Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

44. Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn Nhữ Châu

04/09/201102:42(Xem: 4495)
44. Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn Nhữ Châu

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 2
ĐỜI THỨCHÍN SAU LỤC TỔ

44.THIỀN SƯ TỈNH NIỆM
ỞThủ Sơn Nhữ Châu - (925 - 993)

Sưhọ Địch quê ở Lai Châu, xuất gia tại chùa Nam Thiền quậnnhà. Vừa thọ xong giới cụ túc, Sư dạo khắp các thiềnhội, thường thầm tụng kinh Pháp Hoa, nên được hiệu làNiệm Pháp Hoa.

Sau,Sư đến trong hội Phong Huyệt sung chức Tri khách. Một hôm,Sư đứng hầu, Phong Huyệt rơi nước mắt nói với Sư: Bấthạnh! đạo Lâm Tế đến ta sắp chìm lặng vậy. Sư thưa:Xem trong một chúng này đâu không có người kế thừa Hòathượng? Phong Huyệt bảo: Người thông minh thì nhiều, kẻthấy tánh rất ít. Sư thưa: Như con, Hòa thượng xem thế nào?Phong Huyệt bảo: Ta tuy trông mong ở ngươi đã lâu, vẫn engại đắm mến kinh này không thể buông rời. Sư thưa: Việcnày có thể làm được, mong nghe yếu chỉ ấy.

PhongHuyệt thượng đường. Nhắc lại việc Thế Tôn dùng con mắtnhư hoa sen xanh nhìn xem đại chúng, bèn hỏi:

- Chínhkhi ấy hãy bảo nói cái gì? Nếu bảo chẳng nói mà nói, lạilà chôn vùi thánh trước. Hãy bảo nói cái gì?

Sưbèn phủi áo đi ra. Phong Huyệt ném cây gậy trở về phươngtrượng. Thị giả chạy theo sau thưa: Niệm Pháp Hoa nhân saochẳng đáp lời Hòa thượng? Phong Huyệt nói: Niệm Pháp Hoađã hội.

Mộthôm, Sư cùng Huệ Chơn (Tri viên) đồng đến thưa hỏi. PhongHuyệt hỏi Huệ Chơn: Thế nào là Thế Tôn chẳng nói mà nói?Huệ Chơn thưa: Tu hú trên ngọn cây kêu. Phong Huyệt bảo:Ngươi tạo nhiều phước si làm gì? Sao không tham cứu ngôncú? Phong Huyệt hỏi Sư: Ngươi thì sao? Sư thưa: Đổi sắc(mặt) bày đường xưa. Chẳng rơi cơ lặng yên (động dungdương cổ lộ, bất đọa tiếu nhiên cơ). Phong Huyệt bảoHuệ Chơn: Ngươi sao chẳng xem Niệm Pháp Hoa hạ ngữ?

*

Hòathượng Sở ở Bạch Triệu đến Nhữ Châu nghỉ tại TuyênHóa. Phong Huyệt sai Sư đến truyền ngữ. Vừa gặp nhau, Sưđưa cao tọa cụ hỏi: Trải là phải, chẳng trải là phải?Bạch Triệu đáp: Nhà mình xem lấy. Sư liền hét! Bạch Triệubảo: Ta từng gần gũi thiện tri thức chưa từng dám làm nhưthế. Sư nói: Giặc cỏ đại bại. Bạch Triệu bảo: Ngàymai gặp Hòa thượng Phong Huyệt sẽ thuật lại đầy đủ.Sư thưa: Vâng! Vâng! Không nên quên mất.

*

Sưtrở về thưa lại với Phong Huyệt. Phong Huyệt bảo: Ngàynay lại bị ngươi bắt một viên giặc cỏ. Sư thưa: Tay khéochẳng khoe danh.

Hômsau, Bạch Triệu vừa đến gặp Phong Huyệt liền thuật lạilời hôm qua. Phong Huyệt bảo: Chẳng những hôm qua, ngày nayquả tang đã thua bị bắt.

*

Banđầu, Sư đến trụ Thủ Sơn đời thứ nhất. Ngày khai đườngcó Tăng hỏi:

- Thầyxướng gia khúc tông phong ai? nối pháp người nào?

Sưđáp:- Thiếu Thất trước núi xem bàn tay.

- Lạithỉnh hồng âm hòa một tiếng?

- Nhưnay cũng cần toàn thể biết.

*

Sưbảo chúng:

- Phậtpháp trao cho quốc vương đại thần đàn việt có thế lựckhiến đèn đèn mồi nhau tiếp tục không dứt cho đến ngàynay. Đại chúng hãy nói tiếp tục cái gì?

Sưim lặng giây lâu, lại nói:

- Ngàynay cần phải Sư huynh Ca-diếp mới được.

Tănghỏi:- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?

Sưđáp:

- Mộtlời cắt đứt ngàn cửa sông, trước ngọn muôn trượng mớiđược huyền.

- Thếnào là cảnh Thủ Sơn?

- Mặctình mọi người xem.

- Thếnào người trong cảnh?

- Ăngậy được hay chưa?

Tănglễ bái. Sư bảo: hãy đợi khi khác.

*

Tănghỏi:- Người xưa dở chùy, dựng phất ý chỉ thế nào?

Sưđáp:- Đảnh riêng không khách ngủ.

- Chưabiết ý chỉ thế nào?

- Chẳngphải người ôm gốc cây.

- Thếnào là con đường bồ-đề?

- Đâycách huyện nhượng năm dặm.

- Việchướng thượng thế nào?

- Qualại chẳng đổi.

*

Tănghỏi:- Chỗ chư Thánh nói chẳng tột, thỉnh Thầy nêu bày?

Sưđáp:- Thần quang muôn dặm trọn một chiếu, người nào dámbằng cùng mặt trời.

- Mộtcây lại nở hoa không?

- Nởđã lâu rồi.

- Chưabiết kết nụ chăng?

- Đêmqua đã gặp sương.

- LâmTế hét, Đức Sơn đánh, chưa biết để rõ việc gì?

- Ngươithử nói xem.

Tăngliền hét! Sư bảo: Mù! Tăng lại hét! Sư bảo: Gã mù nàyhét loạn thế ấy để làm gì? Tăng lễ bái. Sư liền đánh.

*

Tănghỏi:- Chúng Tăng vây quanh, Thầy nói pháp gì?

Sưđáp:- Đập cỏ rắn sợ.

- Chưabiết thế nào là hạ thủ?

- Vừarồi có bao nhiêu người nên tán thân mất mạng.

- Haicon rồng giành hạt châu, con nào được?

- Conđược là mất.

- Conchẳng được thì thế nào?

- Châuở chỗ nào?

*

Tănghỏi:- Thế nào là tướng phạm âm?

Sưđáp:- Lừa kêu chó sủa.

Sưlại bảo:

- Cầnđược thân thiết, nhất là đừng đem hỏi lại hỏi, hộichăng? Hỏi ở chỗ đáp, đáp ở chỗ hỏi.

Ngươinếu đem hỏi lại hỏi thì Lão tăng ở dưới gót chân ngươi,ngươi nếu suy nghĩ thì chẳng giao thiệp.

Khiấy có vị Tăng bước ra lễ bái. Sư liền đánh. Tăng liềnhỏi: Khi cặm gậy nơi núi sâu thì thế nào? Sư đáp: Lầm!Tăng nói: Lầm! Sư lại đánh.

*

Banđêm có vị Tăng vào thất, Sư hỏi: Ai? Tăng chẳng đáp. Sưnói: Biết được ngươi rồi. Tăng cười. Sư bảo: Lại đâuphải người khác? Nhân đó, Sư làm một bài kệ:

Khinh khinh đạp địa khủng nhân tri

Ngữ tiếu phân minh cánh mạc nghi

Trí giả chỉ kim mãnh đề thủ

Mạc đãi thiên minh thất khước kê.

Dịch:

Bước chân nhè nhẹ ngại người hay

Cười nói rõ ràng có gì nghi

Kẻ trí hiện nay gắng gìn giữ

Chớ đợi sáng mai gà mất đi.

*

Sưdạy chúng:

- Phậtpháp không có nhiều, chỉ vì bọn các ông tự tin chẳng đến.Nếu các ông tự tin thì ngàn vị Thánh ra đời cũng khônglàm gì được các ông. Vì sao như thế? Vì ở chỗ trướcmặt các ông không có chỗ mở miệng. Chỉ vì các ông tựtin không đến, chạy ra ngoài tìm cầu. Sở dĩ đến đượctrong ấy bèn là Phật Thích-ca, sẽ cho các ông ba mươi gậy.Tuy nhiên như thế, kẻ sơ cơ hậu học bằng vào đạo lýnào? Hãy hỏi các ông được cùng ấy hay chưa?

Sưim lặng giây lâu, nói tiếp:- Nếu được cùng ấy mới làvô sự.

*

Sưdạy chúng:

- ChưThượng tọa! Chẳng được hét cuồng hét loạn. Trong ấybình thường nói với các ông. Khách thì trước sau vẫn làkhách, chủ thì trước sau vẫn là chủ, khách không có haikhách, chủ không có hai chủ. Nếu có hai khách hai chủ tứclà hai gã mù. Do đó, nếu khi ta đứng thì các ông phải ngồi,đứng thì cùng ông đứng. Tuy nhiên như thế, đến trong ấyphải để mắt cho lanh mới được. Trong khoảng con mắt dừngchớp là xa ngàn dặm muôn dặm. Vì sao như thế? Ví như cáchcửa sổ nhìn con ngựa chạy qua, vừa suy nghĩ liền không dínhdáng.

ChưThượng tọa! đã vậy, nơi đây phải chín chắn lưu tâm,chẳng cần ôm rỗng, ngày kia giờ khác sẽ lừa phắt ôngvậy. Các ngươi! nếu có việc thì lại gần đây, vô sựthì trân trọng!

*

Sưcó làm bài kệ Cương Tông rằng:

Đốt tai chuyết lang quân

Xảo diệu vô nhân thức

Đả phá Phụng Lâm quan

Trước hài thủy thượng lập.

Đốt tai xảo nữ nhi

Thoán toa bất giải chức

Khán tha đấu kê nhân

Thủy ngưu dã bất thức.

Bối âm sơn tử hướng dương đa

Nam lai bắc vãng ý như hà

Nhược nhân vấn ngã tây lai ý

Đông hải đông diện hữu Tân La.

Dịch:

Dốt thay chàng trai quê (vụng)

Khéo léo không người biết

Đập phá cổng Phụng Lâm

Mang giày đứng trên nước.

Dốt thay cô gái sang (khéo)

Ném thoi chẳng biết dệt.

Xem người coi đá gà

Con trâu cũng chẳng biết.

Kẻ bỏ núi âm hướng dương nhiều

Sang nam đến bắc ý thế nào?

Nếu người hỏi ta Tổ sư ý

Mặt đông biển đông có Tân La (Triều Tiên)

*

ĐờiTống niên hiệu Thuần Hóa năm thứ ba (992) vào giờ ngọ ngàymùng bốn tháng chạp, Sư thượng đường nói kệ:

Kim niên lục thập thất

Lão bệnh tùy duyên thả khiển nhật

Kim niên ký khước lai niên sự

Lai niên ký trước kim triêu nhật.

Dịch:

Năm nay sáu mươi bảy

Già bệnh tùy duyên hãy đuổi theo

Năm nay ghi lại việc năm đến

Năm đến ghi chắc việc ngày nay.

*

Đếnnăm sau đúng ngày giờ nói trước, Sư thượng đường từbiệt chúng nói kệ:

Chư tử mạn ba ba

Quá khước cơ Hằng hà

Quan Âm chỉ Di-lặc

Văn-thù bất nại hà.

Các con dối lăng xăng

Lỗi nhiều cát sông Hằng

Quan Âm chỉ Di-lặc

Văn-thù biết làm sao?

*

Sư im lặng giây lâu, nói kệ:

Bạch ngân thế giới kim sắc thân

Tình dữ phi tình cộng nhất chân

Minh ám tận thời câu bất chiếu

Nhật luân ngọ hậu kiến toàn thân.

Dịch:

Thế giới bạch ngân thân sắc vàng

Tình với phi tình một tánh chân

Tối sáng hết rồi đều chẳng chiếu

Vầng ô vừa xế thấy toàn thân.

Mặttrời vừa xế, Sư ngồi yên thị tịch, thọ sáu mươi támtuổi.



8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn