Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

47. Phẩm "Chỉ Tướng"

28/08/202010:38(Xem: 4401)
47. Phẩm "Chỉ Tướng"

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***

buddha-434

PHẨM "CHỈ TƯỚNG"

Phần sau quyển 442 đến hết quyển 443, Hội thứ II, ĐBN.

(Phẩm này có chủ đề “Bát Nhã Ba-la-mật lấy gì làm tướng”, tương đương

với phần sau phẩm “Phật Mẫu”, quyển 306 trở đi, Hội thứ I, ĐBN)



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

Gợi ý:

Phẩm này đề cập đến hai vấn đề: 1. Bát Nhã lấy gì làm tướng?  2. Bát Nhã không thể nghĩ bàn. Phần “Bát Nhã lấy gì làm tướng?” lại tương đương với phần sau phẩm “Phật Mẫu” và phần “Bát Nhã không thể nghĩ bàn” lại thuộc phẩm “Chẳng Nghĩ Bàn”, cuối quyển 308 đến quyển 310, Hội thứ I, ĐBN. Chúng tôi trình bày phẩm này cũng chia làm hai phần để tóm lược và luận giải.

Cũng nên nói thêm rằng phẩm “Chỉ Tướng” của Hội thứ II tương đương với phẩm thứ 48, “Vấn Tướng” , tập 4, quyển 70 của Đại Trí Độ Luận. Đây là một phẩm có giáo lý rất phức tạp, khó khăn. Phải đi từng bước một mới có hy vọng thâm nhập được giáo lý của các pháp này.

 

Tóm lược:

 

1. Bát Nhã Ba mật lấy gì làm tướng?

 

(1- Thuyết tướng Bát Nhã)

 

Bấy giờ, Tam thiên đại thiên thế giới chư thiên cõi Dục, cõi Sắc đều đem các thứ hoa hương trời mầu nhiệm từ xa rải cúng dường Thế Tôn, rồi đi đến chỗ Phật đảnh lễ hai chân, lui đứng một bên, đồng thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Bát nhã Ba la mật thẳm sâu lấy gì làm tướng?

Bấy giờ, Phật bảo chúng chư thiên rằng:

- Bát nhã Ba la mật thẳm sâu lấy không làm tướng, lấy vô tướng làm tướng, lấy vô nguyện làm tướng, lấy vô tác làm tướng. Bát Nhã thẳm sâu lấy vô sanh vô diệt làm tướng, lấy vô nhiễm vô tịnh làm tướng. Bát Nhã thẳm sâu lấy vô tánh vô tướng làm tướng, lấy vô y vô trụ làm tướng. Bát Nhã thẳm sâu lấy chẳng đoạn chẳng thường làm tướng, lấy chẳng một chẳng khác làm tướng, lấy vô khứ vô lai làm tướng, Bát Nhã thẳm sâu lấy hư không làm tướng. Bát Nhã thẳm sâu có vô lượng tướng.

Chư thiên phải biết: Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vì muốn nhiêu ích thế gian trời người A tu la nương thế tục, thi thiết diễn nói, chẳng nương thắng nghĩa.

Chư thiên phải biết: Các tướng Bát Nhã thẳm sâu như thế, thế gian trời người A tu la đều chẳng phá hoại được. Vì sao? Vì thế gian trời người A tu la cũng đều là tướng vậy.

Chư thiên phải biết: Các tướng chẳng năng phá hoại các tướng, các tướng chẳng năng biết các tướng. Các tướng chẳng năng phá hoại vô tướng, các tướng chẳng năng biết vô tướng. Vô tướng chẳng năng phá hoại các tướng, vô tướng chẳng năng biết các tướng. Vô tướng chẳng năng phá hoại vô tướng, vô tướng chẳng năng biết vô tướng. Vì sao? Hoặc tướng hoặc vô tướng, hoặc tướng vô tướng đều vô sở hữu. Năng phá năng biết, sở phá sở biết, kẻ phá kẻ biết bất khả đắc vậy.

Chư thiên phải biết: Các tướng như thế chẳng phải do sắc làm ra, chẳng phải do thọ tưởng hành thức làm ra. Chẳng phải do 12 xứ, 18 giới làm ra. Chẳng phải bố thí làm ra, chẳng phải tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật làm ra. Chẳng nội không cho đến vô tánh tự tánh không làm ra. Chẳng chơn như làm ra; chẳng pháp giới cho đến bất tư nghì giới làm ra. Chẳng tứ Thánh đế làm ra. Chẳng bốn tĩnh lự, vô lượng, bốn định vô sắc làm ra. Chẳng tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ làm ra. Chẳng phải ba mươi bảy pháp trợ đạo làm ra. Chẳng Tịnh quán địa làm ra; chẳng Chủng tánh địa, Đệ bát địa, Cụ kiến địa, Bạc địa, Ly dục địa, Dĩ biện địa, Độc giác địa, Bồ Tát địa, Như Lai địa làm ra (Bồ Tát thập vị cộng Tam thừa). Chẳng Cực hỷ địa làm ra; chẳng ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa làm ra (Bồ Tát thập địa). Chẳng phải năm nhãn, sáu thần thông làm ra. Chẳng phải Như Lai mười lực làm ra; chẳng bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng làm ra. Chẳng phải ba mươi hai tướng Đại sĩ làm ra, chẳng tám mươi tùy hảo làm ra. Chẳng pháp vô vong thất làm ra, chẳng tánh hằng trụ xả làm ra. Chẳng phải tất cả Đà la ni, Tam ma địa môn làm ra. Chẳng phải Nhất thiết trí làm ra; chẳng phải Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí làm ra.

Chư thiên phải biết: Các tướng như thế chẳng phải trời làm ra, chẳng phải người làm ra, cũng chẳng phải cả hai làm ra. Chẳng phải trời có được, chẳng phải người có được, cũng chẳng phải cả hai có được. Chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian, chẳng hữu vi chẳng phải vô vi, không chỗ hệ thuộc chẳng thể tuyên nói.

Chư thiên phải biết: Bát Nhã thẳm sâu lìa các tướng, chẳng nên hỏi Bát Nhã thẳm sâu lấy gì làm tướng. Chư Thiên, các ông nghĩ sao? Nếu có người hỏi hư không tướng gì? Hỏi như thế có chánh đáng không?

Chư thiên đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng chánh đáng! Bạch Thiện Thệ! Chẳng chánh đáng! Vì sao? Vì hư không vô thể vô tướng vô vi chẳng nên hỏi vậy.

Phật liền bảo:

- Bát Nhã thẳm sâu cũng lại như thế, chẳng nên hỏi. Tướng các pháp có Phật, không Phật, pháp giới, pháp trụ, đối với các tướng này Phật như thật biết, nên gọi là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Khi ấy, chúng chư Thiên đồng thưa Phật rằng:

- Như Lai giác ngộ các tướng như thế rất thẳm sâu khó thấy, khó biết. Như Lai chứng đắc các tướng như thế nên đối với tất cả pháp dùng trí vô ngại để chuyển(1). Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác trụ tướng như thế, vì các hữu tình nhóm tướng các pháp, dùng phương tiện khai thị làm cho họ đối với Bát nhã Ba la mật được trí vô ngại.

Bạch Thế Tôn! Hiếm có! Bát Nhã thẳm sâu là chỗ các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thường đã sẽ đang hành; tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hành chỗ này nên chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, vì các hữu tình phân biệt khai chỉ tướng tất cả pháp. Nghĩa là phân biệt khai chỉ tướng sắc, phân biệt khai chỉ tướng thọ tưởng hành thức. Phân biệt khai chỉ tướng mười hai xứ, mười tám giới. Phân biệt khai chỉ tướng nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, phân biệt khai chỉ tướng nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ. Phân biệt khai chỉ tướng bố thí Ba la mật; phân biệt khai chỉ tướng tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật. Phân biệt khai chỉ tướng nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Phân biệt khai chỉ tướng chơn như; phân biệt khai chỉ tướng pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới. Phân biệt khai chỉ tướng tứ Thánh đế cho đến ba mươi bảy pháp trợ đạo. Phân biệt khai chỉ tướng tám giải thoát; phân biệt khai chỉ tướng tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ cho đến phân biệt khai chỉ tướng Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí.

Bấy giờ, Phật bảo chúng chư thiên rằng:

- Như vậy! Đúng như các ngươi đã nói! Chư thiên phải biết: Tướng tất cả pháp, Như Lai như thật biết là vô tướng. Nghĩa là biến ngại là tướng sắc, Như Lai như thật biết là vô tướng. Lãnh nạp là tướng thọ; lấy tượng là tướng tưởng; tạo tác là tướng hành; phân biệt là tướng thức, Như Lai như thật biết là vô tướng. Đống khổ não là tướng uẩn; cửa sanh trưởng là tướng xứ; nhiều độc hại là tướng giới, Như Lai như thật biết là vô tướng. Năng xả là tướng bố thí Ba la mật; không bức ngặt là tướng tịnh giới Ba la mật; chẳng sân hận là tướng an nhẫn Ba la mật; chẳng thể khuất phục là tướng tinh tấn Ba la mật; không tán loạn là tướng tĩnh lự Ba la mật; không chấp đắm là tướng Bát nhã Ba la mật, Như Lai như thật biết là vô tướng. Không có sở hữu là tướng nội không v.v…, Như Lai như thật biết là vô tướng. Chẳng điên đảo là tướng chơn như v.v…, Như Lai như thật biết là vô tướng. Chẳng hư dối là tướng bốn Thánh đế, Như lai như thật biết là vô tướng. Không ưu não là tướng bốn tĩnh lự; không hạn ngại là tướng bốn vô lượng, không ồn tạp là tướng bốn định vô sắc, Như Lai như thật biết là vô tướng. Không ràng buộc là tướng tám giải thoát; năng chế phục là tướng tám thắng xứ; năng vắng lặng là tướng chín định thứ lớp; không ngằn mé là tướng mười biến xứ, Như Lai như thật biết là vô tướng. Năng xuất ly là tướng ba mươi bảy Bồ đề phần pháp, Như Lai như thật biết là vô tướng. Năng xa lìa là tướng không giải thoát môn, không đắm lấy là tướng vô tướng giải thoát môn, không sở cầu là tướng vô nguyện giải thoát môn, Như Lai như thật biết là vô tướng. Nhiếp tịnh trụ là tướng Tam thừa thập địa, Như Lai như thật biết là vô tướng. Tới Đại giác là tướng Bồ Tát thập địa, Như Lai như thật biết là vô tướng. Năng quán chiếu là tướng năm nhãn, Như Lai như thật biết là vô tướng. Không trệ ngại là tướng sáu thần thông, Như Lai như thật biết là vô tướng. Khó khuất phục là tướng Như Lai mười lực, không khiếp sợ là tướng bốn vô sở úy, không đoạn tuyệt là tướng bốn vô ngại giải, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Cho lợi vui là tướng đại từ, vớt suy khổ là tướng đại bi, mừng việc thiện là tướng đại hỷ, phủi sạch tất cả là tướng đại xả, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Không có phần là mười tám pháp Phật bất cộng, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Năng nghiêm sức là tướng tướng hảo, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Năng nhớ nghĩ là tướng pháp không quên mất, không sở chấp là tướng tánh hằng trụ xả, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Khắp nhiếp trì là tướng tất cả Đà la ni môn, khắp nhiếp thọ là tướng tất cả Tam ma địa môn, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Khéo thọ giáo là tướng bốn quả Sa môn, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Tự khai ngộ là tướng Độc giác Bồ đề, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Năng thành xong đại sự là tướng Bồ Tát hạnh, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Đủ đại tác dụng là tướng chư Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. Hiện Chánh đẳng giác là tướng Nhất thiết trí, khéo thông đạt là tướng Đạo tướng trí, hiện đẳng biệt giác là tướng Nhất thiết tướng trí, Như Lai như thật giác biết là vô tướng. (Q. 443, ĐBN)

Chư thiên phải biết: Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đối với hết thảy tướng của tất cả pháp như thế đều năng như thật giác biết là vô tướng. Vậy nên, Ta nói tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có trí vô ngại không ai bằng.

 

(Để giải thích đoạn kinh này Đại Trí độ Luận, phẩm thứ 48, “Vấn Tướng”, tập 4, quyển 70, thuyết rằng:

Hỏi: Trước đây đã nói nhiều về không tướng, vô tướng tướng, vô tác tướng… dẫn đến vô sở hữu tướng là tướng của Bát nhã Ba la mật rồi. Nay vì sao chư Thiên còn hỏi nữa?

Đáp: Phật tùy nơi, tùy thời, tùy căn cơ của chúng sanh đến nghe pháp mà thuyết, để chúng sanh được lợi lạc. Có lúc Phật thuyết “vô”, có lúc thuyết “hữu”, có lúc thuyết về nhân quả, có lúc thuyết về tội phước v.v…

Nay chư Thiên hỏi về Bát nhã Ba la mật tướng, nên Phật mới rộng nói về các tướng của Bát nhã Ba la mật.

Trước đây Phật đã nói “Bát nhã Ba la mật tướng là như mộng, như huyễn”… tợ như khả đắc (có thể được) mà thật chẳng có tướng khả thủ (có thể nắm bắt được). Chỉ có chư Phật mới có thể như thật biết về tướng ấy. Chư Thiên, dù có lợi trí, nhưng chẳng thể nào biết rõ được nên mới thưa hỏi Phật như vậy.

Phật dạy rằng chư Thiên cũng như hết thảy các pháp khác đều là Bát nhã Ba la mật tướng, là không tướng.

Hết thảy pháp đều là “không tướng”, có nghĩa là hết thảy pháp đều là “vô tướng tướng”.

Đã là vô tướng tướng thì chẳng có các nguyên nhân dẫn sanh thân sau, nên cũng là “vô tác tướng” vậy.

Bởi vậy nên nói tam giải thoát môn “không, vô tướng và vô tác” là ba cửa dẫn vào ba thừa đạo. Đây là cộng tướng của cả ba thừa đạo, vì cả ba thừa đều có nói đến.

Ví như ở cả ba thừa đều nói đến pháp tướng là bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, đều là vô y chỉ, là như hư không. Đây cũng chính là Bát nhã Ba la mật tướng vậy.

 

--o0o--

 

“Cửa Không” chỉ có một, nhưng tùy người căn trí lợi hay độn mà cách vào “cửa Không” có nhiều sai khác. Bởi vậy nên mới phân biệt nói không, nói vô sanh, nói vô diệt v.v…

Chư Thiên tự niệm rằng: Bát nhã Ba la mật là không, là vô sở hữu, thì tướng của Bát nhã Ba la mật là tướng của hư không. Như vậy làm sao có thể diễn bày được. Vì sao? Vì nếu tướng ấy có thể diễn bày được, thì ắt phải là hữu tướng, chẳng phải là vô tướng vậy.

Tự niệm như vậy, nhưng vì sợ oai đức của Phật, nên chư Thiên chẳng dám thưa hỏi. Phật biết rõ tâm niệm của chư Thiên, nên dạy: Phật thương xót chúng sanh, nên dùng thế đế để diễn bày “không tướng”, mà chẳng dùng đệ nhất nghĩa đế. Vì Phật dùng thế đế, nên chẳng có gì để nạn vấn cả.

Lại nữa, tuy thuyết “không”, mà chẳng thủ chấp “không”, tuy thuyết thế đế, mà chẳng rơi lọt vào thế đế, nên là đồng một tướng vô phân biệt vậy. Tuy nói Bát nhã Ba la mật tướng là vô sở hữu, là như hư không tướng, mà chẳng có pháp nào mà chẳng vào trong tướng ấy cả, nên nói hết thảy tướng thế gian đều chẳng thể hoại được. Vì sao? Vì hết thảy thế gian, Trời, người, A Tu La cũng đều là tướng ấy cả, mà tướng thì chẳng thể phá hoại tướng. Ví như lửa chẳng thể diệt được lửa, nước chẳng thể diệt được nước vậy. Dù miệng nói “phá tướng cho đến chỗ rốt ráo” nhưng “rốt ráo” là bất khả tư nghì, là chẳng thể phá hoại được.

Phật dạy: Bát nhã Ba la mật là rốt ráo không, là vô tướng, là vô tác. Bởi vậy nên tướng chẳng thể phá hoại vô tướng, tướng cũng chẳng thể phá hoại tướng. Vì sao? Vì các pháp dù phân tán, dù tập hợp, thì cũng đều rốt ráo chẳng tăng giảm, rốt ráo chẳng có chỗ phá được. Ví như lấy búa chẻ khúc gỗ lớn ra thành nhiều miếng củi nhỏ, thì lượng gỗ vẫn chẳng có tăng giảm. Lại nữa, hết thảy pháp đều chẳng có định tướng nên chẳng thể phá hoại được. Ví như cây do gốc rễ, thân, cành, lá… họp lại, mà chẳng có pháp nào nhất định gọi là cây.

Hỏi: Hết thảy sắc pháp chẳng có tánh giác, nên chẳng hay chẳng biết được. Còn tâm sở pháp có thể hay biết được các tướng. Như vậy vì sao lại nói chẳng hay biết?

Đáp: Nơi đây Phật nói về thật tướng pháp nên nói sự “thấy, nghe, hay, biết” của phàm phu đều là hư vọng. Do chấp có hữu vi pháp tướng mới có nhân duyên hòa hợp sanh, nên nói các pháp là hư vọng, chẳng thật có.

Nên biết rằng:

- Nếu dùng trí để phân biệt các pháp là thường, là vô thường, là không, là tịch diệt v.v… thì vẫn chưa đến được chỗ vô sở hữu.

- Trái lại, nếu “như thật biết” các pháp, thì chẳng cần dùng đến trí dụng, vì trí dụng là trí tướng mà đã là tướng thì chẳng thể biết tướng, tướng chẳng thể biết vô tướng. Nội, tuy có trí mà thật sự là tánh không, ngoại, tuy có tướng, mà cũng vẫn là tánh không. Nội cũng như ngoại đều chẳng có pháp có thể biết được. Có thuyết nói duyên tướng bên ngoài là vô duyên (chẳng có duyên), nên tướng bên ngoài chẳng phải do trí huệ sanh. Cho nên nói trí tướng tướng chẳng có thể biết được vô tướng. Ví như con dao, dù rất bén, cũng chẳng có thể chém được hư không vậy.

Có thuyết nói trí huệ ở bên trong, chẳng có định tướng, mà các pháp bên ngoài lại có định tướng, và nói tâm tùy duyên sanh. Cho nên nói vô tướng chẳng thể biết được tướng. Ví như nếu chẳng có những dụng cụ để cưa xẻ gỗ, thì chẳng sao có thể cưa xẻ khúc gỗ lớn ra làm nhiều tấm ván mỏng được vậy.

 

--o0o--

 

Tóm lại, “thật tướng pháp” là vô tướng tướng. Hết thảy các pháp ở nơi thật tướng đều là không tướng, là vô tướng tướng nên đều là bất khả tri (chẳng thể biết được), bất khả đắc (chẳng thế đắc được).

Hỏi: Vì sao nói tướng chẳng vào được vô tướng?

Đáp: Vì vào chỗ vô tướng là đã ly tướng rồi, mà vô tướng là vô sở hữu xứ (chẳng có xứ sở) vậy. Bởi vậy nên tướng chẳng có vào được vô tướng.

Lại nữa, “năng tướng” và “sở tướng” đều chẳng có định tướng. Do có sở tướng, mới có năng tướng, và ngược lại. Nếu nói trước đã có năng tướng, mà năng tướng lại là vô tướng (chẳng có tướng), thì chẳng thể nào có sở tướng được. Còn nếu nói trước đã có sở tướng, mà sở tướng là vô tướng, thì cũng chẳng thể nào có năng tướng được.

Cả năng tướng và sở tướng đều chẳng có định tướng, nên các tướng ấy đều chẳng phải là thật tướng. Cho nên nói năng tướng và sở tướng đều là bất khả đắc cả.

 

--o0o--

 

Như trước đây đã nói “hết thảy các pháp tướng đều là không tướng, là vô tướng”. Như vậy là tướng chẳng phải do ngũ ấm làm ra, chẳng phải do sáu Ba La Mật làm ra… dẫn đến chẳng phải do Nhất thiết chủng trí làm ra. Tướng là vô vi tánh, nên chẳng do pháp nào làm ra, chẳng do người làm ra… dẫn đến chẳng do chư Thiên, chư Bồ Tát, chư Phật làm ra.

Vì sao? Vì tướng là rốt ráo không, chẳng phải là hữu lậu hay vô lậu, chẳng phải là thế gian hay xuất thế gian vậy.

 

--o0o--

 

Trước đây nói vô vi tướng nhằm đối trị sự lầm chấp về hữu vi tướng. Nay nói vô vi tướng cũng chẳng có định tướng, khiến có nhiều người nghi, nên Phật nói rõ với chư Thiên rằng: Dù có Phật, dù chẳng có Phật, thì các tướng vẫn thường trú. Người biết rõ như vậy là vào được Phật đạo.

Lúc bấy giờ, hàng chư Thiên hoan hỷ bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thật là thậm thâm. Tuy chẳng chấp thủ pháp tướng, mà vẫn có thể tu hành để thành tựu vô thượng phước quả.

Phật dạy: Nếu thấu rõ được tánh tướng như vậy là được vô ngại trí. Nếu chẳng thấu rõ thậm thâm tánh tướng như vậy, thì chẳng có được vô ngại trí.

Phật thông đạt vô ngại, thể nhập vào thật tướng pháp, để rồi từ đó rộng thuyết về tổng tướng và biệt tướng của hết thảy các pháp, từ não hại tướng, tức là sắc tướng… dẫn đến “liễu vi tướng”, tức là Nhất thiết chủng trí tướng. Phật đã như vậy mà phân biệt ra các tướng.

Phàm phu, do chấp tướng, mà phân biệt ra có các tướng riêng khác. Còn Phật biết rõ hết thảy các pháp tướng đều là không tướng, mà không tướng cũng là vô tướng. Phật khắp biết rõ thật tướng của hết thảy các pháp, mà thật tướng pháp chính là Bát nhã Ba la mật tướng vậy”).

 

(2- Bát nhã Ba la mật hay sanh chư Phật, hay khai thị thế gian pháp tướng).

 

Bấy giờ, Thế Tôn bảo cụ thọ Thiện Hiện rằng:

- Thiện Hiện! Phải biết Bát Nhã thẳm sâu là mẹ chư Phật. Bát nhã Ba la mật thẳm sâu năng chỉ thật tướng các pháp thế gian(2). Vậy nên, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nương pháp mà trụ, cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen, nhiếp thọ hộ trì pháp sở y trụ. Pháp đây tức là Bát Nhã thẳm sâu. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nương dựa Bát Nhã thẳm sâu, cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen, nhiếp thọ hộ trì. Vì sao? Vì Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, đều nhờ Bát Nhã như thế mà được sanh trưởng. Bát Nhã làm chỗ sở y cho các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, thường chỉ thật tướng các pháp thế gian. Thiện Hiện phải biết: Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là kẻ biết ơn, kẻ năng đền ơn.

Thiện Hiện! Nếu có người hỏi rằng: Ai là kẻ biết ơn, kẻ năng đền ơn? Nên đáp ngay rằng: Phật là kẻ biết ơn năng đền ơn. Vì sao? Vì tất cả thế gian biết ơn đền ơn không ai hơn Phật.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác biết ơn đền ơn?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác lái xe như vậy, trên con đường như vậy, đến được Vô thượng Bồ đề. Sau khi đắc đạo Bồ đề, luôn luôn cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, nhiếp thọ, hộ trì xe ấy, đường ấy thường không dừng nghỉ. Nên biết xe ấy, đường ấy là Bát Nhã thẳm sâu. Thiện Hiện! Đây gọi là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác biết ơn và đền ơn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không những đều nương Bát Nhã thẳm sâu, giác biết tất cả pháp đều vô tác dụng, vì kẻ năng tác vô sở hữu. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không những đều nương Bát Nhã thẳm sâu giác biết tất cả pháp đều vô sở thành xong (không thành tựu), vì bản chất bất khả đắc.

Thiện Hiện! Vì các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nương Bát Nhã thẳm sâu như thế, giác biết tất cả pháp đều vô tác dụng, vô sở thành xong, với tất cả thời cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen, nhiếp thọ hộ trì từng không gián đoạn, nên gọi chơn thật biết ơn đền ơn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không những đều nương Bát Nhã thẳm sâu, đối tất cả pháp vô tác, vô thành, vô sanh trí chuyển; lại năng biết nhân duyên đây vô chuyển, vậy nên phải biết Bát Nhã thẳm sâu thường sanh chư Phật, cũng thường chỉ thật tướng các pháp (chư pháp thật tướng) thế gian.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Như Lai thường nói tánh tất cả pháp không sanh, không khởi, không biết, không thấy, làm sao nói được Bát Nhã thẳm sâu thường sanh chư Phật, thường chỉ thật tướng các pháp thế gian?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Như vậy, đúng như ngươi đã nói! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nói tất cả pháp không sanh không khởi, không biết không thấy, nương thế tục mà nói Bát Nhã thẳm sâu thường sanh chư Phật, cũng thường chỉ thật tướng các pháp thế gian.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao các pháp không sanh không khởi, không biết không thấy?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Vì tất cả pháp đều chẳng tự tại, hư dối chẳng bền, nên tất cả pháp không sanh không khởi, không biết không thấy. Lại nữa, tánh tất cả pháp không chỗ nương dựa, không bị hệ thuộc. Bởi nhân duyên đây không sanh không khởi, không biết không thấy.

Thiện Hiện phải biết: Bát Nhã tuy sanh chư Phật, cũng thường chỉ thật tướng thế gian mà không sở sanh, cũng không sở chỉ.

Thiện Hiện phải biết: Bát Nhã thẳm sâu chẳng thấy sắc, nên gọi chỉ tướng sắc; chẳng thấy thọ tưởng hành thức, nên gọi chỉ tướng thọ tưởng hành thức. Chẳng thấy mười hai xứ, nên gọi chỉ tướng mười hai xứ; chẳng thấy mười tám giới, nên gọi chỉ tướng mười tám giới. Chẳng thấy nhãn xúc, nên gọi chỉ tướng nhãn xúc; chẳng thấy nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc, nên gọi chỉ tướng nhỉ tỹ thiệt thân ý xúc. Chẳng thấy nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, nên gọi chỉ tướng nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ; chẳng thấy nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ, nên gọi chỉ tướng nhỉ tỹ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ. Chẳng thấy địa giới, nên gọi chỉ tướng địa giới; chẳng thấy thủy hỏa phong không thức giới, nên gọi chỉ tướng thủy hỏa phong không thức giới. Chẳng thấy bố thí Ba la mật, nên gọi chỉ tướng bố thí Ba la mật; chẳng thấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật, nên gọi chỉ tướng tịnh giới cho đến Bát nhã Ba la mật. Chẳng thấy nội không, nên gọi chỉ tướng nội không; cho đến chẳng thấy vô tánh tự tánh không, nên gọi chỉ tướng vô tánh tự tánh không. Chẳng thấy chơn như, nên gọi chỉ tướng chơn như; chẳng thấy pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới, nên gọi chỉ tướng pháp giới cho đến bất tư nghì giới. Chẳng thấy tám giải thoát, nên gọi chỉ tướng tám giải thoát; chẳng thấy tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ, nên gọi chỉ tướng tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ. Chẳng thấy tứ Thánh đế, chẳng thấy ba mươi bảy pháp trợ đạo, nên gọi chỉ tướng tứ Thánh đế cho đến ba mươi bảy pháp trợ đạo. Chẳng thấy Như Lai mười lực, nên gọi chỉ tướng Như Lai mười lực; chẳng thấy bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, nên gọi chỉ tướng bốn vô sở úy cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Cho đến chẳng thấy Nhất thiết trí, nên gọi chỉ tướng Nhất thiết trí; chẳng thấy Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, nên gọi chỉ tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí.

Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế nên nói Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ thật tướng các pháp thế gian, nên gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao Bát Nhã thẳm sâu như thế chẳng thấy sắc, nên gọi chỉ tướng sắc; chẳng thấy thọ tưởng hành thức, nên gọi chỉ tướng thọ tưởng hành thức? Như vậy, cho đến chẳng thấy Nhất thiết trí, nên gọi chỉ tướng Nhất thiết trí; chẳng thấy Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, nên gọi chỉ tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí?

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật thẳm sâu bởi chẳng duyên sắc mà sanh thức, đấy là chẳng thấy sắc, nên gọi chỉ tướng sắc. Chẳng duyên thọ tưởng hành thức mà sanh thức, đấy là chẳng thấy thọ tưởng hành thức, nên gọi chỉ tướng thọ tưởng hành thức. Như vậy, cho đến bởi chẳng duyên Nhất thiết trí mà sanh thức, đấy là chẳng thấy Nhất thiết trí, nên gọi chỉ tướng Nhất thiết trí. Chẳng duyên Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí mà sanh thức, đấy gọi là chẳng thấy Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, nên gọi chỉ tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Thiện Hiện! Do nghĩa như thế, Bát Nhã thẳm sâu năng chỉ thật tướng các pháp thế gian, nên gọi là mẹ chư Phật, năng sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường vì chư Phật hiển bày thế gian không, nên gọi là mẹ chư Phật, thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian(3).

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bát Nhã thẳm sâu thường vì chư Phật hiển bày thế gian không?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường vì chư Phật hiển bày sắc thế gian không, hiển bày thọ tưởng hành thức thế gian không. Hiển bày mười hai xứ, mười tám giới thế gian không. Hiển bày nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ thế gian không, hiển bày nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ thế gian không. Hiển bày địa giới thế gian không, hiển bày thủy, hỏa, phong, không, thức giới thế gian không. Hiển bày bố thí thế gian không, cho đến hiển bày Bát nhã Ba la mật thế gian không. Hiển bày nội không thế gian không, cho đến hiển bày vô tánh tự tánh không thế gian không. Hiển bày tất cả pháp Phật thế gian không. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên nói Bát nhã Ba la mật thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nương Bát Nhã thẳm sâu thường vì thế gian hiển bày sắc thế gian không; hiển bày thọ, tưởng, hành, thức thế gian không; như vậy, cho đến hiển bày Nhất thiết trí thế gian không; hiển bày Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian không, làm cho các thế gian nhận biết thế gian không, tưởng thế gian không, nghĩ thế gian không, thấu rõ thế gian không. Thiện Hiện! Do nghĩa đó mà nói Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, nên gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật. (Q.443, ĐBN)

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường khiến chư Phật thấy thế gian không. Thấy những gì thuộc thế gian không? Là thấy sắc thế gian không, thấy thọ tưởng hành thức thế gian không. Như vậy, cho đến thấy Nhất thiết trí thế gian không, thấy Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian không. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian chẳng thể nghĩ bàn.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát Nhã thẳm sâu, thường chỉ Như Lai tướng thế gian chẳng thế nghĩ bàn?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian chẳng thể nghĩ bàn, tướng thọ tưởng hành thức thế gian chẳng thể nghĩ bàn. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian chẳng thể nghĩ bàn, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian chẳng thể nghĩ bàn. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế Bát Nhã thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian xa lìa.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát Nhã thẳm sâu như thế thường chỉ Như Lai tướng thế gian xa lìa?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian xa lìa, tướng thọ tưởng hành thức thế gian xa lìa. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian xa lìa, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian xa lìa. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian vắng lặng.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian vắng lặng?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian vắng lặng, tướng thọ tưởng hành thức thế gian vắng lặng. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian vắng lặng, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian vắng lặng. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian rốt ráo không.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát Nhã thẳm sâu, thường chỉ Như Lai tướng thế gian rốt ráo không?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian rốt ráo không, tướng thọ tưởng hành thức thế gian rốt ráo không. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian rốt ráo không, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian rốt ráo không. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên Bát Nhã thẳm sâu năng chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian vô tánh không.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát nhã Ba la mật như thế thường chỉ Như Lai tướng thế gian vô tánh không?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian vô tánh không, tướng thọ tưởng hành thức thế gian vô tánh không. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian vô tánh không, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian vô tánh không. Thiện Hiện! Bởi nghĩ như thế, nên Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian tự tánh không.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát nhã Ba la mật như thế thường chỉ Như Lai tướng thế gian tự tánh không?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian tự tánh không, tướng thọ tưởng hành thức thế gian tự tánh không. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian vô tánh tự tánh không, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian tự tánh không. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian vô tánh tự tánh không.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát Nhã thẳm sâu như thế thường chỉ Như Lai tướng thế gian vô tánh tự tánh không?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian vô tánh tự tánh không, tướng thọ tưởng hành thức thế gian vô tánh tự tánh không. Như vậy cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian vô tánh tự tánh không, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian vô tánh tự tánh không. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian thuần không(4).

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát nhã Ba la mật như thế thường chỉ Như Lai tướng thế gian thuần không?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian thuần không, tướng thọ tưởng hành thức thế gian thuần không. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian thuần không, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian thuần không. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật thường chỉ Như Lai tướng thế gian thuần vô tướng, vô nguyện.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian thuần vô tướng, vô nguyện?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian thuần vô tướng vô nguyện, tướng thọ tưởng hành thức thế gian thuần vô tướng vô nguyện. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian thuần vô tướng vô nguyện, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian thuần vô tướng vô nguyện. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên Bát nhã Ba la mật thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian vô ngã.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sao là Bát Nhã thẳm sâu như thế thường chỉ Như Lai tướng thế gian vô ngã?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng sắc thế gian vô ngã, tướng thọ tưởng hành thức thế gian vô ngã. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết trí thế gian vô ngã, tướng Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thế gian vô ngã. Thiện Hiện! Bởi nghĩa như thế, nên Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai thật tướng thế gian, gọi là mẹ chư Phật, thường sanh chư Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian ấy, nghĩa là chẳng cho khởi tưởng thế gian này, cũng chẳng cho khởi tưởng thế gian nọ. Sở dĩ như vậy là vì sao? Vì tất cả pháp đều vô sở hữu, thật bất khả đắc, không thể vin vào đó mà khởi tưởng thế gian này thế gian nọ.

 

2. Thế nào Bát Nhã là đại pháp sự, là bất khả tư nghì sự, là bất khả xứng tự,

bất khả lượng sự và là vô đẳng đẳng sự?

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bát nhã Ba la mật thậm thậm vì đại sự nhân duyên nên xuất hiện thế gian; Bát Nhã vì việc chẳng thể nghĩ bàn mà xuất hiện thế gian; Bát Nhã vì việc chẳng thể xưng lường mà xuất hiện thế gian; Bát Nhã vì việc không có hạn lượng mà xuất hiện thế gian, Bát Nhã vì việc không gì sánh bằng mà xuất hiện thế gian.

Phật nói:

- Thiện Hiện! Như vậy, đúng như ngươi đã nói! Bát Nhã thẳm sâu, vì đại sự nhân duyên nên xuất hiện thế gian. Vì việc chẳng thể nghĩ bàn nên xuất hiện thế gian. Vì việc chẳng thể cân lường nên xuất hiện thế gian. Vì việc không số lượng nên xuất hiện thế gian. Vì việc không gì sánh bằng nên xuất hiện thế gian. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, lấy việc cứu độ khắp tất cả hữu tình không ngưng nghỉ làm đại sự mà xuất hiện thế gian.

Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có bao Chánh đẳng giác tánh(5), Như Lai tánh(6), Tự nhiên giác tánh(7), Nhất thiết trí tánh đều là việc chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không có hạn lượng, không có gì sánh bằng mà xuất hiện thế gian.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chỉ có Chánh đẳng giác tánh, Như Lai tánh, Tự nhiên giác tánh, Nhất thiết trí tánh chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể cân lường, không số lượng, không gì sánh bằng hay lại còn pháp nào khác nữa cũng lại như thế?

Phật nói:

- Chẳng phải chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có bao Chánh đẳng giác tánh, Như Lai tánh, Tự nhiên giác tánh, Nhất thiết trí tánh chẳng thể nghĩ bàn được, chẳng thể xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng mà Sắc cũng chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Thọ tưởng hành thức cũng chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Như vậy, cho đến Nhất thiết trí cũng chẳng thể nghĩ bàn được, chẳng thể cân lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí cũng chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng.

Thiện Hiện! Tất cả pháp cũng chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Ở trong chơn pháp tánh, tâm và tâm sở chẳng thể nắm bắt được. (Q.443, ĐBN)

Lại nữa, Thiện Hiện! Tánh sắc chẳng khá thi thiết, chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Tánh thọ tưởng hành thức cũng chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Như vậy, cho đến tánh Nhất thiết trí cũng chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Tánh Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí cũng chẳng nghĩ bàn được, chẳng xưng lường được, không hạn lượng, không gì sánh bằng.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Vì duyên cớ gì mà nói tánh sắc chẳng thể thi thiết, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Tánh thọ tưởng hành thức cũng chẳng thể thi thiết, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng? Duyên cớ gì mà nói tánh Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí cũng lại như thế?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Vì tự tánh sắc chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Vì không có tự tánh, nên tánh sắc chẳng thể thi thiết, nghĩ bàn, xưng lường, hạn lượng, bình đẳng chẳng bình đẳng. Tự tánh thọ tưởng hành thức cũng chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Vì không có tự tánh, nên tánh thọ tưởng hành thức chẳng thể thi thiết, nghĩ bàn, xưng lường, hạn lượng, bình đẳng chẳng bình đẳng. Như vậy, cho đến tự tánh Nhất thiết trí, tự tánh Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Vì vô tự tánh nên tánh Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí chẳng thể thi thiết, nghĩ bàn, xưng lường, hạn lượng, bình đẳng chẳng bình đẳng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc bất khả đắc nên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Thọ tưởng hành thức cũng bất khả đắc nên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Như vậy, cho đến Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí cũng bất khả đắc nên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Vì duyên cớ gì sắc, thọ, tưởng, hành, thức cho đến Nhất thiết tướng trí bất khả đắc nên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Sắc không hạn lượng nên bất khả đắc. Bất khả đắc nên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Thọ tưởng hành thức cũng không hạn lượng nên bất khả đắc. Bất khả đắc nên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng. Như vậy, cho đến Nhất thiết tướng trí không hạn lượng nên bất khả đắc. Bất khả đắc nên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Vì duyên cớ gì nói sắc, thọ, tưởng, hành, thức cho đến Nhất thiết tướng trí không hạn lượng nên bất khả đắc?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Tướng sắc chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng nên không hạn lượng. Tướng thọ tưởng hành thức cũng chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng nên không hạn lượng. Như vậy, cho đến tướng Nhất thiết tướng trí chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng nên không hạn lượng.

Phật hỏi:

- Này Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao: Trong cái chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng, không có tự tánh của sắc, sắc có thể nắm bắt được chăng? Trong cái chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng, không có tự tánh của thọ tưởng hành thức, thọ tưởng hành thức có thể nắm bắt được chăng? Trong cái chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng, không có tự tánh của Nhất thiết trí, cho đến Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, ba trí này có thể nắm bắt được chăng?

Thiện Hiện đáp:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng được! Bạch Thiện Thệ! Chẳng được!

Này Thiện Hiện! Vì tất cả pháp đều chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng nên Chánh đẳng giác pháp, Như Lai pháp, Tự nhiên giác pháp, Nhất thiết trí pháp của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác cũng chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng.

Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có bao Chánh đẳng giác pháp, Như Lai pháp, Tự nhiên giác pháp, Nhất thiết trí pháp đều chẳng thể nghĩ bàn, vì dứt nghĩ bàn. Chẳng thể xưng lường, vì dứt xưng lường. Không hạn lượng, vì dứt so lường. Không gì sánh bằng, vì dứt so sánh hơn thua vậy. Do nhân duyên này nên nói tất cả pháp cũng chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng.

Chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng là chỉ có trên phương diện ngôn thuyết. Tất cả đều giống như hư không. Vì hư không chẳng thể so sánh, xưng tán được: Chẳng thể nghĩ bàn là chẳng thể nghĩ bàn như hư không; chẳng thể xưng lường là chẳng thể xưng lường như hư không; không hạn lượng là không có giới hạn như hư không; không gì sánh bằng là không có gì có thể so sánh với hư không. (Q.443, ĐBN)

Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có bao Chánh đẳng giác pháp, Như Lai pháp, Tự nhiên giác pháp, Nhất thiết trí pháp, Thanh văn, Độc giác, thế gian, trời, người, A tu la v.v… đều chẳng thể nghĩ bàn, xưng lường, hạn lượng, so sánh được. Do nhân duyên nầy nên nói tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có bao Chánh đẳng giác pháp, Như Lai pháp, Tự nhiên giác pháp, Nhất thiết trí pháp đều chẳng thể nghĩ bàn, chẳng khá xưng lường, không hạn lượng, không gì sánh bằng.

Khi Phật thuyết phẩm Bất Khả Tư Nghì, Bất Khả Xứng Lượng, Vô Số Lượng, Vô Đẳng Đẳng như thế, trong chúng có năm trăm Tỳ kheo, hai trăm Tỳ kheo ni chẳng còn các lậu hoặc, tâm được giải thoát. Lại có sáu trăm cư sĩ nam, ba trăm cư sĩ nữ đối với các pháp xa trần lìa cấu, sanh tịnh pháp nhãn. Lại có hai ngàn đại Bồ Tát được Vô sanh pháp nhẫn, ở trong Hiền kiếp sẽ được Phật thọ ký.

 

Thích nghĩa:

(1). Kinh nói “vì không bị tướng chuyển, nên có thể chuyển các tướng”.

(2). Năng chỉ thực tướng các pháp thế gian: năng thị thế gian chư pháp thật tướng. “Thực tướng các pháp” dịch từ chữ Hán “Chư pháp thực tướng”: (諸法實相) Chư pháp, hết thảy muôn pháp trong thế gian và xuất thế gian là các hiện tượng sai biệt, là các pháp tùy duyên - Thực tướng, thể tướng chân thực của các pháp là thực tại bình đẳng, là lý bất biến. Chư pháp thực tướng là một pháp ấn của Phật giáo Đại thừa, đối lại với ba pháp ấn của Tiểu thừa. Căn cứ theo Kinh Đại phẩm Bát Nhã quyển 17 phẩm Thâm áo và Kinh Pháp hoa quyển 1, phẩm Phương tiện nói, thì thực tướng của các pháp duy chỉ có Phật tự chứng biết chứ không thể diễn bày được bằng lời nói. Luận Đại trí độ quyển 18 bảo thực tướng của các pháp tức là Bát nhã Ba la mật. Nghĩa là thực tướng các pháp mà thế tục nói chỉ là yên nước giữ nhà, tuyệt chẳng phải chân thực - còn thực tướng của các pháp mà ngoại đạo nói đều rơi vào trong pháp tà kiến, tâm có đắm đuối, cho nên chẳng phải chân thực - trong pháp Thanh văn tuy lấy vô thường, khổ, không, vô ngã mà quán xét thực tướng của các pháp, nhưng họ chỉ tự cầu giải thoát khỏi những cái khổ già, bệnh, chết chứ chẳng vì hết thảy chúng sinh, không đầy đủ trí tuệ, cho nên chưa có thể cùng suốt thực tướng - duy chỉ có Bồ Tát vào lúc mới phát tâm đã phát thệ nguyện rộng lớn, khởi đại từ bi cúng dường hết thảy chư Phật, dùng trí đại lợi, bỏ hết các pháp quán vọng kiến, như quán sạch, quán chẳng sạch, quán vui, quán khổ v.v... mà quán các pháp chẳng phải sạch, chẳng phải chẳng sạch, cho đến chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã, rồi lại bỏ các pháp quán như trên, mà đạt đến mức dứt đường nói năng, diệt chỗ tâm hành, đó mới là cùng suốt thực tướng của các pháp. Trung luận quyển 3 phẩm Quán pháp, luận Đại trí độ quyển 15, Tư duy lược yếu pháp v.v... cũng cho tách lìa những hí luận, như chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng đoạn, chẳng thường, tâm hành xứ diệt, tức là thực tướng của các pháp. Đại sư Gia Tường thuộc tông Tam luận, trong Đại thừa huyền luận quyển 4, bảo thực tướng là cái mà thực trí Bát Nhã soi rọi. Ngài Trí Khải tông Thiên thai, trong Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên, bảo thực tướng là đối cảnh do Viên đốn chỉ quán quán xét. Trung luận và luận Đại trí độ đều nói Rốt ráo không là thực tướng các pháp, còn Ngài Trí Khải thì lại lấy Trung đạo làm thực tướng, đồng thời, trong Pháp hoa Kinh huyền nghĩa quyển 8 phần dưới, quyển 9 phần trên, có nêu lên mười hai tên gọi khác của thực tướng, như Diệu hữu, Như như, Hư không Phật tính, Phi hữu phi vô trung đạo v.v... Cho nên, sự giải thích của các tông về thực tướng của các pháp không nhất trí. Lại như tông Tịnh độ lấy danh hiệu của Phật A di đà làm thực tướng của các pháp, tông Chân ngôn thì lấy chữ A vốn chẳng sinh làm thực tướng các pháp, tông Hoa nghiêm lại lấy Nhất chân pháp giới làm thực tướng các pháp, tông Pháp tướng thì lấy tính viên thành thực làm thực tướng pháp giới, tông Thành thực lấy giai không làm thực tướng các pháp, còn Hữu bộ tông thì lấy khổ, không, vô thường, vô ngã làm thực tướng các pháp. Trong tư tưởng Đại thừa, thuyết có khả năng biểu hiện thực tướng các pháp một cách độc lập nhất, thì trước hết phải kể đến giáo nghĩa thuộc hệ thống Long Thụ, sau lại chia lập thành hai phái Trung luận và Đại trí độ luận. Nay lấy hai tông Tam luận và Thiên thai là các tông đã nối theo hai tư trào trên đây để thuyết minh: 1- Tông Tam luận, theo thuyết trong Kinh Bát Nhã, nhất là coi trọng văn tụng Bát bất trong Trung luận (Đại 30, 1 trung): Chẳng sinh cũng chẳng diệt, chẳng thường cũng chẳng đoạn, chẳng một cũng chẳng khác, chẳng đến cũng chẳng đi. Cho rằng cái không chẳng thể được là thực tướng của các pháp, đó là cái lý phủ định tuyệt đối bất khả tư nghị, siêu việt cả khẳng định và phủ định thông thường - cũng tức là cái chân lý chẳng thể được mà khi đã phá trừ hết tất cả mê vọng thì liền thấy. 2- Tông Thiên thai, về thực tướng các pháp, tông Thiên thai chia ra ba lớp để giải thích: 1/. Hết thảy hiện tượng (các pháp) nương vào nhân duyên mà sinh, chỉ là nhân duyên giả hiện chứ không có thực thể - vì bản chất của các pháp là lý không (thực tướng), cho nên gọi lý ấy là thực tướng của các pháp. 2/. Tất cả cái không và cái có gọi là các pháp, cái lý trung đạo (thực tướng) khẳng định tuyệt đối, siêu việt không và có, đó tức là thực tướng các pháp. 3/. Hết thảy sự sự vật trong thế giới hiện tượng khế hợp với lý thực tướng của ba đế Tức không, Tức giả, Tức trung, như vậy các pháp tức là thực tướng và đó chính là thực tướng của các pháp. Trên đây, hai lớp trước là thuộc Đại thừa thiên giáo (giáo chỉ thiên về một bên, chỉ cho Tiểu thừa và Quyền giáo trong Đại thừa) - lớp thứ ba thuộc Đại thừa viên giáo. Ngoài ra Thiền tông thì cho thực tướng của các pháp là cái Bản lai diện mục. (cái mặt mày thật) do chư Phật hoặc lịch đại Tổ sư đã ngộ đạo biểu hiện. [X. Kinh Đại bảo tích Q.78 phẩm Cụ thiện căn - Kinh Chư pháp vô hành - Kinh Phật tạng Q.thượng phẩm Chư pháp thực tướng - Kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ - Đại nhật Kinh sớ Q.1 - Đại thừa nghĩa chương Q.trung - Chú Duy ma Kinh Q.2 - Pháp hoa nghĩa ký Q.2 - Tứ niệm xứ Q.3 - Tam luận huyền nghĩa - Tông kính lục Q.40].- Tự điển Phật Quang.

Thật quá nhiều lý lẻ, chẳng khác nào người mù sờ voi. Nên nói chỉ có Phật mới biết thật tướng các pháp. Học Bát nhã Ba la mật chúng ta biết thật tướng của tất cả pháp là không, là vô tướng mà vô tướng là không có định tướng, nên cũng nói là không. Bát nhã Ba la mật cũng không, nên nói Bát nhã Ba la mật là thật tướng. T.B.

(3). Như Lai thế gian thực tướng dịch từ Hán ngữ Như Lai thế gian thật tướng”.

1- Thực tướng hay thật tướng (實相): Nói gọn là bản thể, thực thể, chân tướng, bản tính...; từ đó được khai triển để chỉ cho thể tướng chân thực bất hư của tất cả muôn pháp, hoặc lý pháp chân thực, lý bất biến, chân như, pháp tính.

2- Chư pháp thực tướng nói nôm na là thể tướng chân thực, bình đẳng, bất biến của tất cả pháp.

3- Như Lai thực tướng: Như Lai là thường trụ, chẳng biến đổi. Như vậy, Như lai tức là Thật tánh, là Chơn như.

Phải giải thích sự khác biệt giữa “chư pháp thực tướng” và “Như lai thực tướng” như thế nào? Các pháp là như như tướng, người thấy như như tướng thì gọi là Như Lai. Vậy, đứng về hình thức (tức ngoại biểu) mà nói sự khác biệt chỉ có trên ngôn từ. Các pháp không ngoài tâm và vật dù là chư pháp hay Như Lai pháp. Vì các pháp cùng đồng một tướng, chỗ gọi là vô tướng, nên không hai không khác. Cách chuyển ngữ ở đây hết sức tế nhị, vì Kinh đôi khi nói về chư pháp thực tướng thế gian, đôi khi lại nói Như Lai thực tướng thế gian. Xem lại phẩm “Phật Mẫu”.

(4). Tất cả pháp tướng thế gian thuần không. Nguyên văn câu chữ Hán là:

Thế Tôn vân như thị thậm thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa năng thị Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thế gian thuần không tương/tướng” Dịch:

“Lại nữa, Thiện Hiện! Bát nhã Ba la mật thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian thuần không”.

Từ có nghĩa là thuần, không lẫn lộn, nguyên chất.

Từ “có nghĩa là rỗng không, hư không.

Cách dịch như vậy là quá đúng. “Tướng thế gian thuần không” có nghĩa tướng năm uẩn, 12 xứ, 18 giới thế gian thuần không; tất cả pháp đều không, tự tướng không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không… cho đến tướng Nhất thiết chủng trí hay nói chung là tất cả pháp mầu Phật đạo thuần không. Thấy như vậy là “tận không”. Đây chỉ dựa vào kinh mà giải thích cụm từ này.

(5). Chánh đẳng giác tánh: Tánh giác biết các pháp không sai biệt.

(6). Như Lai tánh: Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian, bất khứ bất lai, đúng như bổn lai nên gọi là Như lai.

(7). Tự nhiên giác tánh: Tánh tự nhiên giác ngộ bằng cách giữ lấy chân lý ngay nơi tâm mình.

Chánh đẳng giác tánh(5), Như Lai tánh(6), Tự nhiên giác tánh(7), Nhất thiết trí tánh như nhau, không hai không khác.

 

Sơ giải:

 

1. Bát Nhã Ba la mật lấy gì làm tướng?

 

1-      Thật tướng Bát Nhã:

(Trong phần chánh văn tóm lược trên chúng tôi có dẫn chứng lời bình giải của Đại Trí Độ Luận rồi. Nên ở đây chỉ nói ý chánh về “thật tướng” của Bát nhã Ba la mật mà thôi. Biết được thật tướng Bát Nhã và tu theo thì sẽ không bị lầm lỗi, mau viên mãn đạo Bồ đề).

Kinh nói: Bát nhã Ba la mật thậm thâm lấy không làm tướng; Bát Nhã lấy vô tướng, vô nguyện làm tướng; Bát Nhã lấy vô tác, vô sanh vô diệt, vô nhiễm vô tịnh, vô tánh làm tướng; Bát Nhã lấy vô tự tánh, vô sở y, phi đoạn phi thường, phi nhất phi dị, vô lai vô khứ làm tướng; Bát Nhã lấy hư không làm tướng; Bát nhã Ba la mật có vô lượng tướng như thế.

Các tướng như thế, tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nương vào thế tục mà nói, chứ không nương vào thắng nghĩa. Các tướng như thế trời, người, A tu la v.v... trong thế gian đều chẳng thể phá hoại. Vì sao? Vì trời, người, A tu la v.v... trong thế gian cũng là tướng.

Các tướng chẳng thể phá hoại các tướng, các tướng chẳng thể biết rõ các tướng, các tướng chẳng thể phá hoại vô tướng, các tướng chẳng thể biết rõ vô tướng; vô tướng chẳng thể phá hoại các tướng, vô tướng chẳng thể biết rõ các tướng, vô tướng chẳng thể phá hoại vô tướng, vô tướng chẳng thể biết rõ vô tướng. Vì sao? Vì hoặc tướng, hoặc vô tướng, hoặc tướng vô tướng đều vô sở hữu, năng phá, năng tri, sở phá, sở tri, sự phá, sự biết đều chẳng thể nắm bắt được.

Đây không phải là xáo ngữ, có tánh cách áp đặt mà đây là sở tri của Phật. Khi nói là không, rỗng không có nghĩa là không có tánh tướng gì cả. Đó là pháp không, vô tướng. Nếu không có gì cả thì không phải là thật vật thì có gì để lấy để bỏ. Nên nói là vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được là vậy.

Vì vậy, nên nói các tướng như thế chẳng do sắc tạo ra, chẳng do thọ, tưởng, hành, thức tạo ra; chẳng do 12 xứ, 18 giới tạo ra, chẳng do tất cả pháp Phật tạo ra. Các tướng như thế chẳng phải do thiên tạo ra, chẳng phải do phi thiên tạo ra, chẳng phải do nhơn tạo ra, chẳng phải do phi nhơn tạo ra, chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu, chẳng phải thế gian, chẳng phải xuất thế gian, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, không hệ thuộc vào đâu. Vì chẳng phải là thật vật, nên chẳng thể tuyên thuyết. Bát Nhã xa lìa tất cả tướng.

Vì pháp không thấy pháp, pháp không biết pháp. Không thấy cái gì, không biết cái gì? Không thấy, không biết tướng của các pháp, chỗ không thấy không biết tướng của các pháp đó nên gọi là vô tướng. Chỉ có con người nhìn thấy pháp, cho đó là đẹp xấu, vuông tròn, lớn nhỏ… Đẹp xấu, vuông tròn v.v… là tướng, thấy biết tướng nên chấp tướng, rồi sanh thức tức cảm thọ, mà khởi tạo tác. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều nương Bát Nhã thậm thâm, đối với các pháp (dù hữu tướng hay vô tướng) đều biểu hiện sự giác ngộ bình đẳng, nên không tạo tác. Nếu không thấy tướng, chỗ gọi là vô tướng thì tâm sẽ được như như, tâm như như là tâm giác ngộ bình đẳng. Vì giác ngộ bình đẳng nên mới được thanh tịnh. Đó có thể nói là hệ quả của cái thấy biết không phân biệt, không chấp để thực hiện một sự chuyển y, tức biến thức thành trí. Trí này soi thấy thật tướng các pháp thế gian.

Phật bảo cụ thọ Thiện Hiện: “Thiện Hiện nên biết! Bát Nhã thậm thâm là mẹ của chư Phật, Bát Nhã có công năng chỉ rõ thật tướng của các pháp thế gian. Cho nên, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nương pháp ấy mà an trụ, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen, nhiếp thọ hộ trì. Pháp ấy tức là Bát Nhã thậm thâm. Vì sao? Này Thiện Hiện! Vì Bát Nhã có khả năng xuất sanh chư Phật, có khả năng làm nơi nương tựa cho chư Phật, có khả năng chỉ rõ thật tướng các pháp thế gian”.

Cho nên, tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là bậc biết ơn, đền ơn Bát Nhã như các con phải biết ơn, đền ơn mẹ hiền!

 

2- Bát Nhã Ba La Mật hay sanh chư Phật, hay khai thị thế gian pháp tướng. Luận Đại Trí Độ nói:

“Ngài Tu Bồ Đề nêu lên câu hỏi: Nếu hết thảy pháp đều là độn tướng, đều chẳng thể biết, chẳng thể thấy, thì làm sao Bát nhã Ba la mật xuất sanh chư Phật, khai thị thế gian pháp tướng?

Phật dạy: Hết thảy pháp chẳng thể biết, chẳng thể thấy được. Vì sao? Vì hết thảy pháp đều là tự tánh không, đều là hư vọng, đều chẳng kiên cố. Lại nữa, vì hết thảy pháp đều chẳng có chỗ y chỉ, đều chẳng có gì trói buộc. Bởi nhân duyên vậy, nên Bát nhã Ba la mật hay sanh chư Phật, hay khai thị thế gian pháp tướng.

 

--o0o--

 

Hành giả phải phá hết thảy các pháp tướng, mới nhập vào được pháp “không”. Ví như:

- Nếu chấp “có” thì khi phá pháp tướng sẽ thấy “không”, nhập vào pháp “không”.

- Nếu chấp “thường” thì khi phá pháp tướng sẽ thấy “vô thường”, nhập vào pháp “không”.

- Nếu chấp “thật” thì khi phá pháp tướng sẽ thấy “rốt ráo tận”, nhập vào pháp “không”.

- Nếu chấp “ngã” thì khi phá pháp tướng sẽ thấy “vô ngã”, nhập vào pháp “không”.

- Nếu chấp “Nhất thiết chủng trí” thì khi phá pháp tướng sẽ thấy “rốt ráo ly Nhất thiết chủng trí”, nhập vào pháp “không” v.v…

Như vậy là hết thảy các pháp tướng đều nhập vào “không tướng”. Bởi vậy nên nói hết thảy các pháp đều chẳng có chỗ trú, chẳng có chỗ y chỉ, chẳng có bị ràng buộc, chẳng có bị lệ thuộc, nên là bất sanh bất diệt.

Cũng do vậy, mà nói “thật tướng pháp” chẳng bị trói buộc trong ba cõi. Vì sao? Vì ba cõi là hư vọng, là chẳng thật có. Do ba cõi đều là hư vọng, nên nói hết thảy pháp đều là vô tri giả, vô kiến giả, tức là chẳng có người biết, chẳng có người thấy vậy.

Bởi nhân duyên vậy, nên nói Bát nhã Ba la mật hay sanh chư Phật, hay khai thị thế gian pháp tướng.

Ở nơi đây, Phật muốn nêu lên các nhân duyên cho thấy rằng, ở nơi thể tánh, các pháp chẳng có duyên thức… dẫn đến chẳng có duyên Nhất thiết chủng trí.

Như vậy gọi là chẳng biết, chẳng thấy hết thảy các pháp vậy”.

 Mỗi khi duyên thức tức có phân biệt chấp đắm nên sanh tạo tác thi vi thì tâm không còn như như bất động. Như như bất động là chẳng thủ giữ vậy.

Vã lại, luận nói: “... khi vào trong Bát nhã Ba la mật rồi, thì sẽ biết rõ các pháp do nhân duyên hòa hợp sanh. Vì do nhân duyên hòa hợp sanh, nên hết thảy các pháp, từ sắc… dẫn đến Nhất thiết chủng trí, đều là tự tánh không, đều là vô sở hữu. Như vậy là Bát nhã Ba la mật khai thị thế gian pháp tướng không.

Bồ Tát hành Bát nhã Ba la mật, khi quán các pháp, dù lớn, dù nhỏ, dù ở trong, dù ở ngoài … đều biết là rốt ráo không. Như vậy gọi là Bát nhã Ba la mật khai thị thế gian pháp tướng không.

 

--o0o--

 

Khi Phật khai thị thế gian không, có người nghi rằng Phật còn chấp trước pháp. Họ nghĩ rằng: Phật thuyết Bát nhã Ba la mật, khai thị thế gian không mà chẳng phải thật tướng pháp là thường không như vậy.

Phật biết rõ tâm niệm của họ, nên dạy rằng: Ta chẳng ái pháp, nên ta biết rõ hết thảy các pháp tướng, trước sau, chỉ do tư duy trù lượng mà có; thật chẳng có pháp nào xuất sanh từ không cả.

Phật lại dạy: Chẳng phải do đọc tụng, chẳng phải do nghe người khác nói, mà ta thuyết như vậy. Ta dùng trí tuệ Bát nhã Ba la mật, tư duy, phân biệt, mới khai thị thế gian pháp tướng không.

Lại nữa, trong chúng hội có người nghĩ rằng: Chỉ có Bát nhã Ba la mật là rốt ráo không.

Phật biết rõ tâm niệm của họ, nên dạy rằng: Bất khả tư nghì cũng là rốt ráo không, cũng là bất khả đắc. Rốt ráo không còn được gọi là ly, là tịch diệt v.v…

Ly, nói ở đây, có nghĩa là phân tán cho đến chỗ rốt ráo không, chẳng còn gì để phân tán nữa. Khi đã vào được nơi rốt ráo không, là ly được các tâm và tâm sở pháp, ly được ngôn ngữ, văn tự… Như vậy gọi là tịch diệt”.

Đây là lời bình giải trí tuệ của bậc thật tu thật chứng: Thật chẳng có pháp nào xuất sanh từ không cả, không là rỗng không làm gì có đến có đi, có xuất có nhập. Không ở đây không phải là tương đãi của Có và Không. Khi đã vào được nơi rốt ráo không, là ly được tâm và tâm sở, ly được ngôn ngữ, văn tự… Như vậy gọi là tịch diệt.

Tịch diệt tức Niết bàn. Khi xa lìa được các hệ lụy thế gian, đạt chỗ tâm và tâm sở đều không, không còn gì hết, thì gọi là tịch diệt hay giải thoát. Tịch diệt hay giải thoát là tên khác của Niết bàn!

 

Đại Trí Độ Luận thuyết tiếp:

Hỏi: Vì sao nói hết thảy pháp đều là tự tánh không?

Đáp: Vì nếu còn phân biệt nói có “mười tám không” là còn có sự đối đãi giữa các pháp.

Ví như nói “nội không” là do y vào nội pháp mà nói. Nếu chẳng có sự phân biệt giữa nội pháp và ngoại pháp, thì chẳng nói đến “nội không”. Dẫn đến “vô pháp hữu pháp không” cũng là như vậy.

 

---o0o---

 

“Ở đoạn kinh trên đây có nói đến “độc không”(1).

Nói “độc không” là chẳng phải do nhân duyên đối đãi mà nói.

“Độc không” là như hư không, là như pháp tánh thật tế vậy.

 

---o0o---

 

Có người chấp có đời này, mà chẳng có đời sau. Như vậy là tà kiến, đọa vào đoạn diệt.

Có người chấp có đời này, và chấp có thần thường trú sẽ nhập vào thân ở đời sau. Như vậy cũng là tà kiến, đọa vào thường kiến.

Bát Nhã Ba La Mật ly chấp cả hai bên. Bởi vậy nên nói Bát Nhã Ba La Mật là “trung đạo đế”.

Tuy nói “không” mà chẳng chấp “không”, nên Bồ Tát mới có thể vì chúng sanh thuyết về tội phước. Tuy nói tội phước mà chẳng đọa vào thường kiến, nên Bồ Tát ở nơi không mà vẫn vô ngại.

Nơi đây, Phật thuyết hết thảy pháp rốt ráo không, mà chẳng chấp đời này, đời sau, chẳng chấp thường, chấp đoạn vậy”.

Lại là lời bình luận trí tuệ nữa. Cuối cùng Luận phá luôn “18 pháp không” khi kinh nói đến “độc không”. Rốt ráo 18 pháp không cũng không nốt. Còn nói đến 18 pháp không thì chưa đạt được cái “bất khả đắc không”, chưa được gọi là đệ nhất nghĩa không, nghĩa là vẫn còn nằm trong vòng phân biệt đối đãi. Điều đó có nghĩa khi nói đến độc không, phải nghĩ đến hư không. Hư không không có bất cứ biên giới nào trong cái vô biên vô tận đó. Nên độc không cũng chính là chơn như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh, thật tế v.v… Để tránh cái chấp lưỡng nguyên đó cuối cùng tác giả của Đại Trí Độ Luận nói “Bát nhã Ba la mật là “trung đạo đế”.

Ở đây chúng tôi không luận về cái tương đãi của không, chúng tôi cũng không nói đến độc không, thiên không, vạn không cho đến “tận không” mà chúng tôi muốn nói đến vô thức, vô niệm, vô tâm của Tánh không Bát Nhã. Tu Bát nhã Ba la mật hay tu pháp không, rốt ráo là đi đến chỗ rỗng không này! Khi đạt đến chỗ này thì được vô thức vô niệm vô tâm. Tới đó thì cái tận không cũng không thấy nói chi đến độc không, thiên không vạn không.

 

2. Thế nào Bát Nhã là đại pháp sự, là bất khả tư nghì sự,

là bất khả xứng tự, bất khả lượng sự và là vô đẳng đẳng sự?

 

“Bát nhã Ba la mật thậm thậm vì đại sự nhân duyên (đại pháp sự) nên xuất hiện thế gian; Bát Nhã vì việc chẳng thể nghĩ bàn (bất khả tư nghì) mà xuất hiện thế gian; Bát Nhã vì việc chẳng thể xưng lường (bất khả xứng sự) mà xuất hiện thế gian; Bát Nhã vì việc không có hạn lượng (bất khả lượng sự) mà xuất hiện thế gian, Bát Nhã vì việc không gì sánh bằng (vô đẳng đẳng) mà xuất hiện thế gian”.

 

Đại Trí Luận giải thích các thắng sự trên như sau:

 

1- Đại pháp sự:

Đại pháp sự của chư Phật là cứu độ hết thảy chúng sanh khỏi các khổ đau, ách nạn, thường ban phát cho chúng sanh vô lượng Phật pháp, chẳng xả bỏ hết thảy chúng sanh.

 

2- Bất khả tư nghì sự:

Đại pháp sự của chư Phật là bất khả tư nghì. Chẳng có chúng sanh nào có thể nghĩ bàn được.

Phật dạy rằng: Vì thương xót chúng sanh, vì muốn cứu độ chúng sanh mà chư Phật ở khắp mười phương thường dùng bình đẳng pháp để dìu dắt chúng sanh đến Niết Bàn. Như vậy gọi là bất khả tư nghì sự.

Lại nữa, có nhiều vị Bồ Tát đã được vô sanh pháp nhẫn rồi, mà vẫn chẳng ly chúng sanh, chưa vội nhập Niết Bàn. Chư vị đại Bồ Tát ấy, dù đã vĩnh viễn ly dục, mà vẫn thị hiện thọ ngũ dục, để phương tiện hóa độ chúng sanh. Các ngài phát đại thệ nguyện thọ sanh thân, làm những việc rất khó làm, như:

- Chịu khổ thay cho chúng sanh.

- Xả thiền định lạc để cùng sống chung với chúng sanh.

- Đồng sự với kẻ ác để phương tiện giáo hóa họ.

- Vào trong Pháp hội để hướng dẫn chúng hội v.v…

Như vậy gọi là bất khả tư nghì sự.

Hết thảy chúng sanh, chẳng có ai có thể nghĩ bàn được về các đại pháp sự, bất khả tư nghì của chư Phật và chư đại Bồ Tát.

 

3- Bất khả xứng sự:

Đại pháp sự của chư Phật là bất khả xứng(xưng). Chẳng có chúng sanh nào có thể tư duy, xứng lượng được.

- Bát nhã Ba la mật khai thị thật tướng pháp, là trí huệ thâm diệu, chẳng phải như trí huệ thế gian cạn cợt, thô thiển.

- Bát nhã Ba la mật quảng đại, rộng mênh mông, chẳng phải như trí huệ thế gian thiển cận, hẹp hòi.

- Bát nhã Ba la mật đem lại đại lợi ích cho chúng sanh. Khi tu chưa thành, thì cũng được vô lượng phước báo ở cõi Trời, cõi Người.

Khi tu viên mãn rồi, thì được Nhất thiết chủng trí, được quả vị Phật. Chư Phật và chư đại Bồ Tát dùng trí huệ Bát nhã Ba la mật hành các pháp sự.

Hết thảy chúng sanh, chẳng có ai có thể tư duy, xứng lượng về các pháp sự bất khả xứng của chư Phật và của chư đại Bồ Tát.

 

4- Bất khả lượng:

Đại pháp sự của chư Phật là bất khả lượng. Chẳng có chúng sanh nào có thể suy lường được.

Vì sao? Vì dù là thường, là vô thường, là thật, là hư, là hữu, là vô v.v… thì các pháp bản lai cũng vốn là vô tướng, nên là bất khả lượng (chẳng thể cân so được) vậy.

Lại có thuyết nói rằng chấp tướng là có hạn lượng, chẳng có chấp tướng là chẳng có hạn lượng, là vô lượng vậy. Bát nhã Ba la mật chẳng có chấp tướng, nên nói Bát nhã Ba la mật là bất khả lượng.

Lại nữa, ngài Tu Bồ Đề thường hành tứ vô lượng tâm, nên nói Bát nhã Ba la mật là bất khả lượng.

Lại nữa, trí huệ thế gian của phàm phu, trí huệ của hàng Nhị Thừa là có hạn lượng, còn trí huệ của Phật và của chư đại Bồ Tát là vô hạn lượng, nên nói Bát nhã Ba la mật là bất khả lượng.

Hết thảy chúng sanh, chẳng có ai có thể suy lường về các pháp sự bất khả lượng của chư Phật và chư đại Bồ Tát.

 

5- Vô đẳng đẳng sự:

Đại pháp sự của chư Phật là vô đẳng đẳng. Chẳng có chúng sanh nào có thể sánh kịp, chẳng có thể ngang bằng được.

Pháp sự vô đẳng đẳng, nói ở đây, cũng có nghĩa là pháp Niết Bàn, là Bát nhã Ba la mật.

- Pháp Niết Bàn là vô đẳng đẳng. Chẳng có pháp hữu vi nào có thể sánh kịp.

Thế nhưng, nên biết ở cả ba thừa đều có Niết Bàn. Đó là: Niết Bàn Thanh Văn, Niết Bàn Bích Chi Phật và Niết Bàn Phật thừa cũng còn gọi là Niết Bàn Đại Thừa.

Niết Bàn Đại Thừa là trên hết, chẳng có Niết Bàn nào sánh kịp.

Bởi vậy nên nói Niết Bàn Đại Thừa là vô đẳng đẳng.

- Bát Nhã Ba La Mật đem lại đại lợi cho chúng sanh, chẳng có pháp nào có thể sánh kịp. Bởi vậy nên nói Bát nhã Ba la mật là vô đẳng đẳng.

- Bát nhã Ba la mật là Phật pháp vi diệu đệ nhất, chẳng có pháp nào có thể sánh kịp. Bởi vậy nên nói Bát nhã Ba la mật là vô đẳng đẳng.

Với phương tiện lực Bát nhã Ba la mật, hành giả thể nhập được vào nơi “thật tướng pháp”. Trong tất cả các pháp quán, thì pháp quán về “thật tướng pháp” và “tánh không” tối diệu, phá được lưới tà kiến chấp. Bởi vậy nên nói Bát nhã Ba la mật là vô đẳng đẳng.

Bồ Tát được pháp quán bình đẳng này, nên thường khởi đại bi tâm, cứu độ hết thảy chúng sanh.

Như vậy gọi là vô đẳng đẳng sự”.

 

--o0o--

 

Phật dạy: Bát nhã Ba la mật vì các đại pháp sự bất khả tư nghì, bất khả xứng, bất khả lượng, vô đẳng đẳng mà khởi. Các đại pháp sự đó là Phật pháp, Như Lai pháp, Tự nhiên trí pháp, Nhất thiết trí pháp.

Tất cả bốn pháp, nêu ở đoạn kinh trên đây, đều là Phật pháp cả. Sở dĩ có bốn tên gọi như vậy, vì Phật cũng được gọi là đấng Như Lai, là đấng Tự Nhiên Trí, là đấng Nhất Thiết Trí.

Vì Phật có vô lượng công đức, nên ngoài bốn danh hiệu này, Phật còn có vô lượng danh hiệu khác nữa”.

 

Để chấm dứt phẩm này, chúng tôi ghi lại câu Phật bảo:

“Thiện Hiện! Bát Nhã thẳm sâu thường chỉ Như Lai tướng thế gian ấy, nghĩa là chẳng cho khởi tưởng thế gian này, cũng chẳng cho khởi tưởng thế gian nọ. Sở dĩ như vậy là vì sao? Vì tất cả pháp đều vô sở hữu, thật bất khả đắc, không thể vin vào đó mà khởi tưởng thế gian này thế gian nọ”.

Rốt ráo, Bát nhã Ba la mật thường chỉ cho Như Lai hết thảy tướng tất cả pháp thế gian là không, vô tướng, vô nguyện, vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô khởi, vô tận, vô vi, vô tác, vô tánh, thật tế. Vì sao? Vì tất cả pháp đều vô sở hữu, thật bất khả đắc, không thể vin vào đó mà khởi tưởng thế gian như thế này hay thế gian như thế nọ.

Khi nói thắng sự của Bát nhã Ba la mật là bất khả tư nghì tức là đặt thắng sự Bát Nhã (tức Phật pháp, Như Lai pháp, Tự nhiên trí pháp, Nhất thiết trí pháp) ngang hàng với thập nhị chơn như mà 12 chơn như gồm: 1. Chơn Như, 2. Pháp giới, 3. Pháp Tánh, 4. Bất Hư Vọng Tánh, 5. Bất biến dị tánh, 6. Bình Đẳng Tánh, 7. Ly Sanh Tánh, 8. Pháp Định, 9. Pháp Trụ , 10. Thật Tế, 11. Hư Không Giới và 12. Bất Tư Nghì Giới.

Vậy, phạm trù của Bát nhã Ba la mật là vô hạng lượng như pháp giới, không có gì sánh bằng ngang đồng hư không, chẳng có gì làm lạ! Đó là lý do tại sao nói Bát nhã Ba la mật được gọi là mẹ của chư Phật chư Bồ Tát mà tất cả thế gian trời, người, A tu la... thường kính lễ và chư Phật chư Bồ Tát phải chăm lo Bát nhã Ba la mật như con chăm lo mẹ hiền mà phẩm trước có tên là “Phật Mẫu” và phẩm này có tên là “Chỉ Tướng”, chỉ vì nhân duyên đại sự mà xuất hiên thế gian. Vai trò đó xứng đáng được tâng bốc hơn bao giờ hết!

Thích nghĩa cho phần lược giải:

(1).“Độc không”: Dịch giả dịch đoạn kinh này trong phẩm “Vấn Tướng”, Kinh MHBNBLMĐ:Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Bát Nhã Ba La Mật hay khai thị Phật thế gian độc không.

Thế nào gọi là hay khai thị Phật thế gian hữu pháp không?

Này Tu Bồ Đề! Đó là khai thị ngũ ấm thế gian độc không… dẫn đến khai thị Nhất thiết chủng trí thế gian độc không”.

Cụm từ “độc không”, không có giải thích ở đây. Các dịch giả thường dùng từ “thuần không” hay “độc không”. Chúng tôi nghĩ dịch giả của Đại Trí Độ Luận dịch từ “độc không” giống như nghĩa của “thuần không” trong Kinh ĐBN. Nhưng chúng tôi không có bản chữ Hán để so chiếu. TB./.

 

Một phút tư duy:

 

Không những trong phẩm này mà hầu như trong toàn thiên Đại Bát Nhã Ba La Mật thường nói cả đến các bậc Tổ trong Thiền tôn hay các bậc cao Tăng có công phu sâu dày cũng thường đề cập đến là Vô thức, Vô niệm, Vô tâm. Ba cụm từ này nằm ở tầng cao trong sự thâm hiểu Bát Nhã Tánh Không là một thật chứng.

Tuy còn quá sớm khi nói đến vấn đề này, nhưng để chứng minh lời chiết giải của phẩm này tôi dẫn chứng bài pháp do Tổ thứ 28 Thiền Tây Thiên, truyền thừa từ đức Phật là Bồ đề Đạt Ma, trao cho đệ tử “thế nào là VÔ TÂM trong cái thấy nghe nghĩ biết” của con người đạt đạo như sau:

“Đ (Đệ tử hỏi): (Lý rốt ráo) là hữu tâm hay vô tâm?

T (Thầy đáp): Vô tâm.

Đ: Nếu là Vô tâm, ai đang thấy, nghe, nghĩ biết? Cái người nhận biết rằng vô tâm ấy là ai?

T: Chính do Vô tâm mà có thấy, nghe, nghĩ, biết; chính do Vô tâm mà biết là Vô tâm.

Đ: Làm sao Vô tâm lại có thể thấy, nghe, nghĩ, biết? Lẽ ra Vô tâm không thể làm được hết thảy việc này.

T: Dù rằng thuộc Vô tâm nhưng vẫn có thể thấy, nghe, nghĩ, biết. 

Đ: Nếu có thể thấy, nghe, nghĩ, biết thì không thể thuộc Vô tâm, mà phải là một loại hữu tâm.

T: Thấy, nghe, nghĩ, biết, hết thảy chính là những hoạt dụng của Vô tâm. Ngoài thấy, nghe, nghĩ, biết, không có Vô tâm. Ta e rằng con không lĩnh hội điều đó, nên ta sẽ tìm cách giảng giải vấn đề từng bước một để dẫn con hội diện với chân lý. Thí dụ, khi đang thấy, tất nhiên có cái đang thấy, như thế là vì có cái không thấy; cái đang thấy như thế chính là Vô tâm. Khi đang nghe, tất nhiên có cái đang nghe, như thế là vì có cái không nghe; nghe chính là của Vô tâm. Khi đang nhớ nghĩ, tất nhiên có cái đang nghĩ, như thế là vì có cái không nhớ nghĩ; nhớ nghĩ chính là của Vô tâm. Khi đang biết, tất nhiên có cái đang biết, như thế là vì có cái không biết; đang biết chính là của Vô tâm. Khi đang làm, tất nhiên có cái đang làm, như thế là vì có cái không làm; đang làm chính là của Vô tâm. Vì vậy, ta nói rằng thấy, nghe, nghĩ, biết, hết thảy đều là Vô tâm.

Đ: Làm sao biết rằng của ấy là của Vô tâm?

T: Con cứ xét kỹ vấn đề thêm, rồi nói cho ta rõ Tâm có hình tướng khả nghi nào không. Nếu có, như thế sẽ không phải là Tâm chân thật. Phải nhìn nó có ở trong, ở ngoài hay ở giữa. Tâm không ở đâu trong ba chỗ ấy. Cũng không phải được trực nhận như là có ở những nơi khác nào đó. Vì vậy, gọi là Vô tâm.

Đ: Bạch Thầy, nếu chính Vô tâm ở khắp mọi nơi, vậy lẽ ra không có thiện ác. Tại sao mọi loài trôi lăn trong sáu nẻo và mãi mãi trong vòng sống chết?

T: Đây là do chúng sinh điên đảo trong tâm ôm ấp ý tưởng huyền hoặc về một thực tại(cá biệt)nơi Vô tâm, và, khi tạo tác mọi hành vi, chấp trước mê lầm quan niệm cho rằng quả thực có một cái tâm hữu tâm. Vì lý do đó, chúng trôi lăn trong sáu nẻo và mãi mãi trong vòng sống chết.

Như một người khi thấy một cái bàn tay hay một đoạn dây trong bóng tối mà tưởng là hồn ma hay con rắn, rồi sợ hãi. Cũng vậy, chúng sinh chấp trước mê hoặc những tạo tác của chúng. Ở chỗ Vô tâm, lầm tưởng là thực tại của một tâm hữu tâm. Có bấy nhiêu hành vi tạo tác như thế, quả thật có trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Vậy nên phải khuyên dạy những chúng sinh như thế hãy đến kiếm một người bạn tốt, (có đạo nhãn) rộng lớn và hãy tu tập Thiền định, nhờ đó sẽ chứng ngộ được Vô tâm. Khi tu tập như vầy, hết thảy nghiệp chướng của chúng tiêu trừ và chuỗi dây sinh tử bị triệt đoạn. Như ánh mặt trời một khi soi thấu vào chỗ tối tăm xua đuổi tất cả những gì tối tăm, hết thảy tội lỗi của chúng đều bị diệt trừ khi chúng chứng được Vô tâm.

Đ: Vì là ngu muội, tâm con chưa hoàn toàn tỏ rõ đối với công năng của Lục tình đáp ứng (sự kích thích) ở mọi nơi ra sao.

T: Lắm nhiều mưu chước được tiếp diễn bằng lời.

Đ: Tham dục và Giác ngộ, Sinh tử và Niết bàn, phải chăng chúng cũng là của Vô tâm?

T: Quả vậy, chúng thuộc Vô tâm. Chính vì chúng sinh chấp trước sai lầm ý tưởng về một tâm hữu tâm nên có đủ tất cả những Tham dục và Sinh tử, Giác ngộ và Niết bàn. Nếu tỏ ngộ Vô tâm, không có Tham dục, không có Sinh tử, không có Niết bàn. Bởi vậy, vì những người ôm giữ ý tưởng về một cái tâm hữu tâm, nên Như lai nói về Sinh tử; Giác ngộ đối với Tham dục, và Niết bàn đối đãi với Sinh tử. Tất cả những danh tự đó đều là pháp nhân duyên. Khi chứng đạt Vô tâm, không còn có Tham dục hay Giác ngộ, Sinh tử hay Niết bàn.

Đ: Nếu không có Giác ngộ, không có Niết bàn, vậy nói sao về sự giác ngộ mà chư Phật trong quá khứ đã chứng đắc?

T: Cái đó chỉ nói theo văn cú ước lệ (thế tục). Đối với chân lý tuyệt đối (Thánh đế), chẳng có cái gì như vậy. Do đó, Kinh Duy ma cật (Vimalakìrti) nói rằng trong thân không có giác ngộ để mà chứng, trong tâm không có giác ngộ để mà chứng. Lại nữa Kinh Kim cương nói rằng không có pháp cần phải chứng đắc, sự chứng đắc của hết thảy chư Phật là không chứng đắc. Do đó, nên biết rằng tất cả các pháp khởi lên khi thấy có hữu tâm, các pháp diệt mất khi chứng được Vô tâm.

Đ: Bạch Thầy, thầy nói rằng Vô tâm biến hành mọi nơi. Vậy ra, gỗ đá đều thuộc Vô tâm, phải chăng (hết thảy chúng sinh) đều như gỗ đá? 

T: Nhưng Vô tâm được chứng ngộ trong tâm thức ta không phải là của gỗ đá. Tại sao? Nó như cỗ trống trời, đang im lìm bỗng chốc tự nhiên trỗi lên nhiều thứ âm thanh vi diệu để giáo huấn hết thảy các loài. Lại cũng như hạt như ý bảo châu (mai), tự nhiên đột khởi vô số hình sắc. Cũng vậy, Vô tâm tạo tác ngang qua tâm thức của ta, khiến cho nó thấu hiểu chân tính của thực tại; nó có cả trí tuệ siêu việt chân thật, nó là chủ của Ba Thân, nó có công năng tự tại. Như Kinh Bảo Tích (Ratnakùta) có nói rằng tâm tạo tác do Vô tâm mà không hay biết. Vậy sao lại có thể như gỗ đá? Vô tâm là Chân tâm, Chân tâm là Vô tâm.

Đ: Vậy phải tự tu tập như thế nào với tâm (tương đối) của chúng ta đây?

T: Chỉ cần tỏ ngộ Vô tâm trong tất cả các pháp, trong tất cả các hành vi. Đây là con đường tu tập, không có con đường nào khác, như thế biết rằng khi ngộ Vô tâm thì các pháp không còn nhiễu loạn chúng ta nữa.

Khi nghe điều này, đồ đệ tức thì chứng ngộ và nhận ra rằng không có vật ở ngoài tâm, không có tâm ở ngoài vật, đạt được tự do viên mãn trong tất cả cử chỉ và hành vi của mình; hết thảy màng lưới nghi ngờ bị xé tan thành mảnh vụn và không thấy còn có chướng ngại nào nữa”.

Đó là con đường tắt trong việc tu học Bát Nhã. Hiểu liền hiểu, không thể chần chừ! Có thức mà không thấy thức, có niệm mà không thấy niệm, có tâm mà không thấy tâm. Đó là vô thức vô niệm vô tâm nhưng ngang qua đó chẳng có gì mà tâm chẳng biết!

Thích nghĩa cho phần tư duy này:

(1). Đối thoại này được trích từ Thiền luận III trong mục nói về “Luận một: Từ Thiền Đến Hoa Nghiêm”.

 

---o0o---

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,498,664