì thân mà thối thất đạo hạnh. Thọ vô lượng thân, tu hành trải qua vô lượng kiếp, không có một mảy may niệm tưởng là có thọ thân cùng có xả thân. Mảy niệm còn không huống gì có số kiếp, nên có câu: Thọ thị khổ... số kiếp phi số kiếp”.

Đó là kết quả của cái nhìn như huyễn. Vì vậy, mới nói rằng những ai khôn ngoan sẽ thấy mặt trái của như huyễn như mộng… có những huyền năng kỳ diệu không thể ngờ được mới có cơ hội thay đổi cả cuộc đời trầm luân này.

Chúng ta sẽ trở lại vấn đề “Như Huyễn” trong LUẬN #3, “Phần thứ III Tổng luận”./.

---o0o---

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,279,415