Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

36. Thiền sư Hy Vận (Hoàng Bá)

03/09/201113:53(Xem: 4194)
36. Thiền sư Hy Vận (Hoàng Bá)

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 1

ĐỜI THỨ TƯ SAU LỤC TỔ

B.Phái Hoài Nhượng

36.THIỀN SƯ HY VẬN
HoàngBá - (? - 850)

Sưngười tỉnh Mân (tỉnh Phước Kiến), Hồng Châu, thuở nhỏxuất gia trên núi Hoàng Bá tại bản châu. Trên trán Sư cócục thịt nổi vun lên như hạt châu, âm thanh trong trẻo, ýchí đạm bạc.

Ðidạo núi Thiên Thai, Sư gặp một vị Tăng nói chuyện vớinhau như đã quen biết từ xưa, nhìn kỹ là người Mục quangxạ. Hai người đồng hành, gặp một khe suối nước đầychảy mạnh, Sư lột mũ chống gậy đứng lại. Vị Tăng kiathúc Sư đồng qua. Sư bảo:

- Huynhcần qua thì tự qua.

VịTăng kia liền vén y, bước trên sóng như đi trên đất bằng.Qua đến bờ, vị Tăng kia xây lại hối:

- Quađây! qua đây!

Sưbảo:

- Bậy!Việc ấy tự biết. Nếu tôi sớm biết sẽ chặt bắp đùihuynh.

VịTăng kia khen:

- Thậtlà pháp khí Ðại thừa, tôi không bì kịp.

Nóixong, không thấy vị Tăng ấy nữa.

*

Sưđến kinh đô nhờ người mách đến tham vấn Mã Tổ, đếnnơi Mã Tổ đã tịch. Sư đến Thạch Môn lễ tháp, rồi tìmđến Bá Trượng.

BáTrượng hỏi:- Chững chạc to lớn từ đâu đến?

Sưthưa:- Chững chạc to lớn từ Lãnh Nam đến.

- Chữngchạc to lớn sẽ vì việc gì?

- Chữngchạc to lớn chẳng vì việc khác.

Sưliền lễ bái hỏi:- Từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào?

BáTrượng lặng thinh.

Sưthưa:- Không thể dạy người sau, dứt hẳn mất.

BáTrượng bảo:- Sẽ nói riêng với ngươi.

BáTrượng đứng dậy đi vào phương trượng. Sư đi theo sau,thưa:

- Conđến riêng một mình.

BáTrượng bảo:

- Nếuvậy, ngươi sau sẽ không cô phụ ta.

*

Mộthôm, Bá Trượng hỏi:- Ở đâu đến?

Sưthưa:- Nhổ nấm dưới núi Ðại Hùng đến.

- Lạithấy đại trùng chăng?

Sưlàm tiếng cọp rống. Bá Trượng cầm búa thủ thế. Sư vỗvào chân Bá Trượng một cái. Bá Trượng cười to bỏ đi.

BáTrượng thượng đường bảo chúng:

- Dướinúi Ðại Hùng có con đại trùng, các ngươi nên xem. Lão BáTrượng này hôm nay đích thân bỗng gặp và bị cắn mộtcái.

*

Sưở chỗ Nam Tuyền. Một hôm, toàn chúng đi hái trà, Nam Tuyềnhỏi:

- Ðiđâu?

Sưthưa:- Ði hái trà.

- Ðemcái gì hái?

Sưđưa con dao lên. Nam Tuyền bảo:- Tất cả đi hái trà đi.

*

Hômnọ, Nam Tuyền bảo Sư:

- LãoTăng ngẫu hứng làm bài ca "Chăn Trâu", mời Trưởng lão hòa.

Sưthưa:- Tôi tự có thầy rồi.

*

Sưtừ giã đi nơi khác. Nam Tuyền tiễn đến cổng, cầm chiếcmũ của Sư đưa lên hỏi:

- Trưởnglão thân to lớn mà chiếc mũ rất nhỏ vậy?

Sưthưa:- Tuy nhiên như thế, đại thiên thế giới đều ở trongấy.

NamTuyền bảo:- Vương lão sư vậy.

Sưđội mũ ra đi.

*

Sau,Sư về trụ trì tại Hồng Châu chùa Ðại An. Ðồ chúng tìmđến rất đông.

Cólần, Sư tránh chúng đến chùa Khai Nguyên cũng ở Hồng Châu.Tướng quốc Bùi Hưu vào chùa thấy hình vẽ trên vách, hỏithầy trụ trì:

- Vẽcái gì đây?

Thầytrụ trì đáp:- Vẽ hình Cao tăng.

BùiHưu hỏi:- Hình có thể thấy, Cao tăng ở đâu?

Thầytrụ trì không đáp được.

BùiHưu hỏi:

- Trongđây có Thiền nhân chăng?

Thầytrụ trì đáp:

- Vừacó một vị Tăng vào chùa đang làm việc in tuồng Thiền giả.

BùiHưu bèn xin cho gặp. Thấy Sư, Bùi Hưu nói:

- Hưuvừa có một câu hỏi, chư đức tiếc lời, giờ thỉnh thượngnhân đáp thế một câu.

Sưbảo:- Mời Tướng công hỏi lại.

BùiHưu lặp lại câu hỏi trước.

Sưdùng tiếng trong thanh gọi:- Bùi Hưu!

BùiHưu:- Dạ!

Sưbảo:- Ở chỗ nào?

BùiHưu ngay nơi đó ngộ được ý chỉ như được hạt châu trênbúi tóc, bèn thỉnh Sư vào phủ kính thờ làm thầy.

*

Cóhôm Bùi Hưu hỏi:- Thế nào là Phật?

Sưđáp:

- Tứctâm là Phật, không tâm là đạo. Chỉ không có cái tâm khởitâm động niệm, có không, dài ngắn, ta người, năng sở...Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm, tâm như hư không, sởdĩ nói: "Chân Pháp thân của Phật ví như hư không." Khôngnên cầu riêng, có cầu đều khổ. Giả sử trải qua số kiếpnhư cát sông Hằng tu hành lục độ vạn hạnh, được PhậtBồ-đề, cũng không phải cứu kính. Vì cớ sao? Vì thuộcvề nhân duyên tạo tác, nhân duyên nếu hết trở lại vôthường. Sở dĩ nói: "Báo, Hóa không phải chân Phật, cũngkhông phải nói pháp." Cốt biết tâm mình không ngã không nhânxưa nay là Phật.

BùiHưu hỏi:

- Tâmđã xưa nay là Phật, lại cầu tu lục độ vạn hạnh chăng?

Sưđáp:

- Ngộtại tâm, không quan hệ gì lục độ vạn hạnh. Lục độvạn hạnh đều là cửa hóa đạo, là việc bên tiếp vậtđộ sanh. Giả sử Bồ-đề, chân như, thật tế, giải thoát,pháp thân, thẳng đến thập địa, bốn quả vị thánh đềulà cửa hóa độ, không quan hệ Phật tâm. Tâm tức là Phật,nên nói: "Tất cả trong cửa tiếp độ, Phật tâm là bậcnhất." Chỉ không tâm sanh tử phiền não v.v... tức không cầnđến pháp Bồ-đề v.v... nên nói "Phật nói tất cả phápđể độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu dùng tấtcả pháp" (Tổ Huệ Năng). Từ Phật đến Tổ không luận việcgì khác, chỉ luận một tâm, cũng nói là "Nhất thừa", nênnói "tìm kỹ mười phương lại không có thừa khác, chúngsanh này không còn nhánh lá, chỉ toàn hạt chắc (kinh PhápHoa). Bởi vì ý này khó tìm, nên Tổ Ðạt-ma sang xứ này đếnhai nước Lương, Ngụy mà chỉ có một mình Huệ Khả đạisư thầm tin tâm mình, ngay một câu nói liền lãnh hội "tứctâm là Phật". Thân tâm đều không, ấy là đại đạo. Ðạiđạo xưa nay bình đẳng, nên nói "tin sâu chúng hàm sanh đồngmột chân tánh". Tâm tánh không khác, tức tánh tức tâm, tâmkhông khác tánh, gọi đó là Tổ. Lại có câu: "Khi nhận đượctâm tánh, nên nói không nghĩ bàn."

Saunày, Tướng quốc Bùi Hưu đến trấn Uyển Lăng lập đạiThiền uyển thỉnh Sư làm hóa chủ ở đó. Vì mến núi cũnên Sư vẫn để hiệu là Hoàng Bá [Phần truyền dạy củaSư cho Bùi Hưu đầy đủ, nên đọc phần sưu tập "Tối ThượngThừa Luận"].

*

Mộthôm, Sư thượng đường, đại chúng vân tập, Sư bảo:

- Cácngươi! các ngươi muốn cầu cái gì?

Sưcầm trượng đuổi chúng. Ðại chúng không tan. Sư lại ngồixuống bảo:

- Cácngươi toàn là bọn ăn hèm, thế mà xưng hành khước đểcho người chê cười.

Thàcam thấy tám trăm, một ngàn người giải tán, chớ không thểchịu sự ồn náo. Ta khi đi hành khước hoặc gặp dưới rễcỏ có cái ấy, là đem hết tâm tư xem xét nó. Nếu biếtngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường. Tronglúc đó, nếu dễ dàng như các ngươi hiện giờ thì làm gìcó việc ngày nay. Các ngươi đã xưng là hành khước, cầnphải có chút ít tinh thần như thế, mới có thể biết đạo.Trong nước Ðại Ðường không có Thiền sư sao?

Cóvị Tăng ra hỏi:

- Bậctôn túc ở các nơi hợp chúng chỉ dạy, tại sao nói khôngThiền sư?

Sưbảo:

- Chẳngnói không thiền, chỉ nói không Sư. Xà-lê chẳng thấy sao,dưới Mã Tổ Ðại sư có tám mươi bốn người ngồi đạotràng, song được chánh nhãn của Mã Tổ chỉ có hai ba người,Hòa thượng Lô Sơn Qui Tông là một trong số ấy.

Phàmngười xuất gia phải biết sự phần từ trước lại mớiđược. Vả như, dưới Tứ Tổ, Ðại sư Ngưu Ðầu Pháp Dungnói dọc nói ngang vẫn chưa biết then chốt hướng thượng.Có con mắt này mới biện được tông đảng tà chánh. Ngườihiện giờ không hay thể hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩnhầm trong đãy da tức chỗ đến an ổn, xưng là ta hội thiền,lại thay việc sanh tử cho ngươi được chăng? Khinh thườngbậc lão túc vào địa ngục nhanh như tên bắn. Ta vừa thấyngươi vào cửa liền biết được rồi. Lại biết chăng? Cầnkíp nỗ lực chớ dung dị. Thọ nhận chén cơm manh áo củangười mà để một đời qua suông, người sáng mắt chê cười.Ngươi thời gian sau hẳn sẽ bị người tục lôi đi. Phảitự xem xa gần cái gì là việc trên mặt? Nếu hội liền hội,nếu không hội giải tán đi. Trân trọng!

*

SưLâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi:- Thế nào là đại ý Phậtpháp?

Sưliền đập một gậy. Ðến ba phen hỏi, mỗi lần đều bịmột gậy. Sau cùng, Sư Lâm Tế phải từ giã Sư đi nơi khác.Sư dạy qua tham vấn Ðại Ngu. Sau này, Lâm Tế đắc ngộ ýchỉ của Sư.

*

Chỗchỉ dạy của Sư đều nhằm vào bậc thượng căn, ngườitrung và hạ khó thấy được yếu chỉ.

Ðờèường khoảng niên hiệu Ðại Trung (847-860 T.L.), Sư tịchtại núi Hoàng Bá.

Nhàvua sắc thụy là Ðoạn Tế Thiền sư, tháp hiệu Quảng Nghiệp.

Sưcó làm bài kệ khích lệ chúng:

Trần lao quýnh thoát sự phi thường,

Hệ bã thằng đầu tố nhất trường.

Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt,

Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.

Dịch:

Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,

Ðầu dây nắm chặt giữ lập trường.

Chẳng phải một phen xương lạnh buốt,

Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn