Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tuyển tập 134

20/09/201214:06(Xem: 4941)
Tuyển tập 134

TUYỂN TẬP THƠ MẶC GIANG

Tuyển tập 10 bài Số 134 - thơMặc Giang

(Từ bài số 1331 đến số 1340)

thnhattan@yahoo.com.au

01.Trao lại cho em

02.Ân Phụ Mẫu Tiên Rồng

03.Thương Người Miền Trung

04.Cát bụi hoen mờ

05.Thế à!

06.Quán Âm Thị Kính Việt Nam 1

07.Quán Âm Thị Kính Việt Nam 2

08.Mấy cuộc phù sinh

09.Con tàu quê hương

10.Con tàu tha phương

Trao lại cho em

Cónhững người em biết hướng về nguồn cội

Nghetrong lòng sung sướng quá đi thôi

Tregià măng mọc, sợ gì giữa đất trời

Khóemắt khô hoen mi mờ lệ sử

ChaQuốc Tổ trên ngôi cao thờ tự

MẹÂu Cơ trên đỉnh núi kiêu sa

Nămngàn năm sừng sững mái quê nhà

Mảnhdư đồ thiêng liêng thêu gấm vóc

SóngBiển Đông triều triều dâng hồn nước

GióTrường Sơn lồng lộng ngát hương quê

Đểtượng trưng son sắt vẹn ước thề

Dònglịch sử ngân vang trao thế hệ

Cónhững ngưòi em biết giữ gìn Đất Mẹ

Hoacội nguồn bừng nở đất Quê Cha

Lòngan vui nghe hai tiếng sơn hà

Đấtphương Nam,người phương Namtọa thị

Tahát vang trên đầu nguồn của suối

Emreo hò giao tiếp tận cuối sông

ChimLạc kêu đáp lại tiếng chim Hồng

Tiêncỡi hạc, Rồng hóa thân cất cánh

ẢiNam Quan, đỉnh địa đầu dựng nước

MũiCà Mau, điểm cuối mở giang san

Trỗihồn thiêng sông núi của năm ngàn

Truyềntrao mãi muôn đời không thay đổi.

Tháng11 – 2009

Ân Phụ Mẫu Tiên Rồng

Bônghồng hiếu hạnh thiêng liêng

Lànhthay, con cháu thảo hiền nhớ ân

Mẹ Cha, công đức song thân

Ông Bà, dòng họ gốc phần thâm sâu

Băng qua vạn lý nhịp cầu

Dâng lên Tiên Tổ khởi đầu sơ khai

Hùng Vương quốc phụ phương đài

Âu Cơ quốc mẫu ươm ngai Lạc Hồng

Ngàn năm văn hiến núi sông

Annhiên tọa thị giống dòng Việt Nam

Bônghồng hai sắc cưu mang

Choanh cho chị lên đàng đắp xây

Choem nâng cánh hoa nầy

Tinyêu sức sống đong đầy trong tim

Âncha nghĩa mẹ đáp đền

ÂnTiên ân Tổ thênh thênh đất trời

Cùngnhau phụng hiến suốt đời

Băngđèo vượt núi không lời thở than

Dùcho đổi cả trần gian

Ânkia vời vợi muôn ngàn thấm sâu

Dùcho bãi biển nương dâu

Ânkia giữ mãi trong đầu nhớ nghe.

Tháng11 – 2009

Thương Người Miền Trung

Bão số 9, tử vong hơn 200 người, tàn pháhơn 10 Tỉnh

Bão số 10, tràn ra phía Bắc, đe dọa phía Nam

Bão số 11, mới một ngày 4-11-09, giết chết gần 100người chỉ riêng

Phú Yên, Bình Định, Nha Trang. Còn nhiềuTỉnh nữa thì sao?

Biết nói gì cho Miền Trung và chia sẻ gìcho Miền Trung?

Nhìnquê hương thiên tai đang ập phủ

Bãolụt gì mà bão lụt triền miên

Nướctrào dâng, bão xoáy tốc liền liền

Dânmình ơi, biết làm sao chịu nổi

Tiếngnước cuốn, nước trôi, kêu la ơi ới

Tiếngnhà sập, mái tung, hớt hãi thất thanh

MắtMẹ già bỗng tuôn chảy thật nhanh

Đứacon nhỏ nước xoáy chìm biến mất

Trời ơi là trời

Đất ơi là đất

Sao không giết mẹ già mà lại giết con thơ

Lụt năm ngoái đã cướp đi một đứa

Tâm hồn muốn dại khờ

Lụt năm nay, lại cướp thêm đứa nữa

Tấm lòng xé nát tan, còn gì mà than thở

Nước, nước ùn ùn như thác đổ

Bão, bão co giật như điên cuồng

Mẹ sống làm gì, con ơi là con

Phải chi có thang, leo lên hỏi ông trời cho ra lẽ

Ổng ngậm câm, gầm gừ, ngạo nghễ

Chẳng nói chẳng rằng

Đánh sấm đánh sét chớp lòe

Mây đen sì, mây vần vũ phát ghê

Mưa trút nước, trút ào ào phát sợ

Trâu bò chìm lỉm, nói chi đến nghé

Gà vịt nổi trôi, nói chi gia cầm

Làm đất trời mà đày đọa quá thâm

Miền Trung ơi, phải từng cơn gánh chịu

Lúa ngô ngâm mộng chết thúi

Hoa màu rủ mục chết bông

Mì, lang trôi nổi phập phồng

Áo, quần cuốn phăng đây đó

Rồi bàn, rồi ghế

Nào chảo, nào xoong

Vụn vỡ mái tôn

Dập vùi mái lá

Tất cả tơi tả

Tất cả lở bồi

Mền rách đắp trời

Trăng sao đắp chiếu

Đã biết cảnh màn trời chiếu đất thưở sinh ra

Cho đến nay, cũng không cửa không nhà

Sống ủm thủm như cái chuồng mỗi lần vá lại

Biển dâu mấy bãi

Nát cõi tang thương

Đời tôi mấy nẻo

Nát cảnh đoạn trường

Miền Trung ơi Miền Trung

Ôi, thùy dương cát trắng

Đất thì đất đá, khô cằn mùa nắng

Bùn thì quến bùn, nhầy nhụa mùa mưa

Miền Trung ơi, khổ quá biết chưa

Đổ tâm lực, nhũn tàn gai góc

Ai nhớ Miền Trung, đèo cao núi dốc

Ai thương Miền Trung, vũng chéo lưng đồi

Đó là vùng đất quê tôi

Từng năm lũ lụt tơi bời tang thương

Của miền cát trắng thùy dương

Miếng cơm manh áo đoạn trường đắp xây

Hèn chi, «Hoành Sơn nhất đái»

Hèn chi, «Vạn đại dung thân»

Trần thân, cho biết thân trần

Bồ hòn cho biết, lựa lần mô tê

Lại còn răn, rứa nữa hè

Hò khoan đứt nhịp, sao nghe nức lòng

Hèn chi, thế núi đỡ sông

Hải Vân chất ngất, Cù Mông nghiêng đồi

Khi cao, cao vút lưng trời

Khi sâu, sâu thẳm mịt mờ bụi bay

Miền Trung sỏi đá khô cày

Gừng cay muối mặn mới hay nỗi niềm

Dù cho bão lụt triền miên

Dù sao đi nữa cũng miền quê tôi

Khổ đau, mới quý nụ cười

Đọa đày, mới biết thương người Miền Trung.

Tháng11 – 2009

MặcGiang

macgiang@y7mail.com

Cát bụi hoen mờ

Cọpchết để da cũng mịt mù

Ngườidù để tiếng cũng thiên thu

Thápđền nhện kéo nhòa tro cốt

Nghĩađịa cỏ giăng sương phủ mờ

Cuộclữ trăm năm có nghĩa gì

Lợidanh quyền thế lắm như ri

Hònchồng đá tảng khua tung tóe

Cátđá bờ lau cái mốc xì

Chénsành chén kiểu choãng mà chơi

Châuchấu đá xe đã cuộc đời

Nghiệpdĩ thiêu thân tiêu một kiếp

Cộtđèn nhầy nhụa xác tàn phơi

Quântử tiểu nhân nhiễu loạn mà

Nếukhông sao gọi tiếng Ta bà

Trầnsa biến mất, buồn phiền não

Tâmđịa tịch không, tội quỷ ma

Cáiđầu có sạn bủa tan hoang

Độngnão mới rêm cái sắt son

Đãgọi là vàng cần thử lửa

Xátxây cho biết mặt vuông tròn

Sắt,kẽm, thau, chì, đồng, thép, gang

Ngọcngà, châu báu, trộn kim ngân

Caolương, mỹ vị hay cơm cháo

Khéođọa đày cho nát ngã nhân

Tài,trí, dại, khôn, tật, tánh đa

Cáimâu, cái thuẫn thở không ra

Mộtmai quẳng gánh ra nhà gió

Cátbụi mù bay sương trắng pha.

Tháng11- 2009

MặcGiang

macgiang@y7mail.com

Thế à !!!

Vàođống tro tàn tìm thoáng xưa

Cócòn đóm lửa nhỏ dây dưa

Đẳngđeo gai góc thềm hoang lạnh

Haytắt ngúm theo bụi gió lùa

Chiếcbóng thời gian lặng lẽ trôi

Kìatrông núi ngã ngủ lưng dồi

Đèoheo hút gió vi vu mãi

Quákhứ qua rồi cũng thế thôi

Vócâu cửa sổ thoáng đưa vèo

Giócuốn mịt mờ mất hút theo

Rêuphủ bên đường nhòa dấu vết

Hoànghôn buông xuống bé tèo teo

Huyhoàng một thuở lại hoàng huy

Cóthịnh, đương nhiên phải có suy

Bỉ cực thái lai, lai bỉ cực

Thế thời thời thế, phải như ri

Phướng lọng cờ bay rợp hí trường

Đã mang dáng dấp của phong sương

Chưa qua ẩn hiện hồn thu thảo

Ngó lại điêu tàn bóng tịch dương

Nền cũ chênh vênh ngã ngửa nghiêng

Lâu đài loang lở đổ lưng triền

Cheo leo ghềnh ráng đeo bờ dốc

Thung lũng núi đồi đứng lặng yên

Lịchthì sử tích phải can qua

Đốiđáp, đẩy đưa, hã, thế à

Vậtđổi sao dời trêu nghiệt ngã

Trầnlao kham nhẫn cợt ta bà.

Tháng11 – 2009

MặcGiang

macgiang@y7mail.com

Quán Âm Thị Kính Việt Nam 1

Đêmkhuya lạnh giữa núi rừng Bình Phước

Tiếngcon ai sao khóc trước cổng chùa

GiàLam nghèo xuyên vách lá đong đưa

Tiếngtrẻ khóc từng hồi khua thét gió

ThầyChiếu Pháp cầm đèn dầu nho nhỏ

Cùngvài Chú Điệu, cất bước ra soi

Khôngbóng dáng ai, sao lạ hỡ trời

Chỉthấy em bé, trùm khăn khóc ré

Hìnhnhư mới sinh, em còn nhỏ quá

Haimắt nhắm nghiền, da thịt đỏ au

Saolạ thế nầy, cha mẹ em đâu

Khônglẽ ở dưới đất chui lên, hay trên trời rớt xuống

Rừngnúi hoang vu, chùa quê thanh vắng

Nợphong trần sao lại nặng duyên vương

Embé ơi, ôi giấc mộng nghê thường

Thầyđành phải cưu mang ru giấc điệp

Đêmđầu tiên Thầy không sao ngủ được

Tiếngtrẻ thơ khát sữa khóc oa oa

Đunnước sôi, pha sữa hộp, chứ biết sao bây giờ

Bàntay Thầy sần sùi không đủ ấm

Rubé ngủ, cất tiếng à ơ vịt rống

Nghesao mà trầm bỗng giống tiếng tụng kinh

Embé nghe, hình như không phải tiếng của mẹ, giật mình

Thầychẳng biết bế bồng ra sao, nhìn em mà ứa nước mắt

Bảnthân Thầy mở ra một khúc ngoặc

Khúcngoặc hai năm, trải qua biết mấy khúc ngoèo

Ngoèonhư núi rừng, hoang vắng cheo leo

Ngoặcnhư đồi dốc, Thầy âm thầm gánh chịu

Rừngkhuya hỡi, có nghe không tiếng núi

Trăngsao ơi, le lói chi khung trời

Lòngdạ Thầy heo hút đỉnh chơi vơi

Làđàn ông, mà phải thành Thị Kính

Nhângian có câu :

Ngườitính không bằng trời tính

ThịKính xưa có pháp danh Kỉnh Tâm

Têncủa Thầy lại là tên Minh Tâm

Hiệucủa Thầy lại còn mang Chiếu Pháp

Quêở Vĩnh Long, tìm lên Bình Phước

Xây dựng chùa, đặt danh hiệuThanh Tâm

Núirừng khuya, vằng vặc ánh trăng rằm

Sángvà tròn đầy hơn trăng mười sáu

Nhớchuyện xưa, có Quán Âm Thị Kính

Thìchuyện nay, cũng có Thị Kính Quán Âm

Khôngphải chuyện của người, mà là chuyện của Việt Nam

Taca hát đi khắp cùng nhân thế.

Viết ngay, khi đã gởi Câu chuyện này đicùng khắp,

và không đầy một tiếng đồng hồ sau, đãcó bài này.

7 giờ tối Thứ Hai ngày 23-11-2009

TNT Mặc Giang

macgiang@y7mail.com

Quán Âm Thị Kính Việt Nam 2

ThầyChiếu Pháp sớm hồi đầu, quy y cửa Phật

Mộngthư sinh, xin trả lại sân trường

Banăm đại học, bụi phấn không vương

Khoácáo nâu sồng, tương chao dưa muối

TỉnhVĩnh Long của Miền Nambạt ngàn ruộng lúa

Sợchim ngàn lỡ gãy cánh sa chân

NênThầy tìm lên tận gió núi mưa rừng

Đèoheo hút giữa hoang vu Bình Phước

Trêndưới mười năm, bần hàn đạm bạc

Kiếntạo ngôi chùa, tên tự Thanh Tâm

Thầytrò trong lành, như tiếng chuông ngân

Nhưngbỗng một hôm, đất bằng dậy sóng

Vàogiữa đêm khuya, núi rừng hoang vắng

Cótiếng khóc gào, như tiếng bé thơ

Tiếngkhóc ngoài cổng, theo gió bay vô

Xuyênkẽ lá vách chùa che sao nổi

ThầyTrò thắp đèn, lần mò ra cổng

Tiếngkhóc trẻ thơ càng rõ ràng hơn

Concủa nhà ai, khóc giữa đêm hôm

Chamẹ em đâu, mà em nằm ngo ngoe đỏ hỏn

ThầyTrò cùng kêu, mà chẳng nghe ai lên tiếng

Duyênnghiệp thế này, biết đành đoạn sao cam

Thầykhông nói không rằng, đưa hai tay bồng em lên

Đemvào phòng, châm thêm dầu, thức trắng

Cứmột hai tiếng, em cục cựa, khóc rống

Thầylại đun nước sôi, pha thêm sữa cho em

Emoe oe, rồi nhắm mắt ngủ yên

Thầyngồi đó, tâm can như lửa cháy

Ngàylại ngày qua, cha mẹ em đâu không có thấy

Thánglần năm lựa, bão bùng sóng gió thị phi

Nghiệpcảnh nghiệp duyên, tột đỉnh tư nghì

Ậpphủ lên Thầy, như Núi Bà Đen, cuối Trường Sơn hùng vĩ

RồiTỉnh, rồi Huyện, mọi Ban Ngành, đem ra cân ký

Rồidân, rồi quân, ai cũng mổ xẻ tường tận li ti

Ngậmmiệng cũng mắc quai, đừng nói há miệng, biết nói năng gì

Thầycam phận, cam lòng, mang thân Thị Kính

ThịKính xưa, vẫn diễm phúc hơn Thầy, nhờ giới tính

CònThầy thì, mang cái kiếp đàn ông

Khổgì hơn, bằng cảnh gà trống nuôi con

Haivai rộng, nhiều khi thua đôi cánh nhỏ

Chỉbú, mớm, dỗ dành, hát ru, thay tả

Màkhó lòng hơn vượt núi băng đèo

Nămba tháng đầu, ghềnh đá đẳng đeo

Đànhchấp nhận như ba hồi kinh dị

Ngàytháng dần qua, em dần hơi lớn

Khiem biết đi, Thầy sung sướng quá đi thôi

Khiem biết nói những tiếng bập bẹ đầu đời

Thầydiễm phúc như đường tu chứng ngộ

Bởithuyền khổ ải đã vượt qua biển khổ

Bởibây giờ, em cười, em khóc, còn biết tại sao

Chứtrước đây, dù Thầy biết Bắc Đẩu, Nam Tào

Nhưngem bé khóc cười, Thầy không sao hiểu nổi

Gầnhai năm sau, cha mẹ của em, lương tâm mòn mỏi

Khôngcó nỗi đau nào, bằng nỗi đau cắn rứt lương tâm

Nêncha mẹ của em, chân thành sám hối ăn năn

Xinnhận lại đứa con thơ, khúc ruột núm nhau, ôi là da là thịt

Thầytừ mẫn nhưng nghe lòng xa xót

Khôngcông sinh, công dưỡng cũng lắm tơ vương

NhưngThầy chỉ mang tạm một đoạn trường

Cuộcđày ải trả cho người nhân thế

Câuchuyện thời xưa, có Quán Âm Thị Kính

Câuchuyện thời nay, có Thị Kính Quán Âm

Trờixanh xanh, mà cây lá cũng xanh xanh

Trăngsáng tỏ trăng rằm, trăng thanh trăng mười sáu

Tôixin hát bản trường ca hợp tấu

ChuyệnQuán Âm Thị Kính của Việt Nam

Truyềncho nhau và đi khắp nhân gian

ViệtNamta, cũng có những con người siêu xuất.

11 giờ đêm Thứ Hai, ngày 23-11-2009

Dành thêm một tiếng hồ và có thêm mộtbài nữa.

TNTMặc Giang

macgiang@y7mail.com

Mấy cuộc phù sinh

Anhmột anh hai anh ba

Baanh cộng lại hơn năm trăm à

Anhmột không cửa thì nhà

Anhhai cỡi gió xông pha bụi trần

Anhba cột trụ tương phần

Độitrời đáp đất phù vân sá gì

Đườngtrường phỉ sức ngựa phi

Trùngdương đạp sóng kình ngư vẫy vùng

Chânmây, không có điểm cùng

Gócbiển, không có điểm chung xô bờ

Mởtoang cánh cửa hư vô

Thửxem vũ trụ trỗi cờ ra sao

Tiêndu mơ cảnh bồng đào

Thiênthần gãy cánh lộn nhào trần gian

Ngherằng bốn biển dọc ngang

Nămchâu vỗ mặt ngỡ ngàng thế nhân

Đọađày cát đá phong trần

Xéogiày sỉ nhục cơ cần chi ai

Lãolàng chưa thỏa cân đai

Thùngthình loạng choạng chân tay lều khều

Đeomang vân cẩu tranh thêu

Ảodanh phù tướng mốc meo đã nhiều

Một mai về chốn cô liêu

Xác xơ cát bụi tiêu điều thế thôi !!!

Tháng 11 – 2009

Con tàu quê hương

Quê hương nặng mấy con tàu

Sân ga mấy bến sắc màu thời gian

Biết bao nhiêu cuộc ly tan

Biết bao nhiêu cuộc điêu tàn xát xây

Chìm trong tận đáy đọa đày

Sức cùng lực kiệt mặt mày tiêu sơ

Khổ đau tận đáy dại khờ

Đường hầm thăm thẳm mịt mờ chưa ra

Đêm thời hết nỗi sương pha

Ngày thời hết nỗi trầm kha bãi sầu

Quê hương nặng mấy con tàu

Dòng sông mấy khúc, nhịp cầu mấy phen

Canhkhuya heo hút bên thềm

Trờiđen như mực bóng đêm còn dài

Sao Hôm chi nữa Sao Mai

Gom bong bóng nước phơi đài giá băng

Ba mươi chi nữa còn trăng

Vành khuyên khuyết nguyệt, vành khăn khắn tì

Hòn chồng, đá tảng đen sì

Lâu đài, thành quách nguyên xi thủ thừa

Thờigian, mưa dập gió lùa

Lạiqua, lên xuống, bốn mùa kéo nhau

Quêhương nặng mấy con tàu

Aihay bãi biển bờ dâu bẽ bàng.

Tháng11 – 2009

Con tàu tha phương

Tha phương từ bước lên tàu

Đoạn đành chấp nhận một màuly tan

Biển khơi sóng bạc phũ phàng

Đẩy xô vận nước ngỡ ngàngchia xa

Chắp tay từ tạ quê nhà

Rầu rầu biển gọi mặn mà thùydương

Chắp tay từ tạ quê hương

Lưu đày biệt xứ tha phươngvọng về

Một năm chưa dám ước thề

Ba mươi năm đã, ước thề cònđi

Nào ngờ một chuyến ra đi

Kéo dài nửa kiếp bờ mi héomòn

Núi kia còn đứng trông non

Nước kia còn đợi chờ con nướcvề

Người đi, bến đã xa bờ

Nửa đời lưu lạc dại khờ hồnđau

Tha phương từ vượt con tàu

Nương dâu bãi biển một màuxanh xanh

Nào em nào chị nào anh

Nghe không sóng vỗ kêu quanhghế ngồi

Nào anh nào chị cùng tôi

Kéo tay em với vạn lời tìnhquê

Rằng non rằng nước chưa về

Rằng thương rằng nhớ vẹn thềcó nhau

Tha phương từ vượt con tàu

Nào hay cố quận một màu biệtly

Tha phương từ bước ra đi

Con tàu đi mãi cũng vì quêhương.

Tháng 11 – 2009

01. Tiếng lòng nức nở quêhương 01

02. Thầm lặng 02

03. Việt Nam, quê hương cònđó 03

04. Quê hương còn đó, đợi chờ04

05. Từ đó xa mờ 05

06. Tiếng kêu cứu quê hương 06

07. Thương Thầy An Thiên 07

08. Chùa tôi 08

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/03/201706:52(Xem: 1941)
Một thời máu lửa đạn bom Quê hương tang tóc, hồn hoang tru gào Từng trang sử đẫm lệ trào Ngày im tiếng súng nghẹn ngào gọi nhau!
05/04/201322:25(Xem: 3737)
Lịch sử luôn trao tận tay từng số phận thuận nghịch của duyên trần (biệt nghiệp) để từ đó hòa mình vào vận mạng chung của cộng nghiệp.
20/08/201419:28(Xem: 8118)
“Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh” Một công trường lưu dấu tích tên em Nay bị di dời, Trang ơi em có biết Năm mươi năm giữa Sài Gòn náo nhiệt Chợ Bến Thành nhộn nhịp khách lại qua Mỗi một khi nhìn bức tượng kiêu sa
07/07/201107:27(Xem: 1929)
“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
13/06/201421:21(Xem: 8289)
Hãy là “ong”(1) chiêu cảm nhiều nét đẹp Góp nhụy hoa tạo mật ngọt cho đời An nhiên bay thong thả khắp muôn nơi Đem ích lợi ít khi nào tác hại Đừng là “ruồi” thấy phân là bu lại Mang hôi dơ truyền nhiễm đến cho người Chỉ thấy xấu việc dơ bẩn thì bươi Gây thiệt hại hơn là điều lợi ích
02/01/201622:32(Xem: 1374)
Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu ĐàHoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)
12/04/201407:44(Xem: 17708)
Một là tội tạo từ xưa Nặng thì thành nhẹ, nhẹ trừ tiêu luôn Hai là được các thiện thần Dẹp tan hoạn nạn tai ương ngục tù Ba là tránh mọi hận thù Giải oan đời trước cũng như đời này Bốn là hùm rắn có vây
23/03/201408:09(Xem: 11935)
Một thường lễ kính chư Phật Lễ Phật, tâm Phật dung Phật tuệ sanh Kính Phật phước đức an lành Nguyện làm Bồ Tát dưới chân Phật đài.
08/04/201318:12(Xem: 25026)
Mỗi thế hệ thi ca đều xuất hiện những tâm hồn đặc biệt của các nhà thơ qua từng thế hệ. Phần nhiều, tâm hồn xuất phát từ cảm tính của thi nhân qua mọi sinh hoạt của xã hội. Tập thơ Hoa Song Đường của nhà thơ Mặc Giang vượt ra ngoài cái vòng tâm tư hiện hữu xưa nay, nó mang tính chất triết lí nhân sinh, chứa chất mọi quy luật sinh tồn mà con người và vũ trụ cố gắng tranh đấu để bảo tồn lẽ sống cùng với vạn hữu.
21/10/201621:07(Xem: 1987)
Ngẫm về khúc ruột Miền Trung Vùng đất kỳ lạ của cùng quê hương Dân tình sống thật dễ thương Tài ba cũng lắm, tai ương cũng nhiều Địa linh nhân kiệt tuyệt siêu Anh hùng liệt nữ mực điều viết son Gương cao vắt đỉnh Trường Sơn Thâm sâu in bóng rợn hồn Biển Đông Nhưng sao nghiệt ngã chất chồng Dân sinh thống khổ gánh gồng nhiễu nhương