Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phẩm "Phương Tiện Thiện Xảo"

08/07/202020:22(Xem: 106)
Phẩm "Phương Tiện Thiện Xảo"

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

 Buddha_101

 

PHẨM "PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO"

Quyển 328 đến quyển 330, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương phẩm "Thâm áo" và  phẩm “Mộng Hành”, quyển thứ 19, MHBNBLM)

 

Tóm lược:

 

Phẩm này có thể chia làm hai đoạn để phân tích:

 

1. Đoạn một này: Tương đương với phẩm "Thâm Áo",

quyển thứ 19, MHBNBLM.

 

(Bồ tát chứng trí rộng lớn gọi là thâm áo)

 

Đại Bồ tát ở địa vị bất thối chuyển đã chứng đắc trí rộng lớn vô lượng, vô biên, chẳng thể tính đếm, khó nghĩ bàn, khác với trí Thanh văn và Độc giác. Đại Bồ tát ấy an trụ trong trí này, biểu hiện bốn sự hiểu biết thông suốt thù thắng(1). Do bốn sự hiểu biết thông suốt thù thắng này, mà trời, người, a tu la v.v… trong thế gian không có thể vấn nạn được.

Chỗ thâm áo mà Bồ tát chứng đắc trí rộng lớn đó là không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, vô sanh, vô diệt, tịch tịnh, Niết bàn, chân như, pháp giới, pháp tánh, thật tế v.v… Tên của chỗ thâm áo đã nói như vậy đều chỉ rõ Niết bàn là chỗ thâm áo. Tất cả các pháp khác cũng gọi là thâm áo. Sắc cũng gọi là thâm áo; thọ, tưởng, hành, thức cũng gọi là thâm áo. Mười hai xứ, mười tám giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Vô Thượng Bồ đề cũng gọi là thâm áo. Vì sao? Vì sắc nhưthâm áo nên sắc cũng thâm áo; vì thọ, tưởng, hành, thức như thâm áo nên thọ, tưởng, hành, thức cũng thâm áo. Vì xứ như, giới như và tất cả pháp Phật như thâm áo nên xứ, giới và tất cả pháp Phật cũng thâm áo. (Q. 328, ĐBN)

Vì sao tất cả pháp như thâm áo? Vì sắc như chẳng phải là sắc, chẳng lìa sắc, cho nên thâm áo; vì thọ, tưởng, hành, thức như chẳng phải là thọ, tưởng, hành, thức, chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức, cho nên thâm áo. Vì tất cả pháp như chẳng phải là tất cả pháp, cũng chẳng lìa tất cả pháp, cho nên thâm áo.

Đó là Phật dùng phương tiện vi diệu, vì đại Bồ tát bất thối chuyển ngăn khiển sắc để chỉ rõ Niết bàn; ngăn khiển thọ, tưởng, hành, thức để chỉ rõ Niết bàn. Đó là phương tiện rất vi diệu, vì đại Bồ tát bất thối chuyển ngăn khiển mười hai xứ, mười tám giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến đến quả vị Giác ngộ tối cao để chỉ rõ Niết bàn. Đó cũng là phương tiện rất vi diệu, vì đại Bồ tát bất thối chuyển ngăn khiển tất cả pháp hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian, hoặc cộng, hoặc bất cộng, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc hữu vi, hoặc vô vi để chỉ rõ Niết bàn(2).(Q. 329, ĐBN).

Nếu đại Bồ tát đối với các chỗ thâm áo như thế, thường nương vào ý nghĩa tương ưng Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm thẩm xét, tư duy, suy lường, quán sát, tu học, an trụ như Bát nhã đã nói thì đại Bồ tát ấy do thường tinh cần tu học như vậy, nương vào Bát nhã, khởi tâm nhất niệm(thời) có khả năng thâu nhiếp vô số, vô lượng, vô biên công đức, vượt vô lượng kiếp sanh tử lưu chuyển, mau chứng quả vị Giác ngộ tối cao, huống là thường tu Bát nhã không gián đoạn, thường an trụ tác ý tương ưng quả vị Giác ngộ tối cao(Q. 329, ĐBN).

Nếu đại Bồ tát an trụ như Bát nhã đã dạy, trải qua một ngày một đêm thì công đức đạt được này giả sử có hình tướng thì cả Tam thiên đại thiên thế giới cũng chẳng thể dung nạp(chứa) hết. Nếu đại Bồ tát xa lìa Bát nhã, giả sử trải qua hằng hà sa số đại kiếp bố thí cúng dường tam bảo Phật, Pháp, Tăng tuy cũng được vô số, vô lượng, vô biên công đức, nhưng không bằng đại Bồ tát nương vào Bát nhã chỉ trải qua một ngày một đêm như lời dạy mà tu học, thì công đức đạt được còn nhiều hơn công đức kia gấp bội phần. Vì Bát nhã là cổ xe lớn chở các Bồ tát mau đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Và cũng vì chư đại Bồ tát tu hành thậm thâm Bát nhã sẽ vượt qua địa vị Thanh văn và Độc giác, mau nhập Chánh tánh ly sanh, lại có khả năng tu hành Bồ tát hạnh mau chứng quả vị Giác ngộ tối cao.

Nếu đại Bồ tát xa lìa Bát nhã, giả sử trải qua hằng hà sa số đại kiếp tinh cần tu học bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự phước đức tuy vô lượng, vô biên. Tuy nhiên, nếu đại Bồ tát ấy nương vào lời dạy của Bát nhã thậm thâm mà an trụ, trải qua một ngày một đêm tinh cần tu học bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, thì công đức đạt được hơn công đức kia rất nhiều. Vì sao? Vì Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm là mẹ các đại Bồ tát, vì Bát nhã có khả năng sanh ra các đại Bồ tát. Tất cả đại Bồ tát nương vào Bát nhã mau viên mãn tất cả pháp Phật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật, giả sử trải qua đại kiếp như số cát Căng già, đem pháp bố thí phục vụ tất cả hữu tình. Thiện Hiện! Ý ngươinghĩ sao? Đại Bồ tát này do nhân duyên đây được phước nhiều chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Bạch Thiện Thệ! Rất nhiều. Phước kia vô số vô lượng vô biên! Phật nói: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát nương Bát Nhã Ba-la-mậtthậm thâm đã thuyết mà trụ, trải một ngày đêm, đem pháp bố thí phục vụ tất cả hữu tình, chỗ được công đức rất nhiều hơn kia. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nếu đại Bồ tát xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật thời là xa lìa Nhất thiết trí trí. Nếu đại Bồ tát chẳng xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật thời là chẳng xa lìa Nhất thiết trí trí. Vậy nên, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, thời thường chẳng lìa Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật, giả sử trải qua đại kiếp như số cát Căng già tu hành bố thí Ba-la-mật, tu hành tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự. Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao? Đại Bồ tát này do nhân duyên đây được phước nhiều chăng? Thiện Hiện đáp rằng: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Bạch Thiện Thệ! Rất nhiều. Phước kia vô số vô lượng vô biên! Phật nói: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát nương Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm đã thuyết mà trụ, trải một ngày đêm tu hành bố thí Ba-la-mật, tu hành tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, chỗ được công đức rất nhiều hơn kia.Vì sao? Thiện Hiện! Vì nếu đại Bồ tát chẳng lìa Bát Nhã Ba-la-mật, đối quảVô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà có thối lui, không có lẽ ấy. Nếu đại Bồ tát xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật, đối Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà có thối lui, đây mới có lẽ đáng nói. Vậy nên, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, thời chẳng nên xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm.

Nếu đại Bồ tát xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật, giả sử trải qua hằng hà sa số đại kiếp, duyên khắp thiện căn công đức của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử ở quá khứ, vị lai, hiện tại, hòa hợp tùy hỷ, vì tất cả hữu tình hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì do nhân duyên này được phước đức vô số, vô lượng, vô biên. Nếu đại Bồ tát nương vào lời dạy của Bát Nhã Ba-la-mật mà an trụ, trải qua một ngày một đêm duyên khắp thiện căn công đức của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đệ tử ở quá khứ, vị lai, hiện tại, hòa hợp tùy hỷ, vì khắp tất cả hữu tình hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì công đức đạt được hơn công đức kia rất nhiều. Vì sao? Vì tất cả thiện căn công đức mà tùy hỷ hồi hướng đều lấy Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm làm đầu. Vì vậy, nếu đại Bồ tát muốn chứng quả vị Giác ngộ tối cao, thời chẳng nên xa lìa Bát nhã.

 

(Tất cả pháp là không, bất khả thuyết)

 

Phân biệtsở tácchẳng có thể phát khởi chánh kiến chân thật, chẳng có thể hướng vào Chánh tánh ly sanh, chẳng có thể đắc bốn quả Thanh văn hoặc quả vị Độc giác, cũng chẳng có thể đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Các đại Bồ tát tu hành thậm thâm Bát nhã thời biết tất cả các loại phân biệt sở tác là không, vô sở hữu, hư vọng chẳng thật. Vì sao? Vì các đại Bồ tát khéo học mười tám pháp không. Đại Bồ tát ấy an trụ pháp không rồi, quán sát biết đúng như thật tất cả các loại phân biệt sở tác là không, vô sở hữu, hư vọng chẳng thật như thế, tức là chẳng xa lìa Bát nhã. Vì chẳng xa lìa Bát nhã như thế nên mới được phước vô số, vô lượng, vô biên.

Như Lai thường nói sắc là không; thọ, tưởng, hành, thức cũng là không; Như Lai thường nói mười hai xứ, mười tám giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao cũng là không, điều đó có nghĩa là tất cả pháp là không. Tất cả pháp là không tức là vô tận, cũng là vô số, cũng là vô lượng, cũng là vô biên. Trong cái không của tất cả pháp, cái tận chẳng thể nắm bắt được, cái vô số chẳng thể nắm bắt được, cái vô lượng chẳng thể nắm bắt được, cái vô biên cũng chẳng thể nắm bắt được. Do nhân duyên này, mà vô tận, vô số, vô lượng, vô biên, văn nghĩa không phân biệt. Vì vô tận, vô số, vô lượng, vô biên, văn nghĩa không phân biệt, nên đều cùng làm sáng tỏ cái không của tất cả pháp.

Tất cả pháp không đều bất khả thuyết. Như Lai phương tiện nói là vô tận, hoặc nói vô số, hoặc nói vô lượng, hoặc nói vô biên, hoặc nói là không, hoặc nói vô tướng, hoặc nói vô nguyện, hoặc nói vô tác, hoặc nói vô sanh, hoặc nói vô diệt, hoặc nói ly nhiễm, hoặc nói tịch diệt, hoặc nói Niết bàn, hoặc nói chân như, hoặc nói pháp giới, hoặc nói pháp tánh, hoặc nói thật tế; các nghĩa như thế đều là do Như Lai phương tiện diễn nói.

Thật tướng của các pháp bất khả thuyết, Phật vì hữu tình mà phương tiện chỉ rõ. Tánh của tất cả pháp cũng bất khả thuyết. Vì sao? Vì tánh của tất cả pháp đều rốt ráo “không”, “không” không thể diễn nói “cái không rốt ráo”.

Cái nghĩa bất khả thuyết cũng không tăng không giảm, bố thí Ba-la-mật cũng không tăng không giảm; tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã cũng không tăng không giảm; 37 pháp trợ đạo cũng không tăng không giảm v.v… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao cũng không tăng không giảm.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu bố thí Ba-la-mật không tăng, không giảm; tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã cũng không tăng, không giảm thì làm sao đại Bồ tát tu hành bố thí cho đến Bát nhã mà có thể chứng đắc Vô Thượng Bồ đề? Làm sao đại Bồ tát tu hành 37 pháp trợ đạo, 18 pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao, lại có thể chứng đắc Vô Thượng Bồ đề?

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Nghĩa bất khả thuyết không tăng, không giảm; bố thí Ba-la-mật cũng không tăng không giảm; tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã cũng không tăng không giảm; 37 pháp trợ đạo cũng không tăng không giảm; bốn tịnh lự cũng không tăng không giảm; bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng không tăng, không giảm; tám giải thoát cũng không tăng không giảm; tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng không tăng không giảm; pháp môn giải thoát không cũng không tăng không giảm; pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng không tăng, không giảm; thập địa Bố tát cũng không tăng, không giảm; năm loại mắt, sáu phép thần thông cũng không tăng, không giảm; pháp môn Tam ma địa, Đà la ni cũng không tăng không giảm; Phật mười lực cũng không tăng không giảm; bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng cũng không tăng không giảm; pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả cũng không tăng không giảm; Nhất thiết trí cũng không tăng không giảm; Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí cũng không tăng không giảm.

 

(Lấy sự không tăng không giảm làm phương tiện tu hành)

 

Này Thiện Hiện! Các đại Bồ tát tu hành Bát nhã an trụ phương tiện thiện xảo Bát nhã, chẳng nghĩ: Ta đối với Bát nhã hoặc tăng hoặc giảm; chẳng nghĩ: Ta đối với tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật hoặc tăng hoặc giảm;chỉ nghĩ:Bát Nhã Ba-la-mật chỉ là danh tự; chỉ nghĩ: Tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí cũng chỉ là danh tự.Các Đại Bồ tát khi tu hành lục Ba-la-mật, đem tác ý nầy với tất cả thiện căn, cùng các hữu tình bình đẳng hồi hướng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Do sức phương tiện thiện xảo hồi hướng này, mà chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao.

 

(Tất cả pháp như là quả vị Giác ngộ tối cao)

 

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Sao gọi là quả vị Giác ngộ tối cao?

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Các pháp như là quả vị Giác ngộ tối cao.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch: Bạch Thế Tôn! Các pháp như nào mà nói tất cả pháp như là quả vị Giác ngộ tối cao?

Phật dạy: Này Thiện Hiện! Sắc như là quả vị Giác ngộ tối cao; thọ, tưởng, hành, thức như là quả vị Giác ngộ tối cao. Mười hai xứ như, mười tám giới như, tứ thiền như, tứ vô lượng như, tứ định vô sắc như, mười tám pháp bất cộng như, Nhất thiết trí như… cho đến Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác như là quả vị Giác ngộ tối cao. Sanh tử như là quả vị Giác ngộ tối cao ; Niết bàn như là quả vị Giác ngộ tối cao.

Tất cả pháp như không tăng không giảm, nên quả vị Giác ngộ tối cao cũng không tăng không giảm. Các đại Bồ tát chẳng xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật, thường ưa an trụ tất cả pháp như, hoàn toàn chẳng thấy có pháp nào có tăng có giảm. Do nhân duyên này, nghĩa bất khả thuyết không tăng không giảm; bố thí Ba-la-mật cũng không tăng không giảm; tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã cũng không tăng không giảm; 37 pháp trợ đạo cũng không tăng, không giảm; nói chung tất cả Phật pháp cũng không tăng không giảm.

Này Thiện Hiện! Các đại Bồ tát nương vào sự không tăng không giảm này làm phương tiện tu hành Bát Nhã Ba-la-mật; do đây làm cửa chứa nhóm các công đức bèn chứng quả vị Giác ngộ tối cao.(Q.330, ĐBN)

 

(Chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề là do sơ tâm hay hậu tâm)?

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ tát nương vào sự không tăng không giảm bèn tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, do đây làm cửa chứa nhóm tất cả công đức, bèn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề ấy. Đại Bồ tát này vì dùng sơ tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề hay là dùng hậu tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề? Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát này nếu dùng sơ tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, khi sơ tâm khởi lên thì hậu tâm chưa khởi, không có nghĩa hòa hợp. Nếu dùng hậu tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, khi hậu tâm khởi lên thì tiền tâm đã diệt, không có nghĩa hòa hợp. Như vậy, tâm và tâm sở trước sau tìm gạn tới lui không có nghĩa hòa hợp, thì làm sao có thể chứa nhóm các căn lành được. Nếu các căn lành chẳng thể chứa nhóm, thì Bồ tát làm sao chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Phật nói:

- Thiện Hiện! Ta vì ngươi lược nói thí dụ, khiến kẻ trí với nghĩa đã nói sẽ dễ hiểu hơn. Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao? Như khi đốt đèn, vì ngọn lửa ban đầu năng đốt cái tim hay là ngọn lửa sau năng đốt cái tim?

- Bạch Thế Tôn! Như ý con hiểu. Chẳng phải ngọn lửa ban đầu năng đốt tim, cũng chẳng rời ngọn lửa ban đầu năng đốt tim; chẳng phải ngọn lửa sau năng đốt tim, cũng chẳng rời ngọn lửa sau năng đốt tim.

- Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao? Cái tim bị đốt chăng?

- Bạch Thế Tôn! Thế gian hiện thấy cái tim bị đốt thật.

Phật nói: Thiện Hiện! Các đại Bồ tát cũng lại như vậy, chẳng phải dùng sơ tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, cũng chẳng rời sơ tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Chẳng phải dùng hậu tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, cũng chẳng rời hậu tâm chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các đại Bồ tát từ sơ phát tâm tu hành Bát Nhã Ba-la-mật viên mãn mười địa, chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Phật lại hỏi:

- Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao? Nếu tâm đã diệt, sanh lại được chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao? Nếu tâm đã sinh, có pháp diệt chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Như vậy. Bạch Thiện Thệ! Như vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Ý ngươi nghĩ sao? Tâm có pháp diệt, phi đương diệt chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy.

Phật lại hỏi Thiện Hiện:

- Thiện Hiện! Theo ý ông,như(3) tức là tâm chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch  Thế Tôn! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, rời như có tâm chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, tâm tức như chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, rời tâm có như chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, như thấy như chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, nếu đại Bồ tát năng hành như thế, là hành Bát nhã thậm thâm chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Nếu đại Bồ tát năng hành như thế là hành Bát nhã thậm thâm.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, nếu Bồ tát năng hành như thế là hành chỗ nào?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Nếu đại Bồ tát năng hành như thế thì hoàn toàn không có chỗ hành. Vì sao? Vì nếu đại Bồ tát hành sâu Bát nhã thì không có tâm hành, không có sở hành. Vì trụ trong như đều không hiện hành và chỗ hiện hành vậy(trụ trong như thì không còn năng sở nữa).

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, đại Bồ tát hành Bát nhã là hành ở chỗ nào?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Đại Bồ tát hành Bát nhã là hành ở trong thắng nghĩa đế, trong đây tâm hành và sở hành đều vô sở hữu, vì năng lấy bị lấy chẳng thể được vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, đại Bồ tát hành Bát nhã là hành trong thắng nghĩa đế, tuy chẳng lấy tướng mà hành tướng chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Theo ý ông, đại Bồ tát tu hành Bát nhã là hành trong thắng nghĩa đế vì hoại tướng mà hành hay hoại tướng tưởng mà hành chăng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy.

Phật bảo:

- Thiện Hiện! Đại Bồ tát nầy khi tu hành Bát nhã vì sao chẳng hoại tướng, cũng chẳng hoại tướng tưởng?

Thiện Hiện đáp rằng:

- Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, chẳng tác nghĩ: Ta sẽ hoại tướng, cũng chẳng tác nghĩ: Ta sẽ hoại tướng và hoại tướng tưởng; cũng chẳng tác nghĩ: Ta sẽ hoại vô tướng và hoại vô tướng tưởng. Vì đối tất cả phápkhông có phân biệt. (Q.330, ĐBN)

Các đại Bồ tát hành Bát nhã trong tam muội không, vô tướng, vô nguyện thì không phân biệt tất cả pháp. Do sức phương tiện thiện xảo nầy nên đối với tất cả pháp chẳng thủ, chẳng hoại. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy biết tự tướng của tất cả pháp là không. Nên an trụ trong tự tướng không của tất cả pháp vì nguyện lực đại bi độ các hữu tình nhập vào tam muội Tam ma địa để thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật.

Thích nghĩa cho đoạn một này:

(1). Bốn sự hiểu biết thông suốt còn gọi là bốn trí vô ngại(tứ vô ngại trí): Bốn năng lực lý giải và diễn đạt vô ngại: 1- Pháp vô ngại, 2- Nghĩa vô ngại, 3- Từ vô ngại, 4- Nhạo thuyết vô ngại. Bốn trí không ngăn ngại này cũng chính là Bốn biện tài vô ngại (Tứ vô ngại biện), Bồ Tát khi đạt được bốn trí này thì có thể vì tất cả chúng sinh mà biện thuyết Chánh pháp không ngăn ngại. (Xem lại phần thứ ITổng luận)

(2). Vì khiển(trách) cũng là một thứ động niệm nên phải trừ, phải ngăn. Và chính cái trừ khiển, cái ngăn khiển sau cùng đó cũng phải vứt bỏ nốt.

(3) (Chơn) như tức là tâm chăng? Từ “chơn như” này được dùng trong phẩm "Chơn Như"để diễn đạt về bản tánh như thực của tất cả pháp, bản tánh này chân thật thường hằng, bất biến tràn đầy vũ trụ, chẳng lúc nào chẳng như, bởi vì nó"như vậy là như vậy", nên gọi tắt là "tất cả pháp như". Trong KinhMHBNBLM gọi là "tướng như", TiểuPhẩm Bát nhã của Ngài La Thập cũng dùng một từ duy nhất là "như". Kinh nói "tất cả pháp như là một như, nên không hai không khác". Vì vậy, cụm từ chơn như của tất cả pháp hay tất cả pháp tướng như, được gọi ngắn gọn là tất cả pháp như. Cách chuyển ngữ như vậy, gây nhiều rắc rối cho độc giả. Đó là cái khó khăn trong ngôn ngữ! Để tránh sự khó khăn này, trong phần tóm lược, chúng tôi dùng một từ duy nhất là NHƯ. Từ NHƯ này có thể làm nổi bật tính cách chơn thật của tất cả pháp hay thật tánh của tất cả phápchăng? Quý vị tự thẩm định. Câu hỏi: Chơn như có phải là tâm chăng? Chúng tôi ghi là: Như có phải là tâm chăng?Bỏ đi từ "chơn" trong từ ghép"chơn như". Đọc tiếp đoạn Kinh trên, quý vị sẽ có cái nhìn sáng sủa hơn?

 

Lược giải:

(Đoạn một này)

 

Gợiý:

Đây là một đoạn Kinh chiết giải hết sức khó khăn: Khó khăn không phải do văn từ khúc mắc, khó khăn không phải nghĩa lý thâm áo mà khó khăn là do nhiều tư tưởng gần như không liên hệ với nhau lại gộp chung trong cùng một đoạn Kinh. Làm sao nối kết các điểm chính có phẩm tựa là "Phương Tiện Thiện Xảo" (Kinh ĐBN) do Ngài Huyền Trang soạn dịch hay phẩm "Thâm Áo" (KinhMHBNBLM) do La Thập soạn dịch: 1. Bồ tát chứng trí rộng lớn gọi là thâm áo? 2. Tất cả pháp là không, không phân biệt. 3. Lấy sự không tăng không giảm làm phương tiện tu hành. 4. Tất cả pháp và pháp như là quả vị Giác ngộ tối cao. 5.Chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề là do sơ tâm hay hậu tâm? Nếu chiết giải riêngr từng ý chính nêu trên thì chẳng có gì khó khăn cho lắm, nhưng đúc kết cho phù hợp với phẩm tựa là cả vấn đề!

Phẩm này của Kinh ĐBN chia làm hai phần. Phần đầu nói về "Phương tiện thiện xảo", phần sau nói về "Mộng hành". Rất tiếc phần đầu (hay đoạn một của phẩm này) chỉ đề cập một phần nhỏ về phương tiện thiện xảo trong khi phẩm tựa có tên là "Phương Tiện Thiện Xảo". Kinh nói lấy sự không tăng không giảm làm phương tiện tu hành,như sau:

" Ta đối với Bát nhã hoặc tăng hoặc giảm; chẳng nghĩ: Ta đối với tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật hoặc tăng hoặc giảm;chỉ nghĩ:Bát Nhã Ba-la-mật chỉ là danh tự; chỉ nghĩ: Tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí cũng chỉ là danh tự.Các Đại Bồ tát khi tu hành lục Ba-la-mật, đem tác ý nầy với tất cả thiện căn, cùng các hữu tình bình đẳng hồi hướng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Do sức phương tiện thiện xảo hồi hướng này, mà chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao".Kinh vỏn vẹn nói về phương tiện thiện xảo chỉ có bao nhiêu đó! Tất cả những điều còn lại của phần đầu này nói về các điểm sau đây:

 

1- Tại sao nói tất cả pháp là không?Bát nhã chẳng phải Bát nhã, cũng chẳng phải chẳng Bát nhã; chẳng bờ đây chẳng bờ kia, chẳng giữa dòng, chẳng đất liền, chẳng giữa biển; chẳng cao chẳng thấp; chẳng bình đẳng chẳng phải chẳng bình đẳng; chẳng có tướng chẳng không tướng; chẳng thế gian chẳng xuất thế gian; chẳng hữu lậu chẳng vô lậu; chẳng hữu vi chẳng vô vi; chẳng thiện chẳng phải chẳng thiện; chẳng phải tội chẳng phải vô tội; chẳng phước chẳng phải vô phước, chẳng hữu ký chẳng vô ký; chẳng khứ chẳng lai; chẳng đoạn chẳng thường; chẳng nhất chẳng dị, chẳng tăng chẳng giảm... Tất cả pháp này rỗng không, vượt danh ngôn thế tục, nên gọi là không, không phân biệt, vượt qua và vượt trên mọi danh ngôn thế tục, nên gọi là đệ nhất nghĩa. Chư Phật nương Bát nhã soi thấy tất cả pháp đều không nên mới chứng được trí không.

Trí không này rộng lớn thâm áo đó làkhông, vô tướng, vô nguyện, vô tác, vô sanh, vô diệt, tịch tịnh, Niết bàn, chân như, pháp giới, pháp tánh, thật tế… Không những thế tất cả các thiện pháp hay còn gọi là các pháp mầu Phật đạo, cũng rất pháp thâm áo. Tại sao? Vì nếu không có tất cả pháp này, thì không có Phật, không có Phật thì không có giác ngộ, cũng không có trí này. Phật dùng nó như phương tiện để chỉ rõ Niết bàn, cứu độ chúng sanh, nên nói là vi diệu thâm áo.

Kinh cũng nói tất cả pháp như cũng pháp thâm áo. Chư Phật nương Bát nhã soi thấy tất cả pháp như thật trong chân như thật tướng của nó, như đó là như thường tại, chẳng lúc nào chẳng như. Người thấy các pháp như như thế gọi là Như Lai. Như Lai cũng là danh hiệu khác của Phật nghĩa là người chứng được chân như thì được trí không thảy như Phật không khác. Người nào lấy pháp như làm phương tiện tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, sẽ mau chứng quả vị Giác ngộ tối cao.

Nên trong phẩm này, Phật bảo: "Các pháp như là quả vị Giác ngộ tối cao".

 

2- Tất cả pháp thâm áo, thì khiển tu làm gì?

Tất cả pháp và tất cả pháp như đều thâm áo, đều được xem như quả vị Giác ngộ tối cao thì tu khiển các pháp làm gì cho nhọc. Khiển lại là một thứ động niệm, đi ngược với lối tu tịch lặng(1). Khiển có nghĩa ngăn động để cầu tịnh, nhưng không biết rằng càng ngăn lại càng động thêm. Nước bẩn để nó tự lóng, càng khuấy càng thêm đục, chẳng ích gì. Vì vậy, Phật vì các Bồ tát mà nói ngăn khiển. Ngăn khiển có nghĩa là ngăn chận không cho khiển tu nữa. Tổ Tăng Xán trong "Tín Tâm Minh" bảo rằng:

 

Chỉ động qui chỉ            dịch            Ngăn động mà cầu tịnh

chỉ cánh di động                               hết ngăn lại động thêm

duy trệ lưỡng biên                             càng trệ ở hai bên

minh tri nhất chủng                           thà rõ đâu là đầu mối.

 

3- Tu không sở tác:

Nếu biết tất cả pháp đều không, không tăng không giảm, tất cả pháp, tất cả pháp như là quả vị Giác ngộ tối cao hay nói khác "tất cả thanh sắc đều là mắt tuệ Phật". Nếu thật hiểu như vậy thì bặt niệm phân biệt, không còn chấp đắm nữa. Nếu không chấpđắm thì không còn sở tác. Trong không sở tác (năng), ngoài không chỗ hành (sở) tức không còn năng sở nữa thì tâm như như.Trụ trong như này mới có thể phát khởi chánh kiến chân thật, tu tất cả thiện pháp, chứng quả vị Giác ngộ tối cao mà chẳng xa lìa Bát nhã, nên công đức mới được vô lượng.

Thích nghĩa cho phần lược giải Đoạn một này:

(1).Lối tu tịch lặng: Có nghĩa lau sạch mặt gương tâm để thấy bóng của Tự tánh xưa nay vốn thanh tịnh.

(2).Tĩnh lự, Vô lượng, Vô sắc viết gọn của tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc.

 

2. Đoạn hai này:Tương đương với phẩm “Mộng Hành”

quyển thứ 19, KinhMHBNBLM.

 

Gợi ý:

Một khi tâm biến động buồn hay vui, sân hận hay thanh thoát… đều có thể biểu lộ trong khi đi đứng nằm ngồi, thức hay ngủ. Một người sa đọa, tư tưởng, lời nói và hành động đều biểu lộ sự sa đọa. Một người trong sáng, thanh cao thì trong tứ nghi đều biểu lộ thanh cao dù người đó thức hay ngủ.

Tôi còn nhớ trong một quyển sách nào đó mà tôi đọc từ lâu kể câu chuyện: Người vợ kể cho chồng biết là những giấc ngủ của ông “không được bình thường lắm”. Người chồng hỏi tại sao thì người vợ chỉ bảo: Trong lúc ngủ ông như người bị "động Kinh", khua tay múa chân la hét như ngựa hý vậy. Té ra người chồng là một họa sĩ tài danh chuyên vẽ về ngựa. Vì để lột hết tinh thần diễn tả những thao tác từ hình dáng, tướng mạo chạy nhảy cùng tiếng hý của ngựa qua nhiều năm, nên tác động vào tiềm thức, tạo thành những giấc mơ với các thao tác giống như ngựa chạy nhảy vậy. Người chồng tự hiểu lý do, nên bỏ nghề vẽ ngựa. Từ đó ông chuyển sang vẽ chân dung chư Phật. Ông tập trung cao độ để diễn tả nét hiền hòa, từ bi hỉ xả của chư Phật, sự tập trung cao độ nầy ảnh hưởng vào tâm thức, nên bây giờ khi ngủ ông có được những giấc ngủ yên lành, thanh thản.

Kinh nói về nguyên nhân của tạo tác và kết quả của nó, tức nói năng duyên, sở duyên. Vì có năng s đối đãi nên sanh ra tâm hành và kết quả là thọ nghiệp. Chủ thể nhận thức là năng duyên (tức tâm vương và tâm sở), còn khách thể (đối tượng của nhận thức, tức trần cảnh) là sở duyên. Tâm vương và tâm sở không tự phát sanh, phải nhờ có chỗ nương vịn mới có thể phát sanh tác động. Chỗ nương vịn vào thì gọi là sở duyên.

 

"Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát này hành Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu, năng lìa phân biệt. Nếu Phật mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng cùng vô lượng công đức thù thắng chưa được viên mãn thời chưa chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát này trọn nên phương tiện khéo léo, do sức phương tiện khéo léo đây nên đối tất cả pháp chẳng lấy chẳng hoại. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì đại Bồ tát này biết tất cả pháp tự tướng không vậy. Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát này an trụ trong tất cả pháp tự tướng không, dùng tam ma địa để thành thục hữu tình(1).

Phật nói: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Như lời ngươi vừa nói.

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát này vì sao vào ba tam ma địa để thành thục hữu tình?

Phật nói: Thiện Hiện! Đại Bồ tát này an trụ Không tam ma địa, thấy các hữu tình phần nhiều chấp ngã, đem sức phương tiện dạy khiến an trụ Không tam ma địa. Thiện Hiện! Đại Bồ tát này an trụ Vô tướng tam ma địa, thấy các hữu tình phần nhiều hành tướng, đem sức phương tiện dạy khiến an trụ Vô tướng tam ma địa. Thiện Hiện! Đại Bồ tát này an trụ Vô nguyện tam ma địa, thấy các hữu tình phần nhiều ưa vui, đem sức phương tiện dạy khiến an trụ Vô nguyện tam ma địa. Thiện Hiện! Đại Bồ tát này hành Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu như thế, vào ba tam ma địa để thành thục hữu tình.

Bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử hỏi cụ thọ Thiện Hiện rằng: Thưa Ngài Thiện Hiện! Nếu các Bồ tát trong mộng vào ba tam ma địa này, đối Bát nhã thẳm sâu có tăng (lợi) ích gì không? Thiện Hiện đáp rằng: Ngài Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát ban ngày (trạng thái tỉnh) vào ba tam ma địa này, đối với Bát nhã có tăng ích, thì những người ấy lúc ở trong mộng (trạng thái mê) cũng có tăng ích. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì tỉnh hay mê cũng không sai khác. Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát ngày hành Bát Nhã Ba-la-mật đã gọi tu tập Bát nhã, thời Bồ tát này trong mộng hành Bát Nhã Ba-la-mật cũng gọi tu tập Bát nhã. Ba tam ma địa đối Bát Nhã Ba-la-mật năng làm tăng ích, cũng như vậy.

Khi ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Các Bồ tát tạo nghiệp trong mộng có tăng ích, hoặc tổn giảm chăng? Phật nói hữu vi hư dối chẳng thật như mộng sở tác, làm sao nghiệp kia có tăng giảm được? Vì sao? Vì chẳng phải nghiệp sở tác ở trong mộng có tăng ích hoặc tổn giảm, cần đến khi giác tưởng phân biệt cảnh sở tác trong mộng mới có tăng giảm.

Thiện Hiện đáp rằng: Có những vụ ban ngày giết mạng người, ban đêm trong mộng nhớ tưởng phân biệt rất đỗi sung sướng; hoặc lại có người trong mộng dứt mạng kẻ khác, đến khi thức giấc sanh vui mừng. Hai nghiệp như thế, ý Ngài hiểu như thế nào?

Xá Lợi Tử nói: Không sở duyên sự hoặc nghĩ, hoặc nghiệp đều chẳng sanh được, cần có duyên sự thời nghĩ và nghiệp mới khởi. Nghĩ và nghiệp trong mộng duyên đâu mà sanh?

Thiện Hiện đáp rằng: Như vậy, như vậy. Hoặc mộng, hoặc giác không sở duyên sự nghĩ và nghiệp chẳng sanh. Cần có sở duyên sự nghĩ nghiệp mới khởi. Vì sao? Xá Lợi Tử! Hoặc mộng, hoặc giác cần ở trong pháp thấy nghe giác biết, có giác huệ chuyển, do đấy khởi nhiễm, hoặc lại khởi tịnh. Nếu không có thấy nghe hiểu biết, không có giác huệ chuyển, cũng không có nhiễm tịnh. Do đây nên biết hoặc mộng hoặc giác, có sở duyên sự nghĩ nghiệp mới khởi, không có sở duyên sự nghĩ nghiệp chẳng sanh.

Khi ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Phật nói nghĩ nghiệp đều rời tự tánh, làm sao khá nói có sở duyên sự mới khởi?

Thiện Hiện đáp rằng: Tuy các nghĩ, nghiệp và sở duyên sự tự tánh đều không, mà do tự tâm nắm lấy tướng phân biệt nên nói nghĩ nghiệp có sở duyên sanh. Nếu không có sở duyên, nghĩ nghiệp chẳng khởi.

Bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử lại hỏi cụ thọ Thiện Hiện rằng: Nếu đại Bồ tát tu hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã trong mộng, đem căn lành đây cùng các hữu tình bình đẳng chung có hồi hướng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Bồ tát này có thật hồi hướng Đại bồ đề chăng?

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện bảo Xá Lợi Tử rằng: Ngài Từ Thị Bồ tát nhận ký Bất thối chuyển đã lâu, chỉ cách một đời nữa quyết định sẽ làm Phật, giỏi môn năng thù đáp tất cả vấn nạn. Hiện tại ở trong hội này nên thỉnh hỏi, bổ xứ Từ Tôn chắc chắn giải đáp cho.

Khi ấy, Xá Lợi Tử như lời Thiện Hiện cung kính thỉnh hỏi Từ Thị Bồ tát. Khi ấy, Từ Thị Bồ tát bảo Xá Lợi Tử rằng: Sao gọi danh Từ Thị năng đáp? Vì sắc ư, hay vì thọ tưởng hành thức ư? Vì sắc không ư, hay vì thọ tưởng hành thức không ư? Vả sắc chẳng năng đáp, thọ tưởng hành thức cũng chẳng năng đáp. Sắc không chẳng năng đáp, thọ tưởng hành thức không cũng chẳng năng đáp. Vì sao? Xá Lợi Tử! Ta đều chẳng thấy có pháp năng đáp, có pháp sở đáp, chỗ đáp, thời đáp và do đây mà đáp. Ta đều chẳng thấy có pháp năng ký, có pháp sở ký, chỗ ký, thời ký và do đây mà ký cũng đều chẳng thấy. Vì tất cả pháp bản tánh đều không, đều vô sở hữu, không hai không riêng, gạn tìm rốt ráo chẳng thể được vậy.

Xá Lợi Tử lại hỏi Từ Thị Bồ tát rằng: Thưa tôn giả! Pháp mà Ngài đã thuyết là sở chứng chăng? Từ Thị Bồ tát nói: Pháp Ta đã thuyết đó chẳng phải sở chứng. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì pháp Ta sở chứng bất khả thuyết vậy.

Xá Lợi Tử tác nghĩ: Từ Thị Bồ tát trí huệ sâu rộng, tu bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật đã lâu viên mãn, mới đem vô sở đắc mà làm phương tiện, đối việc vừa hỏi mới đáp được như thế.

Bấy giờ, Phật bảo Xá Lợi Tử rằng: Xá Lợi Tử! Ý ngươi nghĩ sao? Ngươi do pháp ấy được quả A la hán, hay thấy pháp ấy khả thuyết chăng?

Xá Lợi Tử thưa: Bạch Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Bạch Thiện Thệ! Chẳng phải vậy.

Phật nói: Xá Lợi Tử! Các Bồ tát hành Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu, sở chứng các pháp cũng lại như vậy. Xá Lợi Tử! Bồ tát này chẳng tác nghĩ đây: Ta do pháp này sẽ được nhận ký, Ta do pháp này hiện được nhận ký, Ta do pháp này đã được nhận ký. Chẳng tác nghĩ này: Ta do pháp đây sẽ chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Xá Lợi Tử! Bồ tát này hành Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu chẳng sanh do dự nghĩ rằng Ta đối Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề là được hay chẳng được. Chỉ nên tác nghĩ này: Ta đối Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề quyết định sẽ chứng được. Xá Lợi Tử! Bồ tát này hành Bát Nhã Ba-la-mật thẳm sâu, nghe pháp sâu thẳm nơi tâm chẳng kinh, chẳng hãi, chẳng sợ quyết định tự biết ta sẽ chứng được sở cầu là Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề".

Thích nghĩa cho Đoạn hai:

(1). Khi đề cập Tam tam ma địa có nghĩa là chỉ nói về tam muội Không, Vô tướng, Vô nguyện như chúng ta đã biết trong phần thứ I Tổng luận. Một pháp môn tương tự có tên là Tam giải thoát môn: Không giải thoát môn, Vô tướng giải thoát môn và Vô nguyện giải thoát môn. Pháp môn này cứu cánh hơn, nghĩa là Tu tam Tam ma địa thành tựu thì mới có thể bước vào cửa giải thoát, hay nói khác tam Tam ma địa là phương tiện và Tam giải thoát môn là cứu cánh. Xin xem lại phần thứ I Tổng luận.

 

Lược giải:

(cho đoạn hai, này)

 

Phẩm“Tướng Không” quyển 516,Hội thứ III và phẩm “Tham Hành” quyển 563,Hội thứ V, ĐBN, Ngài Huyền Trang dịch, cùng một tư tưởng với đoạn Kinh nầy, nói: Có sở duyên nghĩ nghiệpkhởi, không sở duyên nghĩ nghiệp chẳng sanh. Vậy, trong đêm nằm mộng thấy mình tạo nghiệp, nghiệp đó cũng không tăng không giảm, chỉ lúc tỉnh phân biệt phát sanh vui mừng như người nằm mộng thấy mình giết được kẻ thù, lòng vui thích. Những nghĩ tưởng như vậy là tạo nghiệp nên tăng ích. Vì vậy, Tu Bồ đề mới giải thích cho Xá Lợi Phất:"Hoặc mộng hoặc tỉnh không có sở duyên nghĩ nghiệp chẳng sanh, cần có sở duyên nghĩ nghiệp mới khởi. Vì sao? Xá Lợi Phất! Ở trong pháp thấy nghe giác biết, có giác huệ chuyển, do đấy khởi nhiễm, khởi tịnh. Nếu không có thấy nghe giác biết, giác huệ không chuyển, cũng không nhiễm tịnh. Do đây nên biết hoặc mộng hoặc tỉnh, có sở duyên nghĩ nghiệp khởi, cho đến không có sở duyên nghĩ nghiệp chẳng sanh"(1).

Nếu vậy, một người ngồi trong phòng trống thiền định, niệm niệm tuông đến không ngừng, nào ác nào thiện, nào xấu nào tốt…thì có coi đó là nghĩ nghiệp sanh hay không? Trong trường hợp này, Huệ mạng Tu Bồ Đề trả lời:"Mặc dù các nghĩ nghiệp và sở duyên tự tánh đều không, mà do tự tâm làm tướng phân biệt, nên nói nghĩ nghiệp có sở duyên sanh, nếu không nghĩ nghiệp chẳng sanh"(2).Nghĩ nghiệp không, sở duyên cũng không, do tự tâm phân biệt nên mới “có chuyện”. Kinh Lăng Nghiêm nói:"Tự tâm mà trách tự tâm, chân tâm biến thành huyễn". Cổ đức cũng có câu:"Cuồng tâm chẳng nghỉ (chẳng chịu dừng), nghỉ tức Bồ đề".

 

Theo thế pháp tội chỉ thành tựu khi phát ra hành động cụ thể như tội trộm được định danh là "lược thủ một vật ngoài sự hay biết của kẻ khác". Vậy muốn kết tội một người về tội trộm thì trước hết phải bắt quả tang người ấy lược thủ(đánh cắp) một vật, vật đó không thuộc về mình mà thuộc quyền sở hữu của người khác. Hình luật Pháp quốc khi xưa lúng túng với các tội như ăn quỵt, trộm điện hay đi xe buýt (bus) không trả tiền. Như tội ăn quỵt, người nầy trịnh trọng vào tiệm gọi thức ăn, người hầu bàn mang thức ăn đến cho hắn. Ở đây hắn không ăn cắp món ăn ngoài sự hay biết của kẻ khác. Tội trộm điện, điện không được coi là một vật cụ thể có thể thấy bằng mắt. Người đi xe buýt, hắn bước lên xe đàng hoàng, ai cũng thấy, tới nơi xuống xe, hắn không lược thủ vật gì không thuộc quyền sở hữu của y. Không luật, không thành tội. Tòa án bắt buộc phải tha bổng những người nầy. Về sau nước Pháp mới định danh những hành động như trên(ăn quỵt, trộm điện v.v…) thuộc tội trộm.

Tôn giáo, gồm luân lý, đạo đức… trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần, đòi hỏi một sự trong sáng tuyệt đối. Những gì được coi là tội lỗi không cần phải thể hiện bằng hành động, nó chỉ cần manh nha qua tâm tưởng. Giới là hàng rào ngăn chặn những tội lỗi xâm nhập từ ngoài vào. Giới có nặng có nhẹ, có khai, có giá (3)tùy cấp thọ giới(4). Bồ tát giới là giới luật khó khăn, tế nhị nhất không những giới dùng ngăn chặn những tội lỗi từ bên ngoài mà còn ngăn chặn những tội lỗi manh nha từ nội tâm. Có sở duyên hay không sở duyên không cần biết, một khi móng khởi một niệm tham, sân hay si, hoặc một việc đáng làm mà không làm, hoặc suy nghĩ, hành động trái với tàm và quý(tự mình xấu hổ hay hổ thẹn với kẻ khác) thì coi như là có tội, phải lập đàn sám hối hay qùy hương tùy theo tội nặng hay nhẹ!

 

Tôi còn nhớ một câu chuyện của một nhà sư trẻ, sắp hàng để nhận của tín thí. Món cúng dường là món xôi mà Sư thích. Nhưng nhiều người sắp hàng quá, nên Sư nghĩ đến lượt mình chắc sẽ hết. Khi nghĩ như vậy Sư giật mình và tự mắng là tham lam, rồi lấy tay tát mạnh vào mặt, tự động bước ra khỏi hàng quay về am với bình bát rỗng không. Sư nhịn đói ngày hôm đó để tự trừng phạt sự sai quấy của mình!

Thích nghĩa cho phần lược giải của đoạn hai này:

 (1). Năng duyên và sở duyên: Chủ thể nhận thức là năng duyên, còn khách thể (đối tượng) của nhận thức là sở duyên. Nói khác tâm vương và tâm sở gọi là năng duyên, trần cảnh gọi là sở duyên. Tâm vương và tâm sở không tự phát sanh, phải nhờ có chỗ nương vịn vào mới phát sanh tác động. Chỗ nương vịn vào thì gọi là sở duyên.

(2). "Mặc dầu các tư duy, tạo tác và pháp sở duyên tự tánh đều không, nhưng do tự tâm thủ tướng phân biệt nên nói tư duy tạo tác có sở duyên mới sanh. Nếu không có sở duyên, thì tư duy và tạo tác không khởi". Tư duy phân biệt là năng, cái nương vịn vào để chấp(sắc trần…) là sở. Tâm nương vịn vào sở duyên để phân biệt, chấp trước thì gọi là phan duyên, giống như dây leo nhờ có rào dậu bám vào nên mới có thể chuyền leo được.

(3). Có khai, có giá: Có chỗ cho phép, có chỗ cấm chỉ.

(4). Người thọ giới: Gọi chung là Chúng, chỉ người xuất gia hay tại gia. Có bảy chúng là Ưu bà tắc, Ưu bà di, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma ni, T kheo và T kheo ni. Từ Thức xoa ma ni (Phạm:Zikwamàịà. Pàli:Sikkhamànà) cũng gọi Thức xoa ma na ni, Thức xoa ni, Thức xoa ma xoa. Hán dịch: Học giới nữ, chính học nữ, học pháp nữ. Chỉ cho Ni chúng đang học pháp, chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 7 chúng nói trên. Trong 2 năm trước khi thụ giới Cụ túc, Ni chúng này phải học 4 giới căn bản và 6 pháp, tức học tập tất cả giới hạnh của T khưu ni; nhờ khoảng thời gian 2 năm ấy mà nghiệm biết Ni chúng này có thai hay không, đồng thời nhờ tu hành giới pháp và rèn luyện tâm tính mà tập quen với nếp sống xuất gia, khiến cho đạo tâm vững chắc. Bốn giới căn bản tức 4 giới trọng: Giới sát, giới đạo, giới dâm và giới đại vọng ngữ. Sáu pháp chỉ cho: Tâm nhiễm ô đụng chạm người nam, lấy trộm tiền của người, giết hại chúng sinh, nói dối việc nhỏ, ăn phi thời và uống rượu. Theo luận Du già sư địa thì vì người nữ nhiều phiền não nên phải thực hành pháp thụ giới theo thứ lớp dần dần này. [X. luật Tứ phần Q.48; luận Du già sư địa Q.57; luận Đại trí độ Q.13; Tứ phần luật san phần bổ khuyết hành sự sao Q. hạ, phần 4]. (xt. Thất Chúng)- Phật Quang từ điển.

 

Kết luận:

 

Đến đây chấm dứt phẩm "Phương Tiện Tiện Xảo", những giải thích trên cũng tạm đủ, không cần phải dông dài, chỉ thêm rườm rà vô ích! Vì phẩm này có tên là "Phương Tiện Thiện Xảo", nhưng lại đề cập nhiều về pháp Không, đồng thời Kinh lại thuyết về"chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề là do sơ tâm hay hậu tâm", nhưng lại không nói mấy về phương tiện thiện xảo. Vậy, đểđúc kết phẩm này chúng tôi trích dẫnlời bình giải của Thiền sư D.T. Suzuki trong phần nói về “Upàya, Phương tiện thiện xảo, để quý vị thưởng thức thêm thay thế cho phần kết luận của chúng tôi:

“Như thế chúng ta có thể thấy rằng, có một mối quan hệ ách yếu giữa Nhất thiết trí (Sarvajnata), Bát nhã (prajna), Đại bi (Karuna), Phương tiện (Upaya) và Chính giác (Sambodhi) hay Giải thoát (Moksa). Theo lý thuyết mà nói: Nhất thiết trí là thành quả hay nội dung của Giác ngộ (Sambodhi) vốn được thể hiện bởi Bát nhã; nhưng tự thân của Bát nhã thì không thể thành tựu một kết quả thực tiễn nào, nó hoạt dụng ngang qua Phương tiện sinh ra từ  Đại bi. Bát Nhã Ba-la-mật phác họa những quan hệ này bằng các thí dụ như sau:

“Này Tu Bồ Đề; như một người vào biển, bỗng nhiên thuyền bị đắm. Nếu y không nắm chặt lấy phao, một khúc gỗ hay một tấm ván, chắc chắn y phải chết chìm trước khi vào đến bờ. Tu Bồ Đề, cũng vậy, Bồ tát có thể, đối với Vô thượng Chính đẳng Chính giác (anuttara-samyak sambodhi), đã có tín tâm, có nhẫn thọ, có hâm mộ, có khát khao, có kiến giải, có thực hành, có hỉ, có lạc, có xả, có tinh tiến, có tôn trọng, có thâm tâm, có tịnh tâm, không buông trôi, không tán loạn. Tuy có đủ các công đức đó Bồ tát vẫn không thể đạt tới Nhất thiết trí nếu không được hộ niệm bởi Bát nhã và Phương tiện. Bởi vì nhất định sẽ bị thoái chuyển ở giữa đường sự nghiệp. "Giữa đường sự nghiệp" tức là Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. Thoái chuyển tức là lạc mất dấu Nhất thiết trí.

"Lại nữa, như người giữ chặt phao, một khúc gỗ hay một tấm ván khi thuyền bị đắm, y sẽ an toàn sang tới bờ bên kia. Bồ tát cũng vậy, bằng tất cả những công đức do có tín tâm, có nhẫn thọ, v.v..., đối với Vô thượng Chính đẳng Chính giác, được hộ trì bởi Bát nhã và phương tiện; Bồ tát đó sẽ đạt tới Nhất thiết trí mà không bị thoái chuyển giữa đường nơi Thanh văn thừa và Duyên giác thừa".

Cho một thí dụ khác: Giả sử có một người 120 tuổi; vì bị đủ mọi thứ bịnh hoạn bức bách, nên nằm yên trên giường mà nhẫn nại chịu đựng đau đớn; y không cách nào mộng tưởng được rằng có thể đứng dậy và đi chừng vài dặm thôi, chứ đừng nói đến chuyện đi dài hơn. Bỗng có hai người lực lưỡng đến đỡ y dậy, dìu y đi đến bất cứ nơi nào ưa thích. Y đi theo họ, mặc dù yếu đuối, cuối cùng vẫn có thể đi đến đích.

Cũng như vậy, dù có tín, có nhẫn, v.v... đối với Vô thượng Chính đẳng Chính giác, Bồ tát vẫn không thể sang tới bờ bên kia. Nhất thiết trí, nếu không được hộ trì bởi hai người lực lưỡng, là Bát nhã và Phương tiện; vì đó là những kẻ hộ trì của Bồ tát trong quá trình hành đạo hướng đến đích của đời sống mình; nếu không có chúng, nhất định Bồ tát bị lùi lại giữa đường và rơi vào trình độ Thanh văn và Duyên giác. Tại sao? Vì đó là như thực tính của vạn hữu”.(1)

Thích nghĩa cho phần chú giải của Đoạn hai, này:

(1). Các dẫn chứng này của Thiền sư D.T. Suzuki rút ra từ phẩm “Các Dụ” quyển 312, ĐBN hay phẩm “Thí Dụ” quyển 548 của Tiểu Bản Bát Nhã (TBBN) do Ngài Huyền Trang dịchmà chúng ta đã có dịp đọc tụng rồi.Điểm đáng lưu ý ở đây là “tự thân của Bát nhã thì không thể thành tựu một kết quả thực tiễn nào, nó hoạt dụng ngang qua Phương tiện sinh ra từĐại bi”mà Đại bi thì phát sinh từ Bát nhã. Học Bát Nhã Ba-la-mật thì có tất cả.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn