Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tuyển tập 100

28/11/201113:14(Xem: 6732)
Tuyển tập 100

TUYỂN TẬP THƠ MẶC GIANG

Tuyển tập 10 bài - thơ MặcGiang - 100

(Từ bài số 991 đến số 1000)

01.Xóm nhỏ quênghèo 991

02.Một mái ChùaQuê 992

03.Nhớ mãi tìnhquê 992

04.Cho trọn tìnhquê 994

05.Từ kiếp nào 995

06.Đợi trăng về 996

07.Trăng với ta 997

08.Một bến sôngtrăng 998

09.Ơn Cha - ĐứcMẹ 999

10.Tiếng nói hồn thiêng 1000

Xómnhỏ Quê nghèo

Tháng 4 – 2008

Nhớ xưa, một thời thơ ấu

Ấm nồng, bếp lửa hồng tươi

Đêm trăng, hòa reo ca hát

Còn đây, câu nói tiếng cười

Quê nghèo, nắng mưa đón gió

Mì khoai, củ sắn, cơm canh

Trường làng, ê a đèn sách

Đầu đời, mái tóc còn xanh

Một bờ mênh mông cát trắng

Đêm về, bên bến sông trăng

Thuyền du mái chèo đưa đẩy

Lao chao hình bóng chị Hằng

Thôn trang, bình minh sángtỏa

Ngày lên, giỡn nắng loanhquanh

Con đường cái quan nho nhỏ

Hàng me, ghi dấu mong manh

Đường quê, lối mòn sỏi đá

Tre vàng, trúc biếc xanh xanh

Thơm thơm hương đồng cỏ nội

Còn đây, mãi mãi quê mình

Mái tranh, quê nghèo xóm nhỏ

Từ khi mở mắt chào đời

Lớn lên, đi đây đi đó

Nhớ hoài, muôn thuở khôngnguôi

Một mái Chùa Quê

Tháng 4 – 2008

Chùa quê nho nhỏ bên làng

Lời kinh tiếng mõ vang vang

Chuông ngân trầm hùng sâulắng

Xưa nay, nếp sống dân làng

Chùa quê, mười bốn, ba mươi

Rộn vang tiếng nói tiếng cười

Kéo về thắp nhang, bái sám

Tô bồi phước đức xinh tươi

Chùa quê, cuộc sống xưa nay

Dân làng ôm ấp dựng xây

Giàu nghèo, ai ai cũng có

Kẻ nhiều, người ít góp tay

Chùa quê một mái đơn sơ

Đêm đêm dưới ánh trăng mờ

Phật vàng từ bi sáng tỏa

Ươm đời, ươm đạo, xa mơ

Chùa quê, già trẻ, nữ nam

Như bông lúa chín thơm vàng

Như mái tình quê bếp lửa

Ấm nồng gìn giữ cưu mang

Chùa quê, tôi mang từ đó

Ngay từ, thuở bé xa xưa

Đến nay, vẫn hằng thương nhớ

Đi đâu, vẫn nhớ nhung về.

Nhớ mãi tình quê

Tháng 4 - 2008

Quê tôi một xóm thôn nghèo

Bốn mùa lam lũ đẳng đeo

Dân làng đói no ấm lạnh

Nhưng tình chan chứa sơn keo

Quê tôi sỏi đá khô cày

Mồ hôi, nước mắt đắng cay

Một nắng, hai sương, đãi gió

Gừng cay muối mặn thương thay

Mùa lên, tay cày, tay cấy

Đồng vàng, lúa chín thơm bông

Ca vang, tay gặt, tay hái

Thôn làng đẹp dạ ước mong

Ngày vui, ngày hội, vuôngtròn

Người người, già trẻ hân hoan

Nải chuối, nồi cơm, thững nếp

Giàu nghèo nào có thiệt hơn

Vậy mà, Biển Đông nghĩa Mẹ

Vậy mà, Núi Thái ơn Cha

Một trời quê hương ta đó

Xa rồi, mới nhớ thiết tha

Đi đâu, cũng muốn trở về

Tình quê, không lỗi ước thề

Đi đâu, ai không thương nhớ

Ươm lòng, nhớ mãi tình quê.

Cho trọn tình quê

Tháng 4 – 2008

Đây rồi, làng quê yêu dấu

Đã từ bao thuở chia xa

Mênh mang dâng tràn nỗi nhớ

Hôm nay, về với mái nhà

Em thơ, chờ mong trước ngõ

Mẹ quê, ấp ủ lều tranh

Bếp lửa hồng êm sáng tỏa

Bừng lên một mái an lành

Từ ngày cất bước ra đi

Em thơ, không nói năng gì

Mẹ quê, chìm sâu ánh mắt

Bên cầu Ái Tử, sầu bi

Từ ngày cất bước ra đi

Cánh chim bạt gió Ba Vì

Ba tôi, sơn khê tóc trắng

Phong trần chưa thỏa, cứ đi

Đây rồi, làng quê yêu dấu

Đồng vàng xanh bóng mạ non

Bếp hồng nhà tranh sưởi ấm

Đan tay nương níu vuông tròn

Bao năm, quay gót chân về

Sao dời, vật đổi, nhiêu khê

Mất còn tìm quên gởi nhớ

Ươm lòng cho trọn tình quê.

Từ kiếp nào

Tháng 4 – 2008

Từ kiếp nào tôi vẫn tơ vương

Đi lang thang trên khắp nẻođường

Ba cõi xuống lên, vào ra sinhtử

Để ngấm cuộc đời, xoa dịutình thương

Từ kiếp nào cát bụi đeo tôi

Đeo hành trang qua mọi hìnhhài

Hố thẳm rừng sâu, đầu non gócbiển

Chia sẻ cuộc đời, muôn vạnchông gai

Từ kiếp nào vào cõi nhân gian

Mang rong rêu thế giới bangàn

Hoa Tạng xa mờ, muôn trùnggiới tuyến

Biển đời oán đối, chìm nổimênh mang

Từ kiếp nào cát bụi trơ vơ

Những dấu xưa hoen ố tàn khô

Dẫm bước hồng hoang, phù sinhnhiễm thể

Đãi lọc đá vàng, tìm lạinguyên sơ

Thương cuộc đời, từ đó ta đi

Dẫu phong sương, mưa nắng, ságì

Trao lại cho đời, bảo châunhư ý

Ba đường sáu nẻo, mở cửahuyền vi.

Đợi trăng về

Tháng 4 – 2008

Đêm đêm, ta đợi đón trăng về

Dù chẳng ngóng trông, chẳngước thề

Rừng núi hoang vu thanh vắng quá

Không trăng, ủ dột bóng sơnkhê

Có khi, ta đợi ở đầu ghềnh

Nguyệt mãn, trăng tròn chẳngchịu lên

Suốt mấy canh dài nghe biểnsóng

Kê đầu trên mỏm đá chênh vênh

Trăng khuyết, vậy mà nhanhchóng hơn

Lưng trời đã hiện mới đầu hôm

Bóng trăng óng ả đêm đêm rọi

Ngập cả đường đi, ngập lốimòn

Có khi, ta rảo bước mom sông

Bóng nguyệt lung linh đứnggiữa dòng

Nhuộm ánh trăng ngà bên bếnnước

Bờ đê ấm lạnh những đêm đông

Dù tròn hay khuyết vẫn làtrăng

Mười sáu ba mươi trăng vẫntrăng

Khi nhạt khi vàng pha loángbạc

(Phong sương tuế nguyệt vẫn) Dù sao ta vẫn đợi trăng ngàn.

Trăng với ta

Tháng 4 – 2008

Ta đã mến trăng thuở ấu thơ

Khi còn bé nhỏ ở nhà quê

Cùng trăng chạy nhảy tungtăng gọi

Đầy ắp trò chơi của tuổi thơ

Người lớn thường hay kểchuyện ma

Sợ thì có sợ, nghe thì nghe

Đêm đêm thỉnh thoảng đi đâuđó

Dù có trăng rồi, vẫn “thấy”ma

Huống chi có những bữa khôngtrăng

Ra khỏi xó nhà, sợ, cắn răng

Vừa chạy vừa run, ma thét gió

Trăng còn nhớ đó, phải không trăng

Lớn lên đi khắp nẻo gần xa

Khi sống tha phương càng nhớ nhà

Đêm xuống thời giờ thêm trống vắng

Nhiều đêm sống trọn với trăng ngà

Đưa tay ta vốc ánh trăng vàng

Bên cạnh dòng sông, nước xoáy lăn

Động đậy, vầng trăng như biến hiện

Quanh ta tràn ngập ánh trăng ngàn.

Một bến sông trăng

Tháng 4 –2008

Ta về một bến sông trăng ấy

Mây nước hai bờ lơ lửng trôi

Tay chèo mái đẩy lao chao sóng

Bóng đổ dòng sông ướt cuộcđời

Bước chân nhè nhẹ in trên cát

Gió thổi mênh mang tóc bụibay

Văng vẳng bên sông nghe aihát

Sông trăng một bến tỏa niềmtây

Mùa lên phảng phất mùi bônglúa

Cao thấp ruộng đồng mượt cỏnon

Tay cày tay cấy đôi vai gánh

Chan chứa tình quê nẻo côthôn

Đôi tay tát nước bến sôngtrăng

Múc nước dòng sông, múc chịhằng

Tưới tấm ruộng đồng ươm lúamạ

Múc rồi, trả lại bến sôngtrăng

Sông trăng một bến thôn trangấy

Từ thuở ấu thơ đến cuối đời

Nhà tranh bếp lửa tình quêgọi

Nhung nhớ một phương, mỉmmiệng cười.

Ơn Cha - Đức Mẹ

Tháng 4 – 2008

Năm ngàn năm trước, nhớ ƠnCha

Nguồn cội tình thương, nhờĐức Mẹ

Chỉ dạy khuyên lơn, trăm đầucon trẻ

Xuống biển lên non, cần gọinhau về

Năm ngàn năm trước, thấm ƠnCha

Máu chảy ruột mềm, nhuần ĐứcMẹ

Đất nước Văn Lang, Hùng Vươngquốc Tổ

Sông núi Việt Nam,dòng giống Tiên Rồng

Ơn nghĩa Mẹ, sâu hơn biểnĐông

Công đức Cha, cao hơn núiThái

Chạy dài từ Nam Quan cửa ải

Dọc Trường Sơn đến mũi Cà Mau

Non xanh nước biếc một màu

Cháu con gìn giữ con tàugiang san

Không có gì dọc ngang cáchtrở

Không có gì tan vỡ ngược xuôi

Đan tay, miệng thắm môi cười

Đan tâm, kết nối tình ngườiViệt Nam

Thời gian dù có đổi

Không gian dù có thay

Nhưng nòi giống Rồng Tiên chỉmột

“Cây có cội

Nước có nguồn

Chim có tổ

Người có Tông”

Mảnh quê hương, xương máu chaông

Bức dư đồ, truyền trao thế hệ

Đàn cháu con thương về nỗinhớ

Cha - Thái Sơn - vò võ canhtrường

Mẹ - Biển Đông - ấp ủ trùngdương

Dù cách xa đến muôn hướngngàn phương

Vẫn thắp đuốc tìm nhau NamTrung Bắc

Tình quê hương mặn nồng thắmthiết

Dân tộc này là giống RồngTiên

Nghe không tiếng gọi hồnthiêng

Ơn Cha, Đức Mẹ, trao truyềnmuôn năm.

Tiếng nói hồn thiêng

Tháng 4 – 2008

Ta lắng nghe, tiếng rừng khuagió núi

Ta lắng nghe, biển Thái gọiTrường Sơn

Từ ngàn xưa, sông núi khôngmòn

Đến ngàn sau, giang san khôngđổi

Quyền quyện khói, Đền Hùng ơnQuốc Tổ

Khói trầm hương, lan tỏa đứcTrưng Vương

Đất trời nam, một cõi quêhương

Rạng trời đông, Việt Nammuôn thuở

Chắp tay nguyền, cùng khấnđầu Tiên Tổ

Lòng dặn lòng, cùng dònggiống Rồng Tiên

Bắc Nam Trung, một dãi nốiliền

Non nước này, ngàn năm vănhiến

Ta bước chân đi, gừng caymuối mặn

Ta bước chân về, nguồn cộiyêu thương

Ải Bắc, mũi Nam, là núi là non

Biển rộng sông dài, tình Nam nghĩa Bắc

Hò hò khoan, cho cung đàn trổi khúc

Tiếng đò đưa, thuyền một mái, vỗ về

Sông núi hồn thiêng, toàn vẹn ước thề

Máu đỏ da vàng, lung linh lệsử

Ngàn năm xưa, người dân Namhùng cứ

Ngàn năm sau, con cháu Việtđắp xây

Tình dân tộc, tay nắm bàn tay

Nghĩa đồng bào, đá mềm châncứng

Chí bất khuất, nước non nàybền vững

Khí hùng anh, từ khai quốcdựng cờ

Tô thắm giang sơn, bồi đắp cơđồ

Ai người Việt Nam,truyền trao tiến bước.

01. Tiếng lòng nức nở quêhương 01

02. Thầm lặng 02

03. Việt Nam, quê hương cònđó 03

04. Quê hương còn đó, đợi chờ04

05. Từ đó xa mờ 05

06. Tiếng kêu cứu quê hương 06

07. Thương Thầy An Thiên 07

08. Chùa tôi 08

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/03/201706:52(Xem: 5444)
Một thời máu lửa đạn bom Quê hương tang tóc, hồn hoang tru gào Từng trang sử đẫm lệ trào Ngày im tiếng súng nghẹn ngào gọi nhau!
05/02/202008:52(Xem: 1220)
Nhị thập song đôi (2020) Canh Tý Niên Mừng Xuân, Quảng Đức ngát thiền "Tâm an" thủ bút Thầy ghi tặng Chúc nguyện nhà nhà hưởng phước thiên.
11/10/201807:17(Xem: 4519)
Mưa da diết, thời gian như dừng chậm Chút vấn vương thương nhớ chị nơi xa Cô đơn héo hon khi tuổi chớm già Nhiều lần điện , chị đáp lời " Bận lắm " .
05/04/201322:25(Xem: 7306)
Lịch sử luôn trao tận tay từng số phận thuận nghịch của duyên trần (biệt nghiệp) để từ đó hòa mình vào vận mạng chung của cộng nghiệp.
20/08/201419:28(Xem: 11261)
“Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh” Một công trường lưu dấu tích tên em Nay bị di dời, Trang ơi em có biết Năm mươi năm giữa Sài Gòn náo nhiệt Chợ Bến Thành nhộn nhịp khách lại qua Mỗi một khi nhìn bức tượng kiêu sa
07/07/201107:27(Xem: 15295)
“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
13/06/201421:21(Xem: 11279)
Hãy là “ong”(1) chiêu cảm nhiều nét đẹp Góp nhụy hoa tạo mật ngọt cho đời An nhiên bay thong thả khắp muôn nơi Đem ích lợi ít khi nào tác hại Đừng là “ruồi” thấy phân là bu lại Mang hôi dơ truyền nhiễm đến cho người Chỉ thấy xấu việc dơ bẩn thì bươi Gây thiệt hại hơn là điều lợi ích
02/01/201622:32(Xem: 4767)
Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu ĐàHoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)
12/04/201407:44(Xem: 25044)
Một là tội tạo từ xưa Nặng thì thành nhẹ, nhẹ trừ tiêu luôn Hai là được các thiện thần Dẹp tan hoạn nạn tai ương ngục tù Ba là tránh mọi hận thù Giải oan đời trước cũng như đời này Bốn là hùm rắn có vây
23/03/201408:09(Xem: 16390)
Một thường lễ kính chư Phật Lễ Phật, tâm Phật dung Phật tuệ sanh Kính Phật phước đức an lành Nguyện làm Bồ Tát dưới chân Phật đài.