Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Luận 09. Chứng Hay Đắc?

12/04/202119:23(Xem: 49)
Luận 09. Chứng Hay Đắc?

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***


buddha-567

 

III. PHẦN THỨ III TỔNG LUẬN:

 

TÁNH KHÔNG BÁT NHÃ

(Với những nguyên lý chỉ đạo của nó)

 

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

LUẬN #9. CHỨNG HAY ĐẮC?

 

 

 

Nhưng câu nói mở đầu cũng là câu nói chung quyết là muốn chứng đắc Bát Nhã thì ít nhất phải có trí tuệ tương đương với trí tuệ Phật. Vì Phật là vị đã chứng Bát Nhã. Kinh nói Bát nhã Ba la mật là Phật và Phật là Bát nhã Ba la mật. Nhưng làm sao có trí tuệ tương đương với Phật. Nên đặt vấn đề thông đạt tuệ hay chứng đắc cũng là điều không tưởng chăng?

Phải nói đề cập đến chứng hay đắc là điều hài hước nhất đối với người tu chân chánh hay đối với Phật đạo. Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, chỉ là những lời giảng huấn có thể đưa những ai tu Tiểu thừa đắc quả Thanh văn hay Bích chi Phật, hay những giáo pháp khác như Lục độ vạn hạnh là những giáo pháp dành cho những ai tu Đại thừa, có thể đưa đến việc chứng ngộ Bồ đề để trở thành Bồ tát hay Phật.

Nhưng chứng hay đắc là một thứ phối hợp của nhiều yếu tố mà trong đó tâm và chí có lẽ là thành phần quan trọng nhất. Không có bất cứ những lời giảng huấn của Kinh điển hay sự giúp đỡ của người khác từ bên ngoài mà có thể đem lại tâm chứng. Tâm chứng là cái tự biết, tự chứng, thầm ngộ do tu tập chỉ có mình, ngoài mình không kẻ nào có thể biết được. Thử xem Kinh ĐBN quan niệm vấn đề này như thế nào?

 

- Phẩm “Pháp Giới”, quyển 567, Hội thứ VI, ĐBN. Phật bảo Thắng Thiên vương:

“Thiên vương nên biết! Bát nhã Ba la mật xuất thế có khả năng thấy đúng như thật nên gọi là chứng, hậu đắc trí thông suốt nên gọi là đắc”.

Đó là nói theo ngôn ngữ thế tục có chứng có đắc trong việc tu Phật. Nhưng Bát Nhã lúc nào cũng nói là vô sở hữu, bất khả đắc. Trong nhiều phẩm nhất là phẩm “Xảo Tiện”, quyển 462, Hội thứ II hay phẩm “Phương Tiện Khéo Léo”, quyển 525, Hội thứ III, ĐBN nói:

“Vô sở đắc là tướng của Bát nhã Ba la mật, vô sở đắc là tướng của Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, vô sở đắc cũng là tướng của người hành Bát nhã Ba la mật”. Câu nói này chẳng khác như lời huấn thị đối với những người hành trì Bát nhã Ba la mật.

Các đại Bồ tát khi hành Bát Nhã chẳng phải trụ có sở đắc được từ một bậc đến một bậc lần hồi viên mãn Nhất thiết trí trí, chẳng phải trụ sở đắc được từ một bậc đến một bậc lần hồi viên mãn được Nhất thiết trí trí. Vì sao? Vì có sở đắc là có chấp, có chấp là có vướng mắc quái ngại. Vì vậy, không được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, không được Nhất thiết trí trí. Nên Phật bảo: “Bát nhã Ba la mật thậm thâm là Vô sở đắc, Nhất thiết trí trí cũng là Vô sở đắc; người thực hành Bát Nhã, chỗ thực hành và khi thực hành, tất cả cũng đều Vô sở đắc; Vô sở đắc này cũng là Vô sở đắc nốt”.

Kinh xác nhận tất cả là không có gì gọi là đắc cả hay nói theo từ chuyên môn là vô sở đắc hay bất khả đắc. Vô sở đắc là không có gì ở bên ngoài, từ bên ngoài mà có thể đem lại chứng đắc dù đó là lời nói thậm thâm của bậc Đại sĩ, nên nói là bất khả đắc nghĩa là chẳng có thể nắm bắt được. Nhưng một khi quan niệm vô sở đắc hay bất khả đắc là tôn chỉ tối cao của Bát Nhã, vô sở đắc, bất khả đắc cũng trở thành một chướng ngại khác của hành giả Bát Nhã. Vô sở đắc rốt ráo phải là vô sở đắc nốt. Tất cả phải là không, là rỗng không. Đó tôn chỉ tối cao của Bát Nhã! Bát Nhã phải là Bát Nhã khi hành không, vô tướng, vô tác. Phủi sạch hết tất cả thế là xong! Bát Nhã là phóng xả, khai phóng, buông bỏ hết!

 

Kinh “Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật” do Tăng Gia Bà La dịch từ Phạn sang Hán và nhóm Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạnh Kinh dịch từ Hán sang Việt, đồng bản với Hội thứ VII. “Mạn Thù Thất Lợi bạch Phật:

Bạch Thế Tôn! Không vì pháp tăng, không vì pháp giảm, đó là tu Bát nhã Ba la mật. Không đoạn pháp phàm phu, không ôm giữ pháp Như Lai, đó là tu Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì Bát nhã Ba la mật không vì đắc pháp nên tu; không vì không đắc pháp nên tu; không vì tu pháp nên tu; không vì không tu pháp nên tu.

Bạch Thế Tôn! Không đắc, không xả, đó là tu Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Không vì hoạn nạn của sinh tử, không vì công đức Niết bàn. Nếu tu Bát nhã Ba la mật như vậy; thì không thủ, không thọ, không xả, không buông, không tăng, không giảm, không khởi, không diệt.

Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghĩ như vầy: “Pháp này thượng, pháp này trung, pháp này hạ”; thì không phải tu Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Vì pháp không có thượng, trung, hạ. Bạch Thế Tôn! Con tu Bát nhã Ba la mật như vậy”.

Không đắc, không xả, đó là tu Bát nhã Ba la mật. Tu mà sợ trần sa hoặc, tu mau mau để chứng thật tế để vào Niết bàn là trốn chạy, không có tâm Bồ đề, làm sao tiến xa được. Như vậy, là vị kỷ chỉ biết mình, nên không thể hy sinh cho kẻ khác.

 

- Cũng vậy, phẩm “Vô Sở Đắc”, ĐBN. Thiện Tư Bồ tát hỏi Tối Thắng:

- “Thiên vương được thọ ký là đắc cái gì vậy?

Tối Thắng đáp:

- Tôi tuy được thọ ký nhưng không đắc gì cả.

Thiện Tư lại hỏi:

- Không đắc ấy là không đắc pháp nào?

Tối Thắng trả lời:

- Không đắc ấy là chẳng đắc ngã, chẳng đắc hữu tình, cho đến chẳng đắc sự thấy biết, chẳng đắc các uẩn và các xứ giới, hoặc thiện hay chẳng phải thiện, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian, hoặc hữu vi, hoặc vô vi, hoặc sanh tử, hoặc Niết bàn, đối với hết thảy như vậy đều không đắc gì cả.

Thiện Tư lại hỏi:

- Nếu không có đắc chi cả thì thọ ký để làm gì?

Tối Thắng đáp:

- Vì vô sở đắc nên được sự thọ ký”.

Có sở đắc không đắc, vô sở đắc mới đắc mới được thọ ký.

 

- Rồi trong phẩm “Pháp Giới”, quyển 567, Hội thứ VI, Phật lấy thí dụ:

“Này Thiên vương! Ví như mùa Hè nóng bức, có người đi về phương Tây, ở giữa đồng hoang, lại có một người đi ngược lại, hỏi người trước mặt:

“Tôi nay bị nóng khát, biết chỗ nào có nước trong và bóng mát làm ơn chỉ giúp?”

Người kia đáp:

“Từ đây đi về hướng Đông, sẽ có hai đường: Một là phía bên trái, hai là phía bên phải, nên theo đường bên phải, lần hồi đi tới sẽ thấy ao suối nước trong và bóng cây mát mẻ”.

Này Thiên vương! Ý ngươi thế nào? Người nóng khát kia chỉ nghe tên suối và cây mát như thế, liên tưởng như thế thì có thể trừ nóng khát, được mát mẻ ngay chăng?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng được. Người kia phải đến nơi, vào ao tắm rửa, uống nước, nghỉ dưới gốc cây mới khỏi nóng khát và được mát mẻ.

Phật dạy:

- Này Thiên vương! Đúng như vậy! Đúng như vậy! Văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ chẳng thể thông suốt thật tướng Bát nhã Ba la mật.

Thiên vương nên biết! Nói về đồng nội tức dụ cho sanh tử, người dụ cho hữu tình, nóng dụ cho các phiền não, khát dụ cho tham ái. Người phương Đông đến, dụ cho các Bồ tát, đường bên trái dụ cho chẳng phải chánh đạo, đường bên phải dụ cho đạo Nhất thiết trí. Các chúng Bồ tát hành Bát Nhã sâu xa biết rõ con đường thẳng đến sanh tử. Suối dụ cho Bát nhã Ba la mật, cây dụ cho đại bi. Các đại Bồ tát hành hai pháp nên xa lìa phàm phu và đạo Nhị thừa. Thiên vương nên biết! Bát Nhã sâu xa tuy không hình tướng mà khéo nói nên khiến các hữu tình có thể chứng, có thể đắc. (Q.567, ĐBN)    

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát nhã Ba la mật có thể biết đúng như thật: Lực, Vô sở úy, Bất cộng pháp, Không. Cũng biết đúng như thật các giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn là Không. Cũng biết đúng như thật nội Không, ngoại Không, và nội ngoại Không, Không Không, đại Không, thắng nghĩa Không v.v... Mặc dù biết tất cả pháp đều Không, nhưng biết tướng Không cũng bất khả đắc, chẳng thủ tướng Không, chẳng khởi thấy Không, chẳng chấp tướng Không, chẳng nương tựa Không. Như vậy, Bồ tát vì chẳng thủ trước nên chẳng rơi vào Không.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát nhã Ba la mật nên xa lìa các tướng, nghĩa là hoàn toàn chẳng thấy các tướng trong ngoài, lìa tướng hý luận, lìa tướng phân biệt, lìa tướng tầm cầu, lìa tướng tham đắm, lìa tướng cảnh giới, lìa tướng phan duyên, lìa tướng năng tri và sở tri.

Trời Tối Thắng lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng đại Bồ tát hành sâu Bát nhã Ba la mật, có thể quán các pháp vô tướng như thế thì làm thế nào để quán cảnh giới Phật?

Phật dạy:

- Này Thiên vương! Cảnh giới chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì lìa cảnh giới vậy. Tất cả hữu tình suy lường Phật cảnh thì tâm phát sanh cuồng loạn, chẳng biết đây kia. Vì sao? Vì tánh (cảnh giới Phật) đồng hư không, chẳng thể suy lường, cầu chẳng thể đắc, lìa cảnh suy tầm; các chúng Bồ tát hành sâu Bát nhã Ba la mật còn chẳng thấy có cảnh phàm phu v.v... có thể suy lường được, huống là cảnh giới Phật; cũng chẳng nương tựa tất cả diệu nguyện. Mặc dù hành các pháp bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật, nhưng đối với quả kia hoàn toàn không chấp đắm, đối với các công đức cho đến Niết bàn cũng chẳng nương tựa, chấp trước. Vì sao? Vì lìa ngã và ngã sở, không hai, không khác, vì lìa tự tánh vậy”.                  

Đối với quả Phật, cảnh giới Phật cũng không chấp đắm kể cả Niết bàn. Vậy, nói chi đến chứng đắc. Tu mà còn nghĩ đến chứng đắc là còn năng sở, nắm bắt là còn sở đắc tức còn chấp ngã pháp thì làm sao chứng, làm sao đắc. Đó chỉ là ước vọng hão huyền.

 

- Phần “Mạn Thù Thất Lợi”, quyển 574, Hội thứ VII. Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi nói với Xá Lợi Tử:

- “Đúng vậy, đúng vậy! Giống như Ngã chỉ là danh tự, Phật cũng chỉ là danh tự; tướng của danh tự là Không, tức là Bồ đề. Không dùng danh tự để tìm Bồ đề, tướng của Bồ đề vô ngôn vô thuyết. Vì sao? Vì ngôn thuyết, Bồ đề, cả hai đều Không. Lại nữa, Xá Lợi Phất. Ông hỏi thế nào gọi là Phật? Thế nào là quán Phật? Nói Phật ấy là không đến, không đi, không sanh, không diệt, không có sự chứng đắc, không có sự thành tựu, không danh, không tướng, không thể phân biệt, không ngôn ngữ, không nói năng, không thể biểu thị, chỉ có trí tuệ nhiệm mầu tự chứng biết bên trong. Nghĩa là các Như Lai đã biết được tất cả pháp rốt ráo là Không, là vắng lặng nên chứng đại Bồ đề, tùy thuận thế gian giả lập danh tự, nên xưng là Phật, chẳng phải thật có, vì có hay không đều bất khả đắc.

Lại nữa, Đại đức! Như Lai đã chứng trí tuệ nhiệm mầu gọi là Bồ đề, thành tựu Bồ đề nên gọi là Phật. Vì Bồ đề Không, nên Phật cũng Không.

Xá lợi Tử liền bạch Phật:       

- Pháp thâm sâu mà Mạn Thù Thất Lợi đã nói, không phải là cái mà các Bồ tát sơ học có thể liễu tri được.

Đồng tử Mạn Thù Thất Lợi liền thưa Cụ thọ Xá lợi Tử:

- Những điều tôi nói chẳng phải là cái mà các Bồ tát sơ học có thể liễu tri, mà cả đến những vị A la hán đã thành xong đạo nghiệp cũng không thể hiểu nổi. Chẳng phải lời tôi nói ra có người hiểu được. Vì sao? Vì tướng Bồ đề chẳng phải nhận biết hay được nhận biết, không thấy, không nghe, không chứng đắc, không nhớ nghĩ, không sanh, không diệt, không thể nói rõ, không thể nghe nhận, tánh tướng của Bồ đề này là Không, là vắng lặng. Các đại Bồ tát còn chưa hiểu được, huống gì sự hiểu biết của nhị thừa mà hiểu nổi. Tánh tướng của Bồ đề còn không thể nắm bắt, huống chi có người thật chứng Bồ đề”.

Bồ đề chỉ là danh tự, Phật chỉ là danh tự, do thế gian đặt ra. Chứng hay đắc chỉ do trí tuệ nhiệm mầu tự chứng biết bên trong, không thể nắm bắt.

 

- Cũng đoạn Kinh quyển 574, Mạn Thù bảo Xá Lợi Tử:

“- Đại đức! Nay tôi chẳng thấy Bồ tát, cũng chẳng thấy pháp của các Bồ tát, chẳng thấy Bồ đề, cũng chẳng thấy pháp hướng đến Bồ đề, cũng chẳng thấy có hạnh hướng đến Bồ đề, cũng chẳng thấy có pháp chứng đắc Bồ đề, chẳng thấy có người chứng được Bồ đề. Tôi thấy Chánh đẳng giác thừa như vậy, nghĩa là ở trong đó hoàn toàn không thấy chi cả”.

Đọc tới đây có lẽ mọi người hiểu thế nào là chứng, thế nào là đắc trong đạo Phật. Biết như vậy là để tránh tự mình lừa phỉnh dối gạt mình hay dối gạt người khác và cũng để tránh người khác lừa phỉnh dối gạt mình.

Cuộc đối thoại giữa Thiên Tư và Thắng Thiên vương ở phẩm “Vô Sở Đắc”, quyển 571, nói trên diễn đạt hết sức giản dị. Thắng Thiên vương bảo: Vì vô sở đắc mà được thọ ký. Nhưng thọ ký chẳng khác nào giấc mộng đêm qua. Đắc mà chẳng có gì để đắc: Không đắc ấy là chẳng đắc ngã, chẳng đắc hữu tình, cho đến chẳng đắc sự thấy biết, chẳng đắc uẩn xứ giới hoặc thiện hay phi thiện, hoặc tạp nhiễm hoặc thanh tịnh, hoặc hữu lậu hoặc vô lậu, hoặc thế gian hoặc xuất thế gian, hoặc hữu vi hoặc vô vi, hoặc sanh tử hoặc Niết bàn, đối với hết thảy như vậy đều không đắc gì cả.

 

- Trong phẩm “Trời Khen”, quyển 548, TBBN, Hội thứ IV. Phật bảo: “Thiên tử nên biết! Pháp Ta đã chứng tức là Bát nhã Ba la mật. Pháp này rất sâu xa mầu nhiệm, không năng chứng và không sở chứng, không chỗ chứng, không thời chứng”.

 

- Một trong những đoạn Kinh xúc tích nhất nói về chứng đắc là các đoạn Kinh trong phẩm “Huyễn Dụ’ của cả năm Hội đầu (từ thứ I cho đến thứ V) là “tâm như huyễn làm sao chứng Vô Thượng Giác ngộ”, Kinh đã lột trần ý nghĩa của chứng đắc hay không qua đối thoại giữa Phật và Thiện Hiện như sau:

“Khi ấy, Thiện Hiện bạch Phật:

- Kính bạch Thế Tôn! Tâm hoàn toàn như huyễn thì đại Bồ tát làm sao có thể chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Ý ngươi thế nào? Ngươi thấy có tâm như huyễn không?

Thiện Hiện bạch:

- Thưa không, bạch Thế Tôn!

Phật bảo Thiện Hiện:

- Ý ngươi thế nào? ngươi thấy có huyễn không?

Thiện Hiện bạch:

- Thưa không, bạch Thế Tôn! Con không thấy huyễn, cũng không thấy có tâm như huyễn.

Phật bảo Thiện Hiện:

- Ý ngươi thế nào? Nếu ngươi không thấy huyễn, không thấy tâm như huyễn, hoặc có chỗ không huyễn, không tâm như huyễn, thì ngươi thấy có tâm như vậy có thể đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề không?

Thiện Hiện bạch:

- Thưa không, bạch Thế Tôn! Con hoàn toàn chẳng thấy có chỗ không huyễn, không tâm như huyễn, lại có tâm như vậy có thể đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Phật bảo Thiện Hiện:

- Ý ngươi thế nào? Hoặc lìa huyễn, lìa tâm như huyễn, ngươi thấy có pháp như vậy có thể đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề không?

Thiện Hiện bạch:

- Thưa không, bạch Thế Tôn! Con hoàn toàn không thấy có chỗ lìa huyễn, lìa tâm như huyễn, lại có pháp như vậy có thể đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Bạch Thế Tôn! Con hoàn toàn không thấy ngay nơi pháp lìa tâm có thể nói những pháp là Hữu hay Vô, bởi tất cả pháp hoàn toàn lìa vậy. Nếu tất cả pháp lìa thì không thể nói là Hữu hay là Vô. Nếu pháp nào không thể nói là Hữu, là Vô, thì không thể nói có thể đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vì chẳng phải pháp vô sở hữu có thể đắc Bồ đề được. Vì sao? Vì tất cả pháp đều vô sở hữu, tánh của nó bất khả đắc, không nhiễm, không tịnh, hoàn toàn lìa pháp vô sở hữu, nên không thể đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Thế nên Bát nhã Ba la mật cũng hoàn toàn lìa. Nếu pháp lìa thì pháp đó không nên tu tập, cũng không nên lìa bỏ, lại cũng không nên nêu lên?

Kính bạch Thế Tôn! Bát Nhã sâu xa đã hoàn toàn lìa thì vì sao có thể nói các đại Bồ tát nương Bát Nhã sâu xa để chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Bạch Thế Tôn! quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của chư Phật cũng hoàn toàn lìa, thì vì sao pháp lìa lại có thể đắc pháp lìa? Thế nên Bát nhã Ba la mật đúng ra là không thể nói có chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Lành thay! Đúng như vậy! Đúng như lời ngươi nói! Bát Nhã sâu xa đã hoàn toàn lìa; quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của chư Phật cũng hoàn toàn lìa.

Thiện Hiện nên biết! Bát Nhã sâu xa hoàn toàn lìa, nên lìa quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của chư Phật.

Thiện Hiện nên biết! Nếu Bát Nhã sâu xa chẳng phải lìa thì đúng ra chẳng phải là Bát nhã Ba la mật, vì Bát Nhã sâu xa lìa nên mới được gọi là Bát nhã Ba la mật.

Thế nên, này Thiện Hiện! Các đại Bồ tát chẳng phải không nương tựa Bát Nhã sâu xa mà chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện nên biết! Tuy chẳng phải lìa pháp hay là được pháp lìa mà đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Chẳng phải không y chỉ Bát Nhã sâu xa mà đắc được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Thế nên, các đại Bồ tát đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, thì phải nên siêng năng tu học Bát Nhã sâu xa”. (Q.553, TBBN)

 

Tất cả đều không có gì cả, đều vô sở hữu, bất khả đắc. Nếu còn nghĩ rằng ta đã thành tựu, thông đạt hay chứng đắc, là còn sở đắc. Còn sở đắc thì không đắc, không hiện quán. Thành tựu, thông đạt, chứng đắc hay không là do năng tu Bát nhã Ba la mật.

 

Theo Kinh Bổn Hành Tập và Thoại ứng: Phật Nhiên Đăng khi chưa xuất gia tên là Đĩnh Quang, sau xuất gia thành đạo có tên là Nhiên Đăng. Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca đang ở thất địa Bồ tát có tên là Nho Đồng cũng còn gọi là Thiện Tuệ, đang lúc sắp mãn A tăng kỳ kiếp thứ hai thì gặp Phật Nhiên Đăng nghe pháp chứng vô sanh pháp nhẫn mà nhập bát địa tức vào A tăng kỳ kiếp thứ ba. Phật Nhiên Đăng vì đó mà thọ ký: Từ đây về sau 91 kiếp, gọi là Hiền Kiếp sẽ làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Lịch sử là như thế. Nhưng trong Kinh “Kim Cương Năng Đoạn” khi Phật hỏi Thiện Hiện là Phật có nắm giữ pháp nào không thì Thiện Hiện trả lời: Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng hoàn toàn không có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh giác.

Không phải cụ thọ không biết là Đức Thế Tôn được thọ ký từ Phật Nhiên Đăng. Trong Kinh Đại Bát Nhã, phẩm “Khen Các Đức Tướng”, quyển 99, Hội thứ I, Phật đã kể lại việc được thọ ký của mình trong thành Chúng Hoa trước mặt tất cả các đệ tử và các Tiên Thiên. Cụ thọ hơn ai hết biết rõ điều đó. Nhưng tại sao cụ thọ Thiện Hiện trả lời là không. Nếu Như Lai còn chấp mình “có đắc pháp và được thọ ký”, tức Như Lai còn chấp ngã (Ta được), chấp pháp (đắc pháp) thì không phải là Như Lai. Bởi thế, Thiện Hiện trả lời là Như Lai chẳng đắc pháp gì cả.

Vì Như Lai không chấp mình có đắc pháp và được thọ ký, nên không mắc vào chấp bốn tướng mà rơi vào hữu sở đắc, nên mới nhập được Bát Nhã. Như thế, mới gọi là đắc pháp và được thọ ký. Đó là ý nghĩa của vô sở trụ, vô sở đắc của Kinh này.

Nên phẩm “So Lường Công Đức”, quyển 129, Hội thứ I, ĐBN. Thiên Đế Thích bạch Phật:

- “Bạch Thế Tôn! Bát nhã Ba la mật như thế là Đại Ba la mật, là Vô thượng Ba la mật, là Vô đẳng đẳng Ba la mật. Bạch Thế Tôn! Bồ tát Ma ha tát tu hành Bát nhã Ba la mật thẳm sâu như thế, tuy biết tâm hành cảnh giới của tất cả hữu tình sai khác, mà bất đắc ngã, bất đắc hữu tình, mạng giả (dòng sinh mạng), sanh giả (người sanh), dưỡng giả (người dưỡng dục), sĩ phu (người trưởng thành), bổ đặt già la (chủ thể luân hồi), ý sanh (người do người sanh), nho đồng (ngã tối thắng), tác giả (người tạo tác), thọ giả (người thọ), tri giả (người biết), kiến giả (người thấy). Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc sắc, bất đắc thọ tưởng hành thức. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc 12 xứ, bất đắc 18 giới. Bồ tát ma ha tát này cũng bất đắc địa giới, bất đắc thủy hỏa phong không thức giới (lục đại chủng). Bồ tát ma ha tát này cũng bất đắc vô minh, bất đắc hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử sầu thán khổ ưu não (Thập nhị nhân duyên). Bồ tát ma ha tát này cũng bất đắc bố thí Ba la mật, bất đắc tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật (lục độ). Bồ tát ma ha tát này cũng bất đắc nội không, bất đắc ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cảnh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn Tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô Tánh không, tự Tánh không, vô tánh tự Tánh không (18 pháp Không). Bồ tát ma ha tát này cũng bất đắc chơn như, bất đắc pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới (Thập nhị chân như). Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc khổ Thánh đế, bất đắc tập, diệt, đạo Thánh đế (Tứ đế). Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc bốn tĩnh lự, bất đắc bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc tám giải thoát, bất đắc tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc bốn niệm trụ, bất đắc bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám Thánh đạo chi (37 bảy pháp trợ đạo). Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc không giải thoát môn, bất đắc vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc năm nhãn, bất đắc sáu thần thông. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc Phật mười lực, bất đắc bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám Pháp Phật bất cộng. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc tất cả Đà la ni môn, tất cả Tam ma địa môn. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc Dự lưu, bất đắc Nhất lai, Bất hoàn, A la hán. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc Dự lưu hướng Dự lưu quả, bất đắc Nhất lai hướng Nhất lai quả, Bất hoàn hướng Bất hoàn quả, A la hán hướng A la hán quả. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc Độc giác, bất đắc Độc giác Bồ đề. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc Bồ tát Ma ha tát, bất đắc pháp Bồ tát Ma ha tát. Bồ tát Ma ha tát này cũng bất đắc Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì Bát nhã Ba la mật đây, chẳng phải nhân có sở đắc mà được hiện tiền vậy. Vì sao? Vì Bát nhã Ba la mật thẳm sâu đều vô tự tánh, cũng bất khả đắc. Năng đắc, sở đắc 2 chỗ nương, tánh tướng đều rỗng không bất khả đắc vậy.

Bấy giờ, Phật bảo Thiên Đế Thích rằng: Đúng vậy! Đúng như lời ngươi nói. Vì sao? Kiều Thi Ca! Bồ tát Ma ha tát đem vô sở đắc làm phương tiện, tu hành Bát nhã Ba la mật thậm thâm hãy bất đắc Bồ đề và Tát đỏa, huống là đắc Bồ tát. Bồ tát này đã bất khả đắc, thì đâu đắc pháp Bồ tát. Bồ tát cùng pháp Bồ tát còn bất khả đắc, huống là đắc chư Phật và pháp của chư Phật!”

Đó là giáo lý vô sở hữu, bất khả đắc của Bát Nhã: Tất cả căn trần xứ giới, 18 pháp Không cho tới tất cả các thiện pháp từ tứ đế, thập nhị nhân duyên, lục độ, bốn quả Thanh văn, hoặc Độc giác Bồ đề hoặc Bồ tát, quả vị Phật đều bất khả đắc... Nên Thiên đế Thích nói:

“Vì sao? Vì Bát nhã Ba la mật đây, chẳng phải nhân có sở đắc mà được hiện tiền vậy. Vì sao? Vì Bát nhã Ba la mật thậm thâm đều vô tự tánh, cũng bất khả đắc. Năng đắc, sở đắc hai chỗ nương, tánh tướng đều trống không bất khả đắc vậy”.

 

Phần “Na Già Thất Lợi” của Hội thứ VIII là một phần đặc biệt của giáo lý ĐBN lúc nào cũng nêu lên những giáo lý nghịch đời của Mạn Thù Thất Lợi, như trong Hội thứ VII, nhưng lại có thể đánh thức cân não của chúng ta. Hãy xem đoạn kinh sau đây quan niệm về chứng Vô Thượng Bồ đề như thế nào? 

“Na Già Thất Lợi hỏi:

- Có kẻ năng chứng Bồ đề chăng?

Mạn Thù Thất Lợi đáp:

- Cũng có.

Na Già Thất Lợi hỏi:

- Ai là người chứng được?

Mạn Thù Thất Lợi đáp:

- Người không chấp danh tánh thi thiết ngôn ngữ thì có thể chứng được.

Na Già Thất Lợi hỏi:

- Vậy người đó chứng như thế nào?

Mạn Thù Thất Lợi đáp:

- Người mà tâm không sanh, chẳng niệm Bồ đề và tòa Bồ đề, cũng chẳng thương nhớ tất cả hữu tình, dùng tâm vô biểu, tâm vô kiến thảy năng chứng Vô thượng Bồ đề.

Na Già Thất Lợi hỏi:

- Nếu vậy, Tôn giả dùng những tâm nào để được Bồ đề?   

Mạn Thù Thất Lợi đáp:

- Tôi không thấy mình hướng đến, cũng chẳng thấy có chỗ hướng đến, đều không chỗ học; tôi cũng chẳng thấy đời sau đến cội Bồ đề ngồi tòa Kim cương chứng đại Bồ đề, chuyển bánh xe diệu pháp cứu vớt sanh tử. Vì sao? Vì các pháp không động, không thể phá hoại, không thể thu nhiếp, rốt ráo Không, vắng lặng. Tôi đem những tâm chẳng hướng tới như thế để được Bồ đề”.

Những điều mà Mạn Thù Thất Lợi thuyết giảng trong Hội thứ VII cũng được lặp lại ở Hội thứ VIII mà chúng ta “gọi là nghịch đảo”: “Người mà tâm không sanh, chẳng niệm Bồ đề và tòa Bồ đề, cũng chẳng thương nhớ tất cả hữu tình, dùng tâm vô biểu, tâm vô kiến thảy năng chứng Vô thượng Bồ đề”. Tu để đạt Bồ đề mà chẳng nghĩ đến Bồ đề và tòa Bồ đề, cũng chẳng thương nhớ tất cả hữu tình. Dùng tâm không, tâm vô biểu vô kiến thì có thể chứng Vô Thượng Bồ đề. Khi Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi phát biểu như thế thì Na Già Thất Lợi Bồ tát xác nhận: “Những điều Tôn giả đã nói đều nương vào thắng nghĩa, khiến cho các hữu tình tin hiểu pháp này, giải thoát phiền não”.

Cái mà chúng ta cho là nghịch đảo ở Hội Thứ VII, được lặp lại ở Hội thứ VIII này đều là thuận theo đệ nhất nghĩa đế như chúng ta đã thâm hiểu. Chẳng có gì là nghịch lý đối với Thánh giả trí tuệ có tầm vóc như Mạn Thù Thất Lợi, một vị cổ Phật mà Như Lai thú nhận là thầy của chư Phật khi tuyên bố các pháp không động, không thể phá hoại, không thể thu nhiếp, rốt ráo Không, vắng lặng. Tôi đem những tâm chẳng hướng tới như thế để được Bồ đề”.

Đọc đoạn kinh này, suy nghĩ thật kỹ rồi tự mình xác nhận thế nào là chứng hay đắc? Tất các đoạn kinh trên đều nói hai mặt Tục đế và Thắng nghĩa đế. Nhờ chư Phật, chư Bồ tát đem các giáo pháp này dạy dỗ trao truyền mà chúng ta hiểu rõ thế nào là chứng hay đắc.

 

Kết luận:

(cho Luận # 9, phần chứng hay đắc)

 

 

- Phẩm "Thanh Tịnh", Hội thứ V, quyển 559, ĐBN. Thiện Hiện bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn! Bát Nhã sâu xa chính là Ba la mật rộng lớn, đối với tất cả pháp không trói buộc, không dính mắc. Mặc dù chứng Bồ đề nhưng không có sự chứng, mặc dù chuyển vận bánh xe pháp nhưng không có sự chuyển. Không có pháp có thể chỉ rõ, không có pháp có thể hiển bày, không có pháp có thể đắc, không có pháp có thể chuyển, không có pháp có thể vận. Vì tất cả pháp hoàn toàn không sanh, cũng không diệt. Vì không sanh diệt nên không chuyển xoay.

Thế Tôn bảo Thiện Hiện:

- Đúng như vậy! Đúng như vậy! Vì sao? Vì trong pháp vô tánh lấy không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, vô sanh, vô diệt, hoặc chuyển, hoặc xoay đều không thể đắc. Nếu người nào có thể tuyên thuyết, chỉ dạy được như thế thì gọi là người tuyên thuyết Bát nhã Ba la mật thiện tịnh”...

Không có sanh diệt, chuyển xoay thì có cái gì để chứng để đắc.

 

- Kinh “Kim Cương Năng Đoạn” là một quyển kinh nhỏ, gói ghém trong quyển 577, ĐBN có một đoạn kinh ngắn như sau:

“Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa Phật đã nói, không có chút pháp nào Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, cũng không có chút pháp nào là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã nói ra. Vì sao?

Bạch Thế Tôn! Vì pháp mà Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã chứng, đã nói, đã tư duy đều không thể nắm giữ, không thể tuyên thuyết, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì sao? Vì các Hiền Thánh, chúng sanh đều là sự hiển hiện của pháp vô vi”.

Ở trên nói về thọ ký và chứng đắc. Ở đây nói về tu hành và chứng đắc. Sau 49 ngày thiền định, khi sao mai va mọc, Phật đắc tam minh, ngũ nhãn, lục thần thông, hàng phục ma quân, đoạn trừ tất cả tập khí phiền não tương tục, chỉ trong một sát na tương ưng với diệu huệ Thế Tôn trở thành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Rồi từ đó Ngài chu du khắp một phần ba xứ Ấn, thuyết pháp độ sanh suốt 49 năm trước khi nhập Niết bàn. Nhưng tại sao Phật lại hỏi Thiện Hiện: Như Lai có được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không? Như Lai có thuyết pháp không? Và cụ thọ Thiện Hiện lại trả lời: Không.

Cụ thọ Thiện Hiện từng theo Phật tu học bao năm mà tại sao không biết việc đó. Câu trả lời của cụ thọ có nghĩa là Phật không chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, vì Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề chỉ là danh tự ngôn ngữ thế tục.

Trong phẩm “Chân như”, quyển 323, Hội thứ I, ĐBN, Thiện Hiện bạch Phật: “(…)Nếu năng tin hiểu, không có pháp năng chứng, không có pháp sở chứng, không có xứ chứng, không có thời chứng, cũng không do đây mà có sở chứng, thời năng tin hiểu Vô thượng Bồ đề của chư Phật. Nếu chứng biết, không có pháp năng sở, nơi chốn, thời gian… hay do đây mà được chứng, thời có thể chứng được sở cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tất cả pháp đều rốt ráo rỗng không. Trong rốt ráo không, đều không có pháp khá gọi là năng chứng, khá gọi sở chứng, khá gọi xứ chứng, khá gọi thời chứng, khá gọi do đây mà có sở chứng. Vì sao? Các pháp đều không, hoặc tăng hoặc giảm đều vô sở hữu, đều bất khả đắc”.

Vô sở hữu, bất khả đắc ở đây có nghĩa là đừng lấy cái tâm tu hành mà mong cầu nắm bắt, không có gì là chứng, không có gì là đắc nên gọi là vô sở hữu, bất khả đắc. Bát Nhã ở đây phá cái chấp về danh tự ngôn ngữ. Quả vị Vô Thượng Bồ đề cũng là danh tự do người đặt ra, có tên để gọi, nên nó cũng thuộc về danh tự ngôn ngữ. Nó là cái vỏ bên ngoài, người ta gán cho mình, không thuộc về mình. Nếu người ta có thể gán cho mình(nhãn hiệu) thì người ta cũng có thể lột ra được. Cái thầm ngộ, tự chứng là cái thuộc về nội tâm, làm sao thấy được mà lột mà tháo gỡ. Chỉ có mình tự ngộ, tự chứng.

Nhưng chứng hay không cũng chẳng có gì khác, chỉ thầm ngộ, không ai cho, không ai biết. Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không thể nói cho người. Nên Tô đông Pha, quan đại phu đời Tống, diễn đạt ý này bằng bài tụng ý nhị như sau:

 

Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều

Vị đáo sanh bình hận bất tiêu

Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự

Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều

 

Dịch:

 

Khói phủ non Lô sóng Chiết giang

Ngày nào chưa đến hận còn mang

Đến rồi hóa ra chẳng gì khác

Khói phủ non Lô sóng Chiết giang!

 

Ngộ rồi đồng chưa ngộ. Chưa ngộ thì háo hức, ngộ rồi hóa ra chẳng có gì khác. Khi thời tiết đến thì cây đơm hoa kết trái. Nên nói: Ngộ là “tâm hoa nở”, là “đổi cung đàn” hay “tâm thông”. Tâm hoa nở là tâm chứng cái vui thầm ngộ, chỉ do mình biết. Đổi cung đàn là đổi cái tâm mê ra ngộ chẳng có gì khác. Tâm thông là không còn vô minh ngu muội nữa. Tất cả chỉ có mình thầm biết, thầm ngộ chẳng có ai biết ngoài mình! Vì vậy, đoạn Kinh sau đây của phần “Mạn Thù Thất Lợi”, quyển 574, Hội thứ VII. Phật hỏi Mạn Thù Thất Lợi:

- “Muốn chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, ngươi phải quán nghĩa nào?

Mạn Thù Thất Lợi thưa:

- Bạch Thế Tôn! Đối với quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, con còn không có trụ tâm, huống hồ muốn chứng. Đối với Bồ đề con không mong cầu chứng đắc. Vì sao? Vì Bồ đề tức là con, con tức là Bồ đề thì cầu làm gì?

Phật dạy:

- Đồng tử! Hay thay! Ngươi đã nói được nghĩa lý sâu xa một cách hoàn hảo. Đời trước ông gieo trồng nhiều căn lành với nhiều đức Phật, phát đại nguyện lâu dài, thường nương vào vô đắc, tu hành các phạm hạnh thanh tịnh.

Mạn Thù Thất Lợi liền bạch Phật:

- Nếu kẻ đối các pháp có sở đắc nên nương vô sở đắc tu phạm hạnh thanh tịnh. Con đều chẳng thấy có pháp khả đắc hay bất khả đắc, làm sao nói được năng nương vô đắc tu phạm hạnh thanh tịnh?”

Thật quá sâu sắc! Mạn Thù Sư Lợi Bồ tát là một vị cổ Phật, đã tự mình biết, tự mình thầm ngộ cái chứng đắc của mình. Nên mới có thể phát biểu: Bồ đề tức là con, con tức là Bồ đề thì cầu Bồ đề làm gì nữa? Mạn Thù Thất Lợi cũng không nói lấy hữu sở đắc hay vô sở đắc để tu hành phạm hạnh thanh tịnh. Vì chính đại Bồ tát này năng sở trong ngoài đều rỗng không trong suốt, đó chính là tịnh hạnh. Tu tịnh hạnh này là tu Bát nhã Ba la mật chơn tịnh. Tu tới đó chắc có lẽ không ai muốn nghe muốn nói chứng hay không chứng đắc nữa?

 

 

---o0o---

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn