Tuyển tập 105

28/11/201113:14(Xem: 20558)
Tuyển tập 105

TUYỂN TẬP THƠ MẶC GIANG

Tuyển tập 10 bài Số 105 - thơMặc Giang

(Từ bài số 1041 đến số 1050)

[email protected]; [email protected]

01.HoaNhân Quả 1041

02.HoaTam Vô 1042

03.CửaChùa 1043

04.ChuyếnXe Tam Thừa 1044

05.Gợnsóng tuyền đài 1045

06.Cuốibờ rêu thiên cổ 1046

07.Cơnbão thảm khốc Nargis 1047

08.Khuasỏi đá 1048

09.Bênđồi vắng 1049

10.Rùngrợn con tàu 1050

Hoa Nhân Quả

Tháng 6 – 2006

Đã gieo nhân thì làm saokhông có quả

Đã có quả thì làm sao khôngcó nhân

Hỡi nhân sinh trong cuộc sốnghồng trần

Đừng lẩn thẩn buông lung màđọa lạc

Mỗi hành động trong hành vitạo tác

Mỗi ý niệm vừa phát khởitrong tâm

Tất cả đều đã gieo một hạtnhân

Mới băng qua là trở thành quákhứ

Có quá khứ thì phải có hiệntại

Có hiện tại thì phải có tươnglai

Một là ba, ba là một nối dài

Móc thời gian ba thì treo bấttận

Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợquả

Nên Thánh Phàm, từ nơi đó màra

Đâu phải riêng chỉ một cõi tabà

Mà tám hướng mười phương đềunhư thế

Hoa Nhân Quả phát sinh từ vôthỉ

Kết phan duyên hiện hữu đếnvô chung

Chúng sanh ơi, cẩn thận, chớlao lung

Đã tác tạo thì trước sau phảigánh

Hoa Nhân Quả biết rồi thìphải tránh

Tặng cho em mang nét đẹpthanh lương

Tặng cho anh mang sắc thắmlên đường

Tặng cho đời vun trồng chânthiện mỹ.

Hoa Tam Vô

Tháng 6 – 2008

Hoa Tam Vô nở trên thềm giảithoát

Tặng cho người Vô Tác cõi trầngian

Làm không làm như gió mát trăngngàn

Bước thong dong giữa trờixanh mấy trắng

Hoa Tam Vô, cửa thiền môn mởrộng

Tặng cho người Vô Niệm cõiphiêu bồng

Nhớ đến vô, lồng lộng tựa hưkhông

Tuy trống rỗng nhưng cái gì cũngcó

Hoa Tam Vô, cửa thinh không bỏngỏ

Tặng cho người Vô Trụ hữu – vôdư

Mang pháp thân trùm khắp cảthái hư

Không dính mắc một nơi nào tụđiểm

Từ vô thỉ không màu hồng màutím

Đến vô chung không màu trắngmàu xanh

Mà là màu hoại sắc đẹp nguyêntrinh

Diệu diệu hữu trong chơn nhưhoa tạng

Vì chúng sanh trùng trùng vôsố lượng

Hoa Tam Vô bừng nở khắp ba thừa

Duy một thừa nhưng nói rộngthành ba

Ba thừa chuyển đến tam vô bấthoại

Hoa Tam Vô, cửa chùa thân thươngquá

Khói hương trầm quyền quyện cứuhàm linh

Tiếng chuông ngân thánh thoátđến vô thinh

“Thượng thông thiên đường, hạtriệt địa phủ”

Hoa Tam Vô, tặng cho người VôTrụ

Tặng cho người Vô Niệm ngáthoa tâm

Tặng cho người Vô Tác tuyệtthậm thâm

Cùng chuyển xe tam thừa vi diệupháp.

Cửa Chùa

Tháng 6 – 2008

Cửa chùa là cánh cửa Không

Vào trong Hoa Tạng trùng trùnghuyền vi

Không Tướng, không cả li ti

Ẩn trong diệu hữu tư nghì hồnai

Không Nguyện, không cả một hai

Trùm lên tánh thể phương đài đơmhoa

Sắc không vô nhị kết tòa

Nương hình gợn bóng giao thoadiễm hằng

Không đêm mà có ánh trăng

Không ngày mà có nắng vàng mênhmang

Thấu trời còn hỏi chi thang

Chạm đất còn hỏi địa đàng làmchi

Cửa chùa là cửa huyền vi

Từ không thành có diệu kỳ ai hay

Cửa chùa, ba cánh hiển bày

Vô môn biến hiện lay lay pháptrần

Cửa chùa, ba cánh tương lân

Vô Nguyện, Vô Tướng, hỏi Khôngsao tìm

Vụt qua, đâu nữa cánh chim

Tịch chơn, cật vấn nổi chìmphù vân

Cửa chùa, là cửa tam quan

Mở ra, không lối dọc ngang đi về

Cửa chùa, là cửa giải mê

Mở ra, chót đỉnh Tào Khê mỉm cười

Cửa chùa, chào khách ngược xuôi

Bước qua, biến mất, hỡi người thế nhân !

Chuyến Xe Tam Thừa

Tháng 7 – 2008

Ta ra đi trên chuyến xe TamThừa lồng lộng

Khắp muôn phương ngàn hướng cỡiphù sinh

Trên ba đường sáu nẻo kiếpsinh linh

Trong vạn hữu, ai không là bạn lữ

Ta ra đi trên chuyến xe Tam Thừa kỳ thú

Xe nhỏ này, ai thích, hãy bước lên

Xe trung này, ai hợp, nhớ đừng quên

Còn xe lớn, rộng thênh thang đại hải

Xe Tam Thừa vượt muôn ngàn cửa ải

Băng dốc đèo trên vạn lý sơn khê

Đi bốn phương, nhưng đến, chỉ một lồi về

Rừng hoa tạng chứng đạo ca gió hát

Xe Tam Thừa vượt muôn ngàn ghềnh thác

Băng vực sâu, luớt hải lý trùng dương

Khép thỉ chung, im bặt mọi con đường

Hỏi sinh tử, ngại ngùng, không dám thở

Đưa nhau về căn nhà xưa ta đó

Đón nhau về trong diệu hữu pháp thân

Mây trắng kia, tiễn biệt nẻo phù vân

Trời xanh kia, vẫy chào màn sương bạc

Bờ suối reo, con nai vàng ngơ ngác

Tổ ấm nồng, chim rủ cánh thôi bay

Giữa ngàn cây, hoa khép lá, lung lay

Đêm chấm dứt, không chờ ngày gọi nắng

Xe Tam Thừa một chuyến

Thuyền bát nhã thanh lương

Đưa nhau một đoạn đường

Khép đôi bờ sinh tử

Xe Tam Thừa một chuyến

Cửa hoa tạng huyền môn

Đưa tay đỡ càn khôn

Vô sanh reo pháp nhẫn.

Gợn sóng tuyền đài

Tháng 5 –2008

Được tin Mẹ nhắm mắt

Thôi, thế là cuộc đời con đã hết

Được tin Mẹ buông tay

Thôi, thế là cuộc đời con không còn

Vuông đâu mà nói chi tròn

Sắt đâu mà nói chi son úa màu

Thời gian, da thấm thịt thau

Nỗi niềm đan kín còn đau suốtđời

Vô thường băng giá lên ngôi

Tình thương nhớ mẹ, gởi đồihoang vu

Một vài năm, còn nay lần mailữa

Mấy mươi năm, còn gì lữa mà lần

Chín chiều rũ bóng phù vân

Hoàng hôn khuất núi, treo vầngtrăng soi

Trèo lên trên đỉnh chơi vơi

Nói lên tiếng Mẹ, không lời vọngvang

Lặn sâu vào đáy suối vàng

Âm linh dậy sóng mênh mang vôbờ

Thôi hết rồi, mái tranh nghèovợn khói

Thôi hết rồi, bếp lửa ấm hồngtươi

Muốn nghe tiếng mẹ nói

Muốn nhìn mắt mẹ cười

Đi vào cõi không người

Bóng muôn trùng lan tỏa

Muốn nghe tiếng mẹ thương

Muốn nghe tiếng nếp một, mía đường

Đi vào cõi vô thường

Bụi mờ phơi sỏi đá

Tấm hình Mẹ, con muốn nhìn thậtrõ

Áng thờ Mẹ, con quyện khói trầmhương

Ngày thì ẩn bóng nghê thường

Đêm thì thấm lạnh ngấn sươngcanh dài

Sờ lên ảnh tượng thiên thai

Suối vàng gợn sóng tuyền dàithiên thu !

Cuối bờ rêu thiên cổ

Tháng 5 - 2008

Xin dâng nén hương, quì bên mộmẹ

Nghe đáy lòng tan nát cõi tâmtư

Đây là chỗ mẹ nằm, giấc ngủngàn thu

Nghĩa địa vắng tanh, là da là thịt

Còn kia, là mộ phần của Cha ngày trước

Hai đấng sinh thành, bên cạnhsong song

Thôi hết rồi, hết cả những chờmong

Tim quặn thắt giữa lạnh lùngcố quận

Nước róc rách ngập ngừng bênbờ suối

Sóng rì rào đập vỗ bến ngân sương

Hoa trắng trôi chìm nổi cuốisông Thương

Con chim nhỏ bơ vơ về tổ Nhớ

Cả dĩ vãng xa mờ đường quê cũ

Ký ức chìm hình ảnh lối mòn xưa

Tiếng ve kêu còn sót lại cuốimùa

Chưa đốt cháy những ngày Hèoi ả

Nhìn hàng chữ trên mộ bia lạnhgiá

Mới biết rằng đây là chỗ củamẹ cha

Cõi đi về nhưng không phải lànhà

Không bếp lửa, không tro tànsớm tối

Khói hương bay nhạt nhòa tantrước gió

Tìm mẹ cha trống rỗng bóng hưvô

Càng hình dung, càng mất hútxa mờ

Im phăng phắc cuối bờ rêu thiêncổ.

Cơn bão thảm khốc Nargis

Đổ bộ vào Miến Điện ngày 03-5-08, bao trùm và tàn phá5 khu vực rộng lớn : Yangon, Bago, Mon, Karen và Ayeyawaddy thuộc vùng châu thổsông Irrawaddy, có khoảng 24 triệu dân cư, gây ra hơn 100 ngàn người bị chết,hàng trăm ngàn người bị mất tích, cả triệu người sống trong cảnh màn trời chiếuđất.

Ôi, trận bão Nargis !

Trận bão kinh hoàng !

Trận bão thảm khốc !

Trận bão lâm ly !

Đã cướp mất hơn 100 ngàn người,không còn sự sống

Đã vùi chôn hơn 100 ngàn người,chìm vào biển động

Đã làm cho hơn một triệu người,chiếu đất màn trời

Cả một vùng châu thổ tơi bời

Nào phố nào phường

Nào cửa nào nhà

Nào cây nào cối

Nào thịt nào da

Vùi dập, ngửa nghiêng, tan tành,đổ nát

Một đất nước, đã trầm kha,nghiệt ngã, quân phiệt

Một dân tộc, đã cực lòng, ngậmđắng, nuốt cay

Sao Ông Xanh chưa giải cứu nỗinày

Lại đày đọa bạo tàn người dânMiến Điện

Cả trăm ngàn người, sóng vùilòng biển

Cả trăm ngàn người, không kịpnhắm mắt buông tay

Hơn một triệu người, khóc nỗithảm thay

Vùng châu thổ mênh mông

Giờ chỉ còn là : sóng vỗ, bụibay, cát đá

Biển cả ơi, muôn đời thì thầmbiển cả

Bão tố ơi, muôn đời trào lộngcuồng phong

Kiếp nhân sinh đã tràn ngập hờnvong

Lại đón nhận những phũ phàngtím ngắt

Đất hỡi đất, có bình yên khôngđất

Trời hỡi trời, có êm ả trờixanh

Thân người, một kiếp mongmanh

Trăm năm chưa hẳn, chỉ mànhngàn cân

Tang thương, nghiệt ngã, phongtrần

Đọa đày điêu đứng, cơ phần lựaai

Nhân tai, thở vắn than dài

Thiên tai, hàng loạt, tuyền đàinát xương

Chết, không kịp tiếng kêu thương

Sống, ôm tức tưởi, đoạn trườngđắng cay

Ôi, biết nói sao đây, hỡi ngườidân Miến Điện ?

Ôi, biết nói sao đây, hỡi nhânloại tình người ?

Ai chia bao nỗi khóc cười !

Một mươi chẳng thấu, mười mươinhững là !

Còn chi, là cửa là nhà !

Còn chi, là thịt là da, hở trời !

Tấm Lòng Vàng, cho đỡ lòng ấm lạnh

Tiếng kêu thương, cho vá đắp trầm kha

Ngửa bàn tay, chia sẻ những xótxa

Mở từ tâm, dịu xoa tình nhânthế

Được một chút gì, may ra còn đỡ

Vẫn còn hơn, mờ sương khói trốngkhông

Tình thương nhân loại, đèo bòng

Dựng xây sự sống, nối vòngtay hoa

Tương thân tương ái chan hòa

Ươm mơ, hy vọng, kết tòa thiênthư.

Ngày 10 tháng 5 năm 2008

Mặc Giang sáng tác, nhằm mục đích kêu gọi cứu trợ.

Khua sỏi đá

Tháng 6 – 2008

Buông tay lái, nghe thuyềnreo sóng nước

Buông mái chèo, bóng con đẩythôi đưa

Khép bờ mi phiêu bạt kiếp hảihồ

Phơi gió bụi dọc đường khuasỏi đá.

Bên đồi vắng

Tháng 6 – 2008

Mây thong dong lướt trên ngànxanh biếc

Gió trong lành thoảng nhẹgiữa rừng mơ

Nước lăn tăn róc rách chảyđôi bờ

Con nai hiền ngẩn ngơ bên đồivắng.

Rùng rợn con tàu

Tháng 6 – 2008

Ta đứng tựa bên bờ rêu hócnúi

Nhìn bụi mờ xây xát nét thờigian

Nhìn phong sương tắm gội vếtđiêu tàn

Thật rùng rợn cho con tàu huyễn hóa.

01. Tiếng lòng nức nở quêhương 01

02. Thầm lặng 02

03. Việt Nam, quê hương cònđó 03

04. Quê hương còn đó, đợi chờ04

05. Từ đó xa mờ 05

06. Tiếng kêu cứu quê hương 06

07. Thương Thầy An Thiên 07

08. Chùa tôi 08

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2136)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 2034)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1698)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1669)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2163)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1647)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1393)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1584)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1911)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2480)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!