Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phẩm "Tương Ưng"

29/04/202012:15(Xem: 212)
Phẩm "Tương Ưng"

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***
buddha_227

PHẨM "TƯƠNG ƯNG(1)"

Phần sau quyển 04 cho đến phần đầu quyển 07, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với quyển thứ 01, phẩm “Tu Tập Đúng”, MHBNBLM)

 

Tóm lược:

 

Để mở đầu cho phẩm này, Xá Lợi Tử bạch Phật: “Thế nào đại Bồ Tát tu tập đúng và tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật?”

Phật bảo cụ thọ Xá Lợi Tử: “Đại Bồ Tát tu tập đúng sắc không, tu tập đúng thọ, tưởng, hành, thức không, đây gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật”.(2)

Phật bảo cụ thọ Xá Lợi Tử:Không những tu tập ngũ uẩn không; mà cả xứ giới không; tứ đế, mười hai nhân duyên, lục Ba la mật không; mười tám pháp không; ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp bất cộng không; Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao đều không, thì coi là tu tập đúng và tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật. Vì sao? Vì trong sắc không chẳng có sắc, trong thọ không, tưởng không, hành không, thức không chẳng có thọ, tưởng, hành, thức, trong xứ giới, tứ đế, mười hai nhân duyên v.v…cho đến quả vị Giác ngộ cũng như thế.Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật!

Phật tiếp tục dạy:

-Này Xá Lợi Tử! Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, do khi cùng tương ưng với những cái không như vậy, chẳng thấy sắc hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy, chẳng thấy sắc, là pháp sanh hoặc là pháp diệt; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức, là pháp sanh hoặc là pháp diệt; chẳng thấy sắc là pháp nhiễm hoặc là pháp tịnh; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức là pháp nhiễm, hoặc là pháp tịnh. Đại Bồ tát ấy, chẳng thấy sắc hợp với thọ, chẳng thấy thọ hợp với tưởng, chẳng thấy tưởng hợp với hành, chẳng thấy hành hợp với thức. Vì sao? Không có một pháp nhỏ nhiệm nào hợp với một pháp nhỏ nhiệm nào, vì bản tánh là không, rỗng không. Vì sao? Vì cái không của sắc, nó chẳng phải là sắc; các cái không của thọ, tưởng, hành, thức, chẳng phải là thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì sắc rỗng không nên không có tướng não hoại, vì thọ rỗng không nên không có tướng thọ, vì tưởng rỗng không nên không có tướng biết, vì hành rỗng không nên không có tướng tạo tác, vì thức rỗng không nên không có tướng tri giác. Tại sao? Vì sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức chẳng khác không, không chẳng khác thọ, tưởng, hành, thức; thọ, tưởng, hành, thức tức là không, không tức là thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì tướng không của các pháp ấy chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhiễm, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng giảm, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại. (Q.04, ĐBN)

- Này Xá Lợi Tử! Như vậy, trong cái không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có xứ giới, không có mười hai nhân duyên, không có tứ đế; không có đắc, không có hiện quán; không có Dự lưu, không có quả Dự lưu, không có Nhất lai, không có quả Nhất lai, không có Bất hoàn, không có quả Bất hoàn, không có A la hán, không có quả A la hán, không có Độc giác, không có quả vị Độc giác, không có Bồ tát, không có Bồ tát hạnh, không có Phật, không có quả vị Phật.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Phật tiếp tục:

- Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với sắc. Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức. Chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với mười hai xứ,mười tám giới; chẳng thấy tương ưng hoặc chẳng tương ưng thập nhị nhân duyên, lục Ba la mật, mười tám pháp không; chẳng thấy tương ưng hoặc chẳng tương ưng với chơn như, chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh không đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế…; chẳng thấy tương ưng hoặc chẳng tương ưng với tứ đế, 37 pháp trợ đạo, tam giải thoát môn, các Đà la ni, Tam ma địa; Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí… cho đến chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng với tất cả Bồ tát hạnh, quả vị Giác ngộ tối cao của chư Phật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng giữa cái không với cái không, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng giữa cái vô tướng với cái vô tướng, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng giữa cái vô nguyện với cái vô nguyện. Vì sao? Vì không, vô tướng, vô nguyện đều chẳng thấy tương ưng, hoặc chẳng tương ưng.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, đã thể nhập cái không tự tướng của tất cả pháp rồi, thì chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng của sắc, chẳng quán sự tương ưng, chẳng tương ưng của thọ, tưởng, hành, thức; chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa ngũ uẩn với đời trước, đời sau hay hiện tại hoặc chẳng quán sự tương ưng giữa các đời: Trước, sau và hiện tại. Vì  ba đời đều không!

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với sắc. Vì sao? Vì sắc còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với sắc. Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì thọ, tưởng, hành, thức còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với thọ, tưởng, hành, thức. Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với mười hai xứ,mười tám giới. Vì mười hai xứ,mười tám giới chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với mười hai xứ,mười tám giới. Cũng như vậy, các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với tất cả pháp Phật. Vì sao? Vì tất cả pháp Phật còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với tất cả pháp Phật.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với Phật. Vì sao? Vì Phật còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với Phật. Chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với Bồ đề. Vì sao? Vì Bồ đề còn chẳng thấy có, huống là quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Nhất thiết trí trí với Bồ đề. Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, cũng chẳng quán sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng giữa Phật hay Bồ đề với Nhất thiết trí trí. Vì sao? Vì Nhất thiết trí trí tức là Phật hay Bồ đề, Phật hay Bồ đề tức là Nhất thiết trí trí.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng đắm vào cái có hay chẳng phải có của sắc, chẳng đắm vào cái có hay chẳng phải có của thọ, tưởng, hành, thức; chẳng đắm vào cái thường hay vô thường, vui hay khổ, ngã hay vô ngã, tịch tịnh hay chẳng tịch tịnh của sắc thọ tưởng hành thức; chẳng đắm vào cái không, chẳng không; chẳng đắm vào cái vô tướng hay hữu tướng; chẳng đắm vào cái vô nguyện hay hữu nguyện của ngũ uẩn. Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, chẳng đắm vào cái có hay chẳng phải có của mười hai xứ,mười tám giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, tứ đế, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao; chẳng đắm vào cái thường hay vô thường, vui hay khổ, ngã hay vô ngã, tịch tịnh hay chẳng tịch tịnh của tất cả pháp trên; chẳng đắm vào cái không, chẳng không; chẳng đắm vào cái vô tướng hay hữu tướng; chẳng đắm vào cái vô nguyện hay hữu nguyện của tất cả pháp Phật nói chung.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta hành Bát Nhã; ta chẳng hành Bát Nhã; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta cũng hành, cũng không hành, ta chẳng phải hành, chẳng phải chẳng hành Bát Nhã.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, chẳng vì bố thí, mà tu hành Bát Nhã; chẳng vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát Nhã, mà tu hành Bát Nhã; các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, chẳng vì mười tám pháp không, chẳng vì chơn như, pháp giới, pháp tánh, pháp định, pháp trụ, thực tế… mà tu hành Bát Nhã; các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, chẳng vì tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng, mà tu hành Bát Nhã; chẳng vì chứng nhập Chánh tánh, xa lìa sanh tử, mà tu hành Bát Nhã; chẳng vì chứng đắc bậc Bất thối chuyển, chứng Nhất thiết trí trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao mà tu hành Bát Nhã; chẳng vì thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, quay xe diệu pháp mà tu hành Bát Nhã. Vì sao? Vì các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng thấy sự sai biệt của các pháp tánh.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, vì cùng tương ưng với  Bát Nhã như vậy, nên có thể khéo an lập vô lượng, vô số, vô biên hữu tình, ở cảnh giới Vô dư y Niết bàn, tất cả ác ma không tùy tiện được, tất cả phiền não đều được phục diệt, các việc trong đời, tùy theo ý muốn. Tất cả các Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các chúng đại Bồ tát, ở vô số thế giới trong mười phương đều cùng hộ niệm, khiến chẳng thối đọa xuống bậc Thanh văn, Độc giác. Các chúng trời cõi Dục, cõi Sắc, tất cả Thanh văn, Độc giác trong vô số thế giới mười phương đều cùng ủng hộ, bảo vệ Bồ tát, khiến mọi việc làm không bị trở ngại, tật bệnh, lo phiền của thân tâm đều được thuyên giảm tiêu trừ; dù có nghiệp, phải chịu khổ báo ở đời sau cũng chuyển nặng thành nhẹ.

Này Xá Lợi Tử! Đại Bồ tát ấy, tu hành Bát Nhã, nhờ sức oai thần, nên dùng ít gia hạnh(3), mà có thể dẫn phát(4) một cách tối thắng các pháp môn Đà la ni, Tam ma địa, khiến mau hiện khởi; tùy theo nơi sanh, thường được phụng sự tất cả Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, cho đến khi chứng được quả vị Giác ngộ tối cao, ở khoảng giữa ấy, thường chẳng xa Phật.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Có sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng, bình đẳng hoặc chẳng bình đẳng, giữa pháp với  pháp. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy, chẳng thấy có sự tương ưng, hoặc chẳng tương ưng, bình đẳng hoặc chẳng bình đẳng giữa pháp với  pháp.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Đối với  pháp giới, ta mau hiện Đẳng giác, hoặc chẳng mau hiện Đẳng giác(5). Vì sao? Vì đối với  pháp giới, đại Bồ tát ấy, chẳng thấy có một pháp nhỏ nhiệm nào có thể hiện Đẳng giác.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, chẳng thấy có một pháp nào lìa pháp giới, chẳng thấy có pháp giới lìa các pháp mà có, cũng chẳng thấy các pháp tức là pháp giới, chẳng thấy pháp giới tức là các pháp. Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Pháp giới có thể làm nhân duyên cho các pháp; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Các pháp chẳng thể làm nhân duyên cho pháp giới; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Pháp này có thể chứng pháp giới, pháp này chẳng có thể chứng pháp giới. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy, pháp còn chẳng thấy có, huống là thấy có pháp có thể chứng pháp giới, hoặc chẳng có thể chứng.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật.

 

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, chẳng thấy sự tương ưng giữa sắc với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với sắc; chẳng thấy sự tương ưng giữa thọ, tưởng, hành, thức với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  thọ, tưởng, hành, thức. Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, chẳng thấy sự tươngưng giữa mười hai xứ với  không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với  mười hai xứ; chẳng thấy sự tương ưng giữa mười tám giới với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với mười tám giới. Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, chẳng thấy sự tương ưng giữa mười hai nhân duyên với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với mười hai nhân duyên; chẳng thấy sự tương ưng giữa lục Ba la mật với không, cũng chẳng thấy sự tương ưng giữa không với lục Ba la mật, mười tám pháp không, chơn như, pháp giới, pháp tánh, định pháp, trụ pháp, thật tế v.v… Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, chẳng thấy sự tương ưng giữa tất cả pháp Phật từ tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí…, cho đến quả vị Giác ngộ tốithượngcũng lại như thế.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, trong các tương ưng, tương ưng với Bát Nhã là cao tột, tối tôn, tối thắng, tối thượng, tối diệu, vô thượng, vô thượng thượng, vô đẳng, vô đẳng đẳng. Vì sao?  Vì sự tương ưng với Bát Nhã là cao tột, tức là tương ưng với  không, tức là tương ưng với  vô tướng, tức là tương ưng với  vô nguyện. Do nhân duyên này, nên được coi là cao tột nhất.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, khi cùng tương ưng với Bát Nhã như vậy, thì biết ngay là được thọ ký, hoặc gần được thọ ký làm Phật. Đại Bồ tát ấy, do sự tương ưng này, có thể làm việc lợi ích lớn cho vô lượng, vô số, vô biên hữu tình.

Này Xá Lợi Tử! Đại Bồ tát ấy, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta cùng tương ưng với Bát Nhã; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta sẽ được thọ ký làm Phật, hoặc gần được thọ ký; Ta có thể nghiêm tịnh cõi Phật; Ta có thể thành thục hữu tình, Ta sẽ chứng được điều mong cầu là quả vị Giác ngộ tối cao, chuyển bánh xe pháp mầu nhiệm, độ vô lượng hữu tình. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy, chẳng thấy có pháp lìa pháp giới, chẳng thấy pháp giới lìa các pháp; chẳng thấy các pháp tức là pháp giới, chẳng thấy pháp giới tức là các pháp; chẳng thấy có pháp tu hành Bát Nhã, chẳng thấy có pháp được Phật thọ ký, chẳng thấy có pháp sẽ chứng được quả vị Giác ngộ tối cao, chẳng thấy có pháp nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thấy có pháp thành thục hữu tình. Vì sao? Vì các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, chẳng khởitưởng ngã, tưởng hữu tình, tưởng dòng sinh mạng, tưởng sự sanh, tưởng sự dưỡng, tưởng sự trưởng thành, tưởng chủ thể luân hồi... cho đến cái thấy cái biết. Vì sao? Vì ngã, hữu tình v.v… rốt ráo đều chẳng sanh, lại cũng chẳng diệt. Những thứ ấy rốt ráo, chẳng sanh chẳng diệt, thì vì sao cần phải tu hành Bát Nhã, và được các thứ công đức lợi ích thù thắng? Đại Bồ tát ấy, vì chẳng thấy sự sanh của hữu tình, nên tu hành Bát Nhã; chẳng thấy sự diệt của hữu tình, nên tu hành Bát Nhã; vì biết cái không của các hữu tình, nên tu hành Bát Nhã; vì biết cái chẳng phải ngã của các hữu tình, nên tu hành Bát Nhã; vì biết cái không thể nắm bắt được của các hữu tình, nên tu hành Bát Nhã; vì biết sự xa lìa của các hữu tình, nên tu hành Bát Nhã; vì biết bản tánh của các hữu tình chẳng phải là hữu tình, nên tu hành Bát Nhã.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, trong các tương ưng,  tương ưng với không là cao tột, tương ưng với Bát Nhã là tối tôn, tối thắng, không có gì sánh kịp. (Q.06, ĐBN)

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát, vì sự tương ưng như vậy, nên phát huy rộng lớn khả năng dẫn phát mười lực của Như Lai, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; ba mươi hai tướng đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp kèm theo; pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí và vô lượng, vô biên, pháp Phật khác.

Này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát, tu hành Bát Nhã, vì cùng tương ưng với Bát Nhã như vậy, nên rốt ráo chẳng khởi các tâm chướng ngại là xan tham, phạm giới, giận hờn, lười biếng, tán loạn, ác tuệ. Bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật tự nhiên hiện tiền, không gián đoạn. (Q.06, ĐBN)

 

Thích nghĩa:

(1). Tương ưng: Ưng thuận với nhau hay hợp với nhau. Do Tâm, Tâm sở và sở y, sở duyên... cùng khởi lên một lượt và hòa hợp với nhau thì gọi là tương ưng hay tương ứng. Kinh nói “Đại Bồ Tát tu tập đúng sắc không, tu tập đúng thọ, tưởng, hành, thức không, đây gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật”. Khi tâm thấy ngũ uẩn đều không thì gọi là tương ưng hay tương ứng với Bát Nhã, vì Bát Nhã là không, là vô tánh, là vô tướng, vô tác.

(2). Đây là vấn đáp giữa Xá Lợi Tử và Phật mở đầu phẩm “Tu Tập Đúng” của MHBNBLM do Ngài La Thập dịch, vì gọn và dễ hiểu nên được ghi vào đây.

(3). Gia hạnh: Gia công dụng hạnh.

(4). Dẫn phát:Đưa đến, dẫn đến, đem lại.

(5). Đẳng giác:I- Đẳng Giác: Cũng gọi Đẳng chính giác. Một trong 10 tôn hiệu của Phật. Đẳng giác nghĩa là sự giác ngộ chân chính bình đẳng, tức giác ngộ chân lý hoàn toàn. Chỉ cho sự giác ngộ của chư Phật. II- Đẳng Giác: Cũng gọi Đẳng chính giác, Hữu thượng sĩ, Nhất sinh bổ xứ, Kim cương tâm, Lân cực. Về nội dung thì đã ngang bằng với Phật, nhưng về mặt tu hành thực tế thì còn kém Phật một bậc, gọi là Đẳng giác. Trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát, Đẳng giác ở giai vị thứ 51, trong 6 chủng tính thì thuộc chủng tính thứ 5. Đây là giai vị tu hành cùng tột của Bồ tát. Bồ tát Đẳng giác khi chưa thành Phật, còn ở địa vị phàm phu y theo chân lý mà tu hành, thì gọi là Nhập trùng huyền môn. III- Đẳng giác: Giai vị ngang hàng với Đẳng giác kim cương tâm (tâm kim cương của Bồ tát Đẳng giác) của Bồ tát Di lặc. Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng người có tín tâm đối với tha lực chắc chắn được vãng sinh thành Phật, cho nên so sánh tín tâm này với Đẳng giác kim cương tâm của Bồ tát Di lặc, mà gọi là Hoành siêu kim cương tâm, đồng thời, cho rằng ngay trong đời hiện tại cũng có thể lên ngôi Đẳng giác ngang hàng với Bồ tát Di lặc. (Tóm lược Từ điển Phật Quang)

 

Lược giải:

 

Xá Lợi Tử bạch Phật: "Thế nào đại Bồ Tát tu tập đúng và tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật?"

Phật bảo cụ thọ Xá Lợi Tử: "Đại Bồ Tát tu tập đúng sắc không, tu tập đúng thọ, tưởng, hành, thức không, đây gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật". Không những tu tập ngũ uẩn không, mà cả xứ giới và tất cả pháp Phật đều không thì coi là tu tập đúng và tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật. "Vì sao? Vì trong sắc không chẳng có sắc; trong thọ không, tưởng không, hành không, thức không chẳng có thọ, tưởng, hành, thức. "Vì sắc rỗng không nên không có tướng não hoại, vì thọ rỗng không nên không có tướng thọ, vì tưởng rỗng không nên không có tướng biết, vì hành rỗng không nên không có tướng tạo tác, vì thức rỗng không nên không có tướng tri giác. Tại sao vậy? Vì chẳng phải sắc khác với không, cũng chẳng phải không khác với sắc, mà sắc chính là không và không chính là sắc; thọ, tưởng, hành, thức chính là không và không chính là thọ, tưởng, hành, thức.

Tướng rỗng không của các pháp vốn chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng giảm, chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì thế nên trong pháp không ấy không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, nhẫn đến không có ý thức giới, không có vô minh cũng không có vô minh tận, nhẫn đến không có lão tử, cũng không có lão tử tận, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí cũng không có đắc, không có Tu Đà Hoàn và quả Tu Đà Hoàn, không có Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán và Phật, cũng không có quả Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, quả Bích Chi Phật và quả Phật.

Đại Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã Ba-la-mật".

Khi đọc đoạn kinh trên, ai cũng đều liên tưởng đến “Tâm Kinh Bát Nhã Ba-la-mật Đa”.Tâm kinh viết rằng: “Bồ tát Quán Tư Tại hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết khổ ách. Nên bảo Xá lợi Phất rằng: “Này Xá lợi Phất! Sắc ở đây là không, không là sắc; sắc không khác không, không không khác sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế.

Này Xá lợi Phất, hết thảy các pháp ở đây được biểu thị là không: Chúng không sinh, không diệt, không nhơ không sạch, không tăng, không giảm. Vì vậy, này Xá Lợi Phất, trong không không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến ý thức giới; không vô minh cũng không hết vô minh cho đến không già chết cũng không hết già; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí tuệ cũng không có chứng đắc. Bởi vì không có chứng đắc, trong tâm của Bồ tát an trụ trên Bát Nhã Ba-la-mật đa không có những chuớng ngại; và bởi vì không có chướng ngại nên không có sợ hãi, và vượt ngoài những tà kiến điên đảo đạt đến Niết bàn. Hết thảy chư Phật trong ba đời y Bát Nhã Ba-la-mật, mà chứng đắc giác ngộ viên mãn tối thượng”.(1)

Phải chăng sự thực hành Bát Nhã Ba-la-mật được mệnh danh là “Không”, chẳng qua là một tràng phủ định. Phủ định tất cả hiện hữu của thế gian nầy. Cái phủ định đầu tiên chính là các ngũ uẩn. Điều đó không có gì làm ta phiền hà, vì ngũ uẩn là những cảm thọ và ý thức phân biệt chấp trước thường che đậy tánh giác. Nhưng, căn trần thức giới là phương tiện để sống của con người, thiếu nó thì làm sau tiếp xúc với sinh địa mà sống. Không ai có thể bịt tai, mắt, mũi, miệng… mà có thể sống. Tâm kinh cũng chối từ. Tứ Đế, Thập nhị Nhân duyên được coi là chân lý của hàng Nhị thừa cũng bị phủ nhận, kể cả sự chứng đắc, kết quả của tu trì khổ hạnh cũng bị phủ nhận luôn.

Đồng ý mười hai xứ, mười tám giới tức mắt tai mũi lưỡi thân ý và thức là cái giúp cho con người sống, nhưng chính nó lại "lừa phỉnh" con người mà con người không tự biết. Cảm quan và ý thức không phải là thước đo chính xác của chân lý. Cảm quan và ý thức mở đường cho những nhục cảm, dục vọng và phân biệt chấp trước. Vì cảm quan tạo thành phiền não chướng và ý thức tạo thành sở tri chướng, đôi khi gây đau khổ cho mình và người. Nên không có gì phải ngạc nhiên khi tâm kinh phủ nhận nó. Nhưng, tất cả những kỹ thuật tu trì, chứng đắc tại sao lại cũng khước từ. Vì rằng nếu dựa vào các pháp đó mà mong cầu nắm bắt để chứng quả hay tạo công đức, thì lại gây nên một chướng ngại khác của tâm, tức còn sở đắc thì không khỏi bị trói buộc dưới hình thức này hay hình thức nọ, tâm không còn tự do trong tư duy hay hành động nữa. Chỉ khi nào không còn bị dính mắc trói buộc nữa thì tâm không còn sợ hãi, không điên đảo thì mới có thể vượt qua các tà kiến mà được Niết bàn.

Tâm kinh phủ định tất cả! Nhưng rốt lại, Tâm kinh đưa ra một xác quyết. Cái xác quyết cuối cùng của Tâm kinh là tâm không, khi tâm rỗng không, trong suốt thì không còn sợ hãi, không còn điên đảo mộng tưởng. Vì vậy, sẽ vượt qua mọi trở ngại mà được Niết bàn an vui.

Giáo pháp Tánh Không được nêu ra đầu tiên trong phẩm "Học Quán", bây giờ được xiển dương lần nữa ở phẩm này. Kinh nói: "Không có một pháp nhỏ nhiệm nào hợp với một pháp nhỏ nhiệm nào, vì bản tánh là không, rỗng không". Ngay khi nhận thức bản tánh của các pháp là không, thì ngay đó tâm hành dứt, không còn nghĩ tưởng so đo phân biệt tánh tướng, thể dụng, đẹp xấu, nhiễm tịnh gì nữa. Tâm sẽ được rỗng không trong suốt. Đó là giây phút khế hợp (hay chứng nhập) Bát Nhã. Vì sao? Vì Bát Nhã là không, là vô tướng, vô tác. Đó là hành môn của Bát Nhã và nếu hành được như vậy thì sẽ bước qua được cổng giải thoát gọi là giải thoát môn không, vô tướng, vô tác.

 

Thiền sư D.T. Suzuki viết:“Không (sùnya) hay “tánh không” (sùnayatà) là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong triết lý đại thừa và đồng thời cũng gây nhiều rắc rối khó hiểu nhất cho những độc giả ngoài đạo Phật. Tánh Không không có nghĩa là “thực tại tính hay hiện trung tính”, hay “cái không chi”. Nó chỉ cho cái tuyệt đối, hay bản tính siêu việt, nói thế cũng lại là một sai lầm như chúng ta sẽ thấy ở sau. Khi các nhà Phật học tuyên bố hết thảy mọi vật đều không, họ không binh vực một quan điểm hư vô luận; ngược lại nó ám chỉ một thực tại tối hậu, không thể đặt dưới các phạm trù luận lý. Với các phạm trù đó, nếu nói đến tính cách hữu vi của vạn hữu thì cũng phải nói luôn sự hiện hữu của cái hoàn toàn vô vi siêu việt tất cả mọi xác định. Sùntà như thế thông thường cũng được diễn dịch rất chính xác là Tuyệt đối thể. Khi kinh nói rằng năm uẩn mang bản sắc không (không tướng) hay trong cái không, không có sinh và diệt, không có nhiễm, tịnh v.v... thì có nghĩa rằng: Đừng có gán cho Tuyệt đối thể những phẩm tính quyết định; nó nội tại trong tất cả mọi vật thể cụ thể và cá biệt, nó hoàn toàn không có định tính. Do đó, phủ định toàn diện trong triết lý Bát Nhã là một hậu quả tất yếu”.

Phân tích trên rất đúng, tuy nhiên có tánh cách bác học. Bát Nhã không nằm trong hư vô luân. Bát Nhã là sự chứng ngộ: Thấy liền thấy, đó là trực giác thực chứng hay còn gọi là Thánh trí tự giác, không qua trung gian của bấc cứ thứ lý luận nào!

 

Kết luận chung:

(cho phẩm “Duyên Khởi”, “ Học Quán” và “Tương Ưng”).

 

Phẩm “Duyên Khởi” đại cương nói: Muốn giác ngộ, muốn trở thành Vô thượng Chánh giác, muốn được Nhất thiết trí thì phải học tất cả các thiện pháp, hay nói khác là phải học Bát Nhã vì tất cả pháp Phật, các pháp thiện pháp, các pháp hy hữu, tư lương Bồ đề Bồ tát hay Bồ tát đạo đều nhiếp thọ vào Bát Nhã Ba-la-mật. Học Bát Nhã nhưng phải trụ trong không tức là trụ ở chỗ vô trụ, vô đắc, vô xả, vô hộ, vô thủ,vô cần, vô tư, vô trước…làm phương tiện! Phẩm “Học Quán”, đưa ra ý niệm: Tất cả là giả danh, duyên hợp giả có đương thể tất không hay các pháp không có tự tánh nên gọi là không, chứ chẳng phải do không có mà không. Cuối cùng phẩm “Tu Tương Ưng” phủ nhận tất cả: Các pháp là không, ngũ uẩn không, mười hai xứ không, mười tám  giới không, mười hai nhân duyên không, tứ đế không và cũng không có trí tuệ hay chứng đắc. Chính cái phủ nhận này lại đưa đến một xác quyết quan trọng là nhờ cái “tâm không” mà không còn điên đảo mộng tưởng, thì đâu đâu cũng tràn đầy ánh sáng giác ngộ.

Ngay phần đầu với ba phẩm nói trên, một bố cục vi diệu như vậy, nếu hiểu và tu thì cũng giống như đức Quán Âm nói "Hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật đa, thấy năm uẩn đều không liền qua hết mọi khổ ách". Vì thấy "không" nên được trí không thảy(2), trí vô ngại, trí vô phân biệt, trí vô trước v.v... Còn chúng sanh lúc nào cũng thấy "có" nên bị trở ngại, không thoát khỏi sanh tử luân hồi, chịu biết bao khổ lụy!

Thích nghĩa cho phần lược giải này:

(1). Có hai bản kinh cùng nhan đề là Hridaya (Tâm kinh): Một bản được gọi là Lược bản, và bản khác được gọi là Quảng bản. Bản dịch ở trên thuộc Lược bản, thông dụng ở Trung Hoa và Nhật bản. Chúng tôi trích dẫn lại từ Thiền Luận III của Thiền sư D.T. Suzuki, trang 222.

(2). Trí không thảy (còn gọi là trí không): Được ghi trong phẩm "Các Tướng Công Đức" quyển 380, Hội thứ I, ĐBN, Ngài Huyền Trang dịch:

"Lại nữa, Thiện Hiện! Thánh pháp của Đại Bồ tát là trí quả Dự lưu, trí quả Nhất lai, trí quả Bất hoàn, trí quả A la hán, trí quả vị Độc giác, trí quả vị Giác ngộ tối cao của chư Phật; trí bốn niệm trụ, trí bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo; trí pháp môn giải thoát không, trí pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện; trí bốn tịnh lự, trí bốn vô lượng, bốn định vô sắc; trí tám giải thoát, trí tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ; trí bố thí Ba la mật, trí tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba la mật; trí tất cả pháp môn Đà la ni, trí tất cả pháp môn Tam ma địa; trí Thánh đế khổ, trí Thánh đế tập, diệt, đạo; trí pháp không nội, trí pháp không ngoại, pháp không nội ngoại, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh; trí chơn như, trí pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì; trí mười địa Bồ tát; trí năm loại mắt, trí sáu phép thần thông; trí mười lực Như Lai, trí bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; trí pháp không quên mất, trí tánh luôn luôn xả; trí Nhất thiết trí, trí Đạo tướng trí, trí Nhất thiết tướng trí và tất cả trí pháp thế gian và xuất thế gian khác; trí pháp hữu lậu, vô lậu; trí pháp hữu vi, vô vi".

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn