Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

28. Cư sĩ Long Uẩn

03/09/201109:39(Xem: 2817)
28. Cư sĩ Long Uẩn

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 1

ĐỜI THỨ BA SAU LỤC TỔ

B.Phái Hoài Nhượng

28.CƯ SĨ LONG UẨN

Ôngngười huyện Hành Dương, Xung Châu, tự là Ðạo Huyền, giathế chuyên nghiệp Nho, đời sống rất thanh đạm, hiểu ngộít phần trần lao, quyết chí cầu giải thoát.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm đầu (785 T.L.), ông đếnyết kiến Hòa thượng Thạch Ðầu, hỏi:

- Chẳngcùng muôn pháp làm bạn là người gì?

ThạchÐầu lấy tay bụm miệng ông. Ông bỗng nhiên tỉnh ngộ.

Mộthôm Thạch Ðầu hỏi:

- Từngày ông thấy Lão tăng đến nay hằng ngày ông làm việc gì?

Ôngthưa:

- Nếuhỏi việc làm hằng ngày tức không có chỗ mở miệng.

Ôngliền trình một bài kệ:

Nhật dụng sự vô biệt

Duy ngô tự ngẫu hài

Ðầu đầu phi thủ xả

Xứ xứ vật tương oai

Châu tử thùy vi hiệu

Khưu sơn tuyệt điểm ai

Thần thông tịnh diệu dụng

Vận thủy cập ban sài.

Dịch:

Hằng ngày không việc khác

Chỉ tôi tự biết hay

Vật vật chẳng bỏ lấy

Chỗ chỗ nào trái bày

Ðỏ tía gì làm hiệu

Núi gò bặt trần ai

Thần thông cùng diệu dụng

Gánh nước bửa củi tài.

ThạchÐầu hứa khả, bảo:- Ông làm cư sĩ hay làm xuất gia?

Ôngthưa:- Xin cho con theo sở nguyện không cạo tóc xuất gia.

Ôngđến tham vấn Mã Tổ, hỏi:

- Chẳngcùng muôn pháp làm bạn là người gì?

MãTổ bảo:

- Ðợimiệng ông hút hết nước Giang Tây, ta sẽ nói với ông.

Ngaycâu nói này, ông ngộ được huyền chỉ. Ông dừng ở chỗMã Tổ hai năm.

*

Saukhi đốn ngộ, ông về nhà lấy thuyền chở của cải đemđổ xuống sông Tương. Ông chỉ cất một cái thất nhỏ ởtu hành. Có người con gái tên Linh Chiếu thường theo hầuhạ, chuyên việc chẻ tre bện sáo bán nuôi cha.

Ôngcó làm bài kệ:

Hữu nam bất thú

Hữu nữ bất giá

Ðại gia đoàn biến đầu

Cọng thuyết vô sanh thoại.

Dịch:

Có trai không cưới

Có gái không gả

Cả nhà chung hội họp

Ðồng bàn lời vô sanh.

Ôngnói năng lanh lợi, các nơi đều nghe tiếng. Ông thường đếncác chỗ giảng kinh phát tâm tùy hỉ.

Cóvị Sư giảng kinh Kim Cang đến chỗ "vô ngã vô nhân". Ôngbèn hỏi:

- Tọachủ đã "vô ngã vô nhân" (không ta không người), vậy ai giảngai nghe?

Tọachủ không đáp được.

Ôngnói:- Tuy tôi là người tục cũng tin biết thô thiển.

Tọachủ hỏi:- Theo cư sĩ ý thế nào?

Ôngbèn giải bằng bài kệ:

Vô ngã phục vô nhân

Tác ma hữu sơ thân

Khuyến quân hưu lịch tọa

Bất tợ trực cầu chân

Kim Cang Bát-nhã tánh

Ngoại tuyệt nhất tim trần

Ngã văn tịnh tín thọ

Tổng thị giả danh trần.

Dịch:

Không ngã lại không nhân

Làm gì có thân sơ

Khuyên ông đừng ngồi mãi

Ðâu bằng thẳng cầu chân

Tánh Kim Cang Bát-nhã

Chẳng dính một mảy trần

Tôi nghe với tin nhận

Thảy đều giả danh trần.

Tọachủ nghe kệ rồi, vui vẻ khen ngợi:

- Chỗcư sĩ đến phần nhiều các bậc lão túc đã qua.

*

Ôngđến viếng Ðơn Hà. Ðơn Hà làm thế chạy.

Ôngnói:- Vẫn là thế phóng thân, thế nào là thế tần thân?

ÐơnHà liền ngồi.

Ônglấy gậy vẽ dưới đất chữ Thất.

ÐơnHà vẽ đáp chữ Nhất.

Ôngnói:- Nhân bảy thấy một, thấy một quên bảy.

ÐơnHà đứng dậy đi.

Ônggọi:- Hãy ngồi nán một chút, vẫn còn câu thứ hai.

ÐơnHà bảo: - Trong ấy nói được sao?

Ôngbèn khóc ra đi.

*

Mộthôm, ngồi trong am, ông chợt nói:

- Khókhó mười tạ dầu mè trên cây vuốt. (Nan nan thập thạchdu ma thọ thượng than.)

Longbà đáp:

- Dễdễ trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư. (Dị dị bách thảo đầuthượng Tổ sư ý.)

LinhChiếu tiếp:

- Cũngchẳng khó cũng chẳng dễ, đói đến thì ăn, mệt ngủ khò.(Dã bất nan, dã bất dị, cơ lai khiết phạn khốn lai thùy.)

*

Ôngngồi hỏi Linh Chiếu:

- Cổnhân nói: "sáng sáng đầu trăm cỏ, sáng sáng ý Tổ sư" (minhminh bách thảo đầu, minh minh Tổ sư ý) là sao?

LinhChiếu thưa:

- Lớnlớn già già thốt ra lời nói ấy. (Lão lão đại đại tácgiá cá ngữ thoại.)

Ônghỏi:- Con thế nào?

- Sángsáng đầu trăm cỏ, sáng sáng ý Tổ sư.

Ôngbèn cười.

*

Ôngcó làm bài kệ:

Tâm như cảnh diệc như

Vô thật diệc vô hư

Hữu diệc bất quản

Vô diệc bất cư

Bất thị Hiền Thánh

Liễu sự phàm phu

Dị phục dị

Tức thử ngũ uẩn hữu chân trí

Thập phương thế giới nhất thừa đồng

Vô tướng pháp thân khởi hữu nhị

Nhược xả phiền não nhập Bồ-đề

Bất tri hà phương hữu Phật địa.

Dịch:

Tâm như cảnh cũng như

Không thật cũng không hư

Có cũng chẳng quản

Không cũng chẳng cư

Chẳng phải hiền thánh

Xong việc phàm phu

Dễ lại dễ

Tức năm uẩn này có chân trí

Thế giới mười phương đồng một thừa

Pháp thân không tướng nào có nhị

Nếu bỏ phiền não vào Bồ-đề

Chẳng biết nơi nào có Phật địa?

Lạicó bài kệ:

Hộ sanh tu thị sát

Sát tận thủy an cư

Hội đắc cá trung ý

Thiết truyền thủy thượng phù.

Dịch:

Hộ sanh cần phải giết

Giết hết mới ở yên

Hiểu được ý trong đó

Thuyền sắt nổi phao phao.

*

Sắptịch, ông bảo Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ vô choông hay. Linh Chiếu ra xem vào thưa:

- Mặttrời đã đúng ngọ, mà có nguyệt thực.

Ôngra cửa xem.

LinhChiếu lên tòa của ông ngồi kiết già chấp tay thị tịch.

Ôngvào xem thấy cười, nói:- Con gái ta lanh lợi quá!

Ôngbèn chậm lại bảy ngày sau.

*

Châumục Vu Công đến thăm bệnh ông.

Ôngbảo:

- Chỉmong các cái có đều không, dè dặt các cái không đều thật,khéo ở thế gian đều như bóng vang.

Nóixong, ông nằm gác đầu trên gối Vu Công mà thị tịch.

*

Tinông tịch đưa về nhà cho bà hay.

Bànói:

- Congái ngu si với ông già vô tri, không báo tin mà đi, sao đànhvậy?

Bàra báo tin cho con trai đang làm ngoài đồng. Bà nói:

- Longcông với Linh Chiếu đi rồi con!

Ngườicon trai đang bừa đáp:- Dạ!

Rồilặng thinh giây lâu bèn đứng mà tịch.

Bànói:- Thằng này sao ngu si lắm vậy!

Lothiêu con xong, bà đi từ biệt thân thuộc rồi biệt tích.

*

ÔngLong Uẩn có làm thi kệ hơn ba trăm thiên còn lưu truyền ởđời.
8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn