Tuyển tập 140

20/09/201214:06(Xem: 18146)
Tuyển tập 140

TUYỂN TẬP THƠ MẶC GIANG

Tuyển tập 10 bài Số 140 - thơMặc Giang

(Từ bài số 1391 đến số 1400)

[email protected]

01.Tìm một bóng hình

02.Tìm em từ thuở ban sơ

03.Ta đi tìm em

04.Nước Non Nhà

05.Non nước hữu tình

06.Nước Việt dấu yêu

07.Ấm lạnh tình quê

08.Quyền thiêng liêng tối thượng

09.Bảo tồn sông núi

10.Dư đồ Tổ Quốc

Tìm một bóng hình

Tìmem từ thuở còn xanh

Thờigian mòn mỏi treo cành tầm không

Tìmem lên núi xuống non

Xuốngsông xuống biển xuống hòn đảo xa

Thángngày lần lữa đi qua

Đêmđêm thức giấc canh gà chìm sâu

Tìmem điểm trắng mái đầu

Cuốisông nước chảy bên cầu sóng xô

Vôtình em hiện trong mơ

Bỗngchoàng thức dậy vật vờ bóng đêm

Bậtlên ánh sáng dõi đèn

Vénrèm lồng lộng bức màn vô thinh

Nhìnra trông bóng ngỡ mình

Nhưngkhông, đây chỉ là hình của ta

Tìmem lặn lội gần xa

Tìmtrong khắp cõi Ta bà hư hao

Chota tìm thấy đi nào

Trinhnguyên cũng vậy ra sao cũng đành

Dùcho trâm ngọc tinh anh

Hayxây xát đá hay xanh cỏ vàng

Dùcho diễm lệ thiên trang

Haykhô khốc cháy hay tàn bụi tro

Tươnggiao từ thuở ban sơ

Khônlanh cũng thế dại khờ có chi

Thế mà cho đến hôm ni

Em đâu chẳng thấy cớ gì hỡ em !

Tháng4 – 2010

Tìm em từ thuở ban sơ

Tìmem từ thuở ban sơ

Cớchi từ đó đến giờ

Emvẫn lặng thinh ẩn mặt

Mìnhta một cõi trơ vơ

Tìmem từ thuở ban sơ

Cớchi em lại hững hờ

Khôngkhi nào cho thấy mặt

Vôtình lại hiện trong mơ

Chừngnhư em chẳng xa ta

Điđâu cũng thế thôi mà

Dùcho khi ngủ khi thức

Nhưngtìm thì kiếm không ra

“Hữuduyên thiên lý tương ngộ

Vôduyên đối diện bất phùng”

Thìthà không phải tri kỷ

Nhưngsao ta lại tri âm

Tavui em cũng chẳng mừng

Tabuồn em cũng chẳng chia

Duyênchi vô tình quá nhẽ

Vôduyên sao lại chẳng lìa

Bảorằng tiền khiên oan trái

Đẳngđeo duyên nợ trả vay

Nói đi ta xin được trả

Cũngkhông lên tiếng mảy may

Cớ sao ta lại tìm em

Không tên mà biết đâu tìm

Diện mạo ra sao chẳng thấy

Nhưng ta không lúc nào yên

Tìm khi từ ta có mặt

Lanman cho đến bây giờ

Emvẫn không hình không bóng

Tatìm từ thưở ban sơ.

Tháng4 – 2010

Ta đi tìm em

Tađi tìm em

Ngườiem không tên

Khôngbóng không hình

Nhưnglại không quên

Tađi tìm em

Ngườiem không tên

Chưatừng gặp mặt

Diệnmục vô hình

Tađi tìm em

Vếtcũ lối mòn

Đồngxanh cỏ nội

Emvẫn biệt tăm

Núicao rừng thẳm

Biểnrộng sông sâu

Vạnhữu tinh cầu

Emở nơi đâu

Làngquê phố thị

Ghếđá công viên

SôngHậu Sông Tiền

Emhỡi thuyền quyên

TrườngTiền mấy nhịp

Đóvắng bóng người

Gócbiển chân trời

Emhỡi chơi vơi

Tađi tìm em

Trênkhắp mọi miền

Ngàydài đêm ngắn

Khôngthuở nào quên

Tađi tìm em

Ngườiem không tên

Khôngbóng không hình

Trùngtrùng vạn hữu

Tagọi tên em.

Tháng 3 – 2010

Nước Non Nhà

Nước non là nước non nhà

Nhà là của nước, nước là của dân

Trên thời ngước mặt cao ngần

Dưới thời đạp đất bước chân kiêu hùng

« Bầu ơi thương lấy Bí cùng »

Ba miền đất nước đều chung một giàn

Ngẩng đầu dõng dạc dọc ngang

Nam nhi nữ kiệt vẻ vang giống nòi

Nước non là nước non nhà

Nhà là của nước, nước là của dân

Nắng mưa dội ngược phong trần

Bền gan vững chí như thần mà đi

Trongthời dung thứ từ bi

Ngoàithời đối biện kiêu kỳ ngán ai

Chunglưng đấu cật kề vai

Thắmtô bồi đắp gia tài Việt Nam

Nước non là nước non nhà

Nhà là của nước, nước là của dân

Tin yêu bảo bọc ân cần

Anh em như thể thương thân khác gì

Lo từ việc nhỏ tí ti

Cho tới việc lớn, cũng vì chớ sao

Cùngchung một giọt máu đào

Sanghèn tài trí thấp cao không màng

Cùngchung dòng giống da vàng

Cùngchung Dân tộc huy hoàng Việt Nam

Nước non là nước non nhà

Nhà là của nước, nước là của dân

Nước non là nước non mình

Non là của nước, nước mình quang vinh.

Tháng 4 – 2010

Non nước hữu tình

Quê hương non nước hữu tình

Đi đâu cũng nhớ như mình với ta

Quê hương non nước kiêu sa

Đi đâu cũng nhớ cửa nhà Việt Nam

Quê hương sắc chạm lên chàm

Kết nên sử tích danh lam tuyệt vời

Quê hương nước Việt nơi nơi

Đi đâu cũng thấy vạn lời mến yêu

Yêu như bắc nhịp cầu kiều

Yêu như chỉ thắm tơ điều vắt vai

Yêu như giấc mộng trang đài

Yêu như biển rộng sông dài thân thương

Chân đi từng bước trên đường

Vẳng nghe tình tự vương vương dấu hài

Chân đi từng bước một hai

Vẳng nghe dấu ngọc hoa cài tinh anh

Nào em nào chị nào anh

Nắmtay xây đắp trong lành Việt Nam

Đầyvườn có quít cùng cam

Cóbầu có bí chứa chan một nhà

Dừngchân bắt nhịp câu ca

Bỗngtrầm uốn khúc mặn mà tình quê

Điđâu cũng nhớ nhau về

Ởđâu cũng vẹn ước thề sắt son

Tình rằng, nước nước non non

Quê hương sông núi đá mòn không phai

Ba Miền, vốn một không hai

Không ba không bốn phương đài điểm tô

Tình rằng, suối lạch ao hồ

Sông dài biển rộng cơ đồ mến thương

Đâu đâu cũng một quê hương

Dù đi vạn nẻo mọi đường Việt Nam.

Tháng 4 – 2010

Nước Việt dấu yêu

Ta yêu tổ quốc sơn hà

Non sông gấm vóc của nhà Việt Nam

Ta yêu thắng cảnh danh lam

Giangsan cẩm tú tâm đoan sử vàng

Ta yêu từ Ải Nam Quan

Xuống sông ra biển băng ngàn Cà Mau

Ta yêu non nước một màu

Bắc Nam Trung quyện con tàu quê hương

Ta yêu khắp phố khắp phường

Xuyên qua đồng nội xuyên đường cái quan

Ta yêu khắp xóm khắp làng

Xinh xinh trúc biếc hàng hàng tre xanh

Ta yêu đồi dốc thác ghềnh

Núi cao đèo cả thênh thênh đất trời

Ta yêu nước Việt muôn đời

Ngàn năm văn hiến giống nòi Rồng Tiên

Ta yêu non nước Ba Miền

Tổ Tiên con cháu hồn thiêng kiêu hùng

Ta yêu nước Việt của chung

Truyền trao gìn giữ vô cùng mà thôi

Ta yêu ao lạch sông ngòi

Biển Đông sóng vỗ mặn mòi Trường Sơn

Ta yêu đường cũ lối mòn

Lần trang lịch sử sắt son hiện hình

Ta yêu non nước quê mình

Gừng cay muối mặn nặng tình keo sơn

Ta yêu biển mộng, ôm hòn

Thùy dương vọng ước, ôm cồn ven sông

Ta yêu ruộng lúa xanh đồng

Tươi non lá mạ đượm giồng ngô khoai

Quê hương tổ quốc ta ơi

Ta yêu mãi mãi muôn đời Việt Nam.

Tháng 4 – 2010

Ấm lạnh Tình Quê

Quê tôi nho nhỏ Miền Trung

Người đông đất hẹp chập chùng núi non

Đất cày sỏi đá hao mòn

Đồng khô cỏ cháy héo hon ngõ về

Quê tôi trĩu nặng tình quê

Dù kham khổ mấy cận kề có nhau

Thương như mùi trắng hoa cau

Mùi thanh hoa bưởi hoa ngâu cúc vàng

Quê tôi bốn xóm một làng

Có tre mấy lũy có hàng trúc xanh

Cócon sông nhỏ trong lành

Mưathành lũ lụt nắng thành đồng khô

Quêtôi hòa quyện bốn mùa

Xuânthu đông hạ gió lùa lại qua

Dânlàng vui sống mặn mà

Sẻchia ấm lạnh nhà nhà thân thương

Quêtôi tình nặng vấn vương

Chiachung lối nhỏ cạnh đường cái quan

Xemnhau thân thiện họ hàng

Thểnhư khoai sắn khoai lang một vườn

Quêtôi tôi nhớ tôi thương

Nhưđồng nhớ lúa như nương nắng chiều

Tìnhquê đâu nói chi nhiều

Chỉhong bếp lửa nâng niu trong lòng

Tìnhquê đâu nói long bong

Chỉôm ấm lạnh trong lòng mà thôi.

Tháng4 – 2010

Quyền thiêng liêng tối thượng

Trờiđất rộng sao thu mình ốc đảo

Dântộc hùng sao thúc thủ bó tay

Muốikia còn mặn, gừng kia còn cay

Aichịu được nhục nhằn đày đất mẹ

Trờiđất rộng sao thu mình ngõ hẹp

Dântộc hùng sao tắt nghẽn lối đi

Quốchồn xúc phạm, quốc túy suy vi

Mọingười dân đều có quyền lên tiếng

Thuởlập quốc, Tổ Tiên vừa xây dựng

HọHồng Bàng, mười tám đời Hùng Vương

Giặcphía Nam,giặc phía Bắc nhiễu nhương

Vẫnan định gần ba mươi thế kỷ

ThờiBắc thuộc, một ngàn năm thống trị

BạchĐằng giang, tài dũng lược Ngô Quyền

Đuổiquân thù, chấm dứt mọi ách khiên

Viếttrang sử chống ngoại xâm oanh liệt

Đinh,Lê, Lý, Trần – anh hùng hào kiệt

QuậtBắc phương, mở rộng phía Namphương

LêLợi, Quang Trung kiệt xuất phi thường

QuânHán Tàu biết bao lần khóc rống

Mộttrăm năm, thực dân Tây nuốt hận

Dẹpmộng xâm, tủi hổ phải cuốn cờ

Trangsử ta một lần nữa điểm tô

Vàonước ta, từ bị thương tới chết

Thờihôm nay, chín chục triệu người cùng dõng dạc

Cùngtuyên xưng, bất kỳ ai đụng tới nước non này

Dântộc ta quyết trừng trị thẳng tay

Đừnghống hách, đừng ngang tàn hung bạo

Aitiếp tay, để giữ quyền, uy, danh, lợi

Aitiếp tay, cõng rắn cắn gà nhà

Ainhu nhược, mang hậu họa sơn hà

Quétsạch cả, phường buôn dân bán nước

Khôngcó lý do gì, thu mình ốc đảo

Khôngcó lý do gì, thu mình ngõ hẹp

Tiếng ta ta nói

Nước ta ta giữ

Đất ta ta sống

Đường ta ta đi

Đó là quyền tối thượng

Và là quyền thiêng liêng cao cả.

Tháng4 – 2010

MặcGiang

[email protected]

Bảo tồn sông núi

Sốngxa quê mới thấy tình cố quận

Sốngxa nhà mới đậm nét cố hương

Khôngthiếu gì mà chỉ thiếu tình thương

Khôngmất gì mà chỉ mất tình ruột thịt

Khôngai chia cái con tim đau buốt

Khôngai chia nỗi cay xé tâm hồn

Cùngxa quê mới thấm sự héo hon

Cùngly hương mới thấu đời biệt xứ

Ôngcha ta từng chỉ dạy một chữ

Mộtchữ thôi mà sâu sắc vô bờ

Đánhđổi gì chứ không đánh đổi tình quê

Vàtình quê chẳng có gì bù đắp được

Đãcó quê thì ta phải có nước

Đãcó núi thì ta phải có sông

Nướckia muôn hướng đổ về sông

Nhưng,ta không bao giờ đem đổ nước

Lạinhớ xưa từng dạy

Nướcmất là nhà mất

Nhàmất là ta mất

Nướckhông mất một tấc đất

Thìta không mất một cái gì

Cònnước kia bị biến thái suy vi

Cảdân tộc coi chừng không đất sống

Đừngôm mộng leo lên đồi ảo vọng

Đừngôm mơ thêu dệt giấc chiêm bao

Đừngôm trăng hỏi vớ vẩn ngàn sao

Chẳngkhác gì bọt bèo trôi ra biển

Tấtcả, chỉ nói lên một tiếng

NướcViệt còn là dân tộc còn

NướcViệt mất là dân tộc mất

Bởi,sống mà không chủ quyền chủ đất

Nếukhông nô lệ, thì cũng ngoại thuộc ngoại lai

Mộtngàn năm xưa, thống thiết quá dài

Mộttrăm năm trước, cũng không quá ngắn

Quákhứ, ngậm bồ hòn ngâm trái đắng

Hiệntại, Tàu phù Tàu thực bủa vây

Quốcthể, Quốc hồn xúc phạm xát xây

Taquyết chống để bảo tồn sông núi.

Tháng4 – 2010

Dư đồ Tổ Quốc

Đứng nơi đây, tanhớ về Bản Giốc

Núi chót vót trênnon, địa đầu phương Bắc

Thác vắt vảnhlưng đèo, đổ xuống vực sâu

Núi cả, cây cao,rừng thẳm kê đầu

Vẽ nét ngọc đầutiên bức dư đồ tổ quốc

Ta nhìn dấu mốc

Ghi Ải Nam Quan

Khói lửa thiêngsử tích chưa tàn

Rung tình tự nămngàn năm thuở trước

Đức Hùng Vươngdựng cờ mở nước

Hiệu Văn Langdòng giống Tiên Rồng

Xuôi xuống, tậnđồng bằng sóng vỗ Biển Đông

Ngược lên, chạydài trùng trùng Trường Sơn vách núi

Đây Chi Lăng, kiaBạch Đằng

Đó Đống Đa, nọChí Linh

Hồn cha ông nonnước vặn mình

Bao thời đại vùichôn xâm thực

Ôi Cổ Loa,

dấu tích đền đài,bóng mờ rêu phủ

Ôi Thăng Long,

di thành bảoquốc, rực sáng kinh đô

Đây rồi, Hà Nộibây giờ

Ngàn năm văn vậtnên thơ diệu kỳ

Sông Gianh cuốnhút ta đi

Để xem nơi đó cógì hay không

Một thời Nam Bắctrôi sông

Gần ba thế kỷbềnh bồng nước non

Thì ra« Nhất đái hoành sơn »

« Dung thânvạn đại » lối mòn chưa pha

Ghé Cố Đô nhìnqua lối cũ

Vết Kinh Kỳ baophủ Hương Giang

Dừng chân mộtchút bên đàng

Trường Tiền đẩynhịp vang vang sóng cồn

Ta ghé Qui Nhơn

Đồ Bàn xưa hồnChiêm vợn khói

Hương nhạt nhòanhắn gởi ngàn mây

Hòa trong chiếclá có cây

Nhìn gốc vướng rễnhìn dây vướng rừng

Bờ mi khép mắtrưng rưng

Trôi bờ dĩ vãnglạnh lùng Huyền Trân

Đi vào thành phốSài Gòn

Ba trăm năm cũvẫn còn khắc ghi

Đường qua Bến Nghé ta đi

Đường về Gia Định thầm thì trước sau

Anh ơi đừng vội đi mau

Ghé thăm Bà Chiểu sắc màu nào quên

Sài Gòn ta dễ gì quên

Nhưng xin giã biệt, vẫy chào thành đô

Miền Nam đang đợi đang chờ

Nhanh chân lên nhé xuôi về Miền Nam

Miền Nam ruộng lúa bạt ngàn

Miền Nam bất bạc đất vàng viễn đông

Vượt cầu Mỹ Thuận

Sông Hậu Sông Tiền

Hát Cửu Longgiang

Hòa reo chín khúc

Miền Nam ngào ngạt

Đượm tình Miền Nam

Cà Mau mây nướcmênh mông

Mới thành chữ “S”núi sông nước nhà

Cả dòng lịch sửcan qua

Mới thành tổ quốcsơn hà Việt Nam

Cà Mau nhớ ải Nam Quan

Đứng đây vọng nhớ Văn Lang thuở nào

Tình quê tình nước nao nao

Hồn quê hồn nước lệ đào chưa khô

Nhìn trông một mảnh cơ đồ

Người người dân Việt thắm tô muôn đời.

Tháng 4 – 2010

01. Tiếng lòng nức nở quêhương 01

02. Thầm lặng 02

03. Việt Nam, quê hương cònđó 03

04. Quê hương còn đó, đợi chờ04

05. Từ đó xa mờ 05

06. Tiếng kêu cứu quê hương 06

07. Thương Thầy An Thiên 07

08. Chùa tôi 08

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2101)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1976)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1674)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1625)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2133)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1623)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1311)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1557)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1842)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2438)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!