Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

23. Thiền sư Pháp Diễn ở Ngũ Tổ

04/09/201102:42(Xem: 4734)
23. Thiền sư Pháp Diễn ở Ngũ Tổ

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 3
ĐỜI THỨMƯỜI BỐN SAU LỤC TỔ

23.THIỀN SƯ PHÁP DIỄNỞNgũ Tổ

Sư họ Đặng, quê ở Miên Châu, đến ba mươi lăm tuổi mớithế phát xuất gia. Sư thọ giới cụ túc xong đến Thành đôhọc tập luận Bách Pháp, Duy Thức. Sư nhân nghe Bồ-tát khivào kiến đạo, trí cùng lý hợp, cảnh cùng thần hội, chẳngphân năng chứng sở chứng. Ngoại đạo ở Ấn Độ thườngnạn Tỳ-kheo rằng: Đã chẳng phân năng chứng sở chứng,lại lấy cái gì làm chứng? Tỳ-kheo không đáp được. Ngoạiđạo chê bai không đánh chuông trống, chúng lại mặc ca-sa.Pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ cứu được nghĩa này rằng: "Như người uống nước lạnh nóng tự biết." Từ đây mớigiải được cái nạn này. Sư nói: Lạnh nóng ắt là biếtvậy, thế nào là việc tự biết? Sư liền chất vấn thầydạy: Chẳng biết lý tự biết như thế nào? Giảng sư cũngkhông giải được, chỉ khuyên rằng: Ngươi muốn rõ lẽ nàynên đến phương Nam hỏi những vị truyền Phật Tâm tông.Sư liền mang gói sang phương Nam.

Sư gặp các bậc tôn túc đều hỏi câu này, chỗ nghi trọnchẳng phá được. Khi đến Thiền sư Bổn ở Viên Chiếu thìnhững nhân duyên xưa nay đều hiểu hết. Chỉ hiểu chỗ: "Tăng hỏi Hưng Hóa: - Khi bốn phương tám mặt đến thì thếnào? Hưng Hóa đáp: - Đánh ở giữa đi. Tăng làm lễ. HưngHóa nói: - Hôm qua ta đi phó trai trong thôn đi đường gặpmột trận gió to mưa lớn, lại nhằm trong miếu cổ tránhđược qua." Sư đem điều này hỏi Thiền sư Bổn. Bổn đáp:- Đây là nhân duyên dưới tông Lâm Tế, phải hỏi con cháutrong nhà ấy mới được.

Sư liền đến yết kiến Thiền sư Viễn ở Phù Sơn thưa hỏiđiều này. Viễn bảo: - Ta có một thí dụ nói tương tợcho ông. Ông giống như kẻ bán củi trong ba thôn, gánh mộtgánh đến chữ thập (+) đầu đường đứng hỏi người,ở trong nhà ngày nay thương lượng việc gì?

Sư thầm nghĩ rằng: Nếu như thế vẫn chưa phải. Một hôm,Viễn bảo: - Ta già rồi e qua mất thì giờ của ông, nên đếnnương với Bạch Vân, lão này tuy hậu sanh ta chưa biết mặt,chỉ thấy bài tụng ba gậy của Lâm Tế có chỗ hơn người,ắt hay làm xong việc lớn cho ông. Sư thầm lặng lễ từ.

Đến Bạch Vân, Sư nhắc vị Tăng hỏi Nam Tuyền về châuma-ni để thưa hỏi. Bạch Vân liền nạt. Sư lãnh ngộ dângbài kệ đầu cơ:

Sơn tiền nhất phiến nhàn điền địa

Xoa thủ đinh ninh vấn Tổ ông

Kỷ độ mãi lai hoàn tự mại

Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong.

Dịch:

Trước non một mảnh nhàn điền địa

Tay chấp tận tình hỏi Tổ ông

Mấy độ bán ra rồi mua lại

Vì thương tùng trúc dẫn gió lành.

Bạch Vân ấn khả, sai coi việc trồng gai. Chưa bao lâu, BạchVân đến bảo Sư: - Có một số Thiền khách từ Lô Sơn đếnđều có chỗ ngộ nhập, bảo y nói cũng nói được rõ ràng,cử nhân duyên hỏi y cũng hiểu được, bảo y hạ ngữ cũnghạ được, chỉ là chưa hiện tiền.

Khi ấy Sư rất nghi, thầm nghĩ: Đã ngộ rồi nói cũng nóiđược, rõ cũng rõ được, tại sao chưa hiện tiền? Sư bènnghiên cứu luôn nhiều ngày, bỗng nhiên tỉnh ngộ, của báutừ trước buông hết, chạy đến yết kiến Bạch Vân. BạchVân dùng tay múa chân đạp. Sư chỉ một cái cười mà thôi.Sau Sư nói: - Tôi nhân đây khắp thân xuất mồ hôi, liềnrõ được dưới chỗ gió lành.

Một hôm Bạch Vân dạy chúng: - Người xưa nói như gươngđúc tượng, sau khi tượng thành gương ở chỗ nào? Chúnghạ ngữ đều chẳng khế hợp. Bạch Vân hỏi Sư, Sư lạigần thăm hỏi nói: - Cũng chẳng so sánh nhiều.

Bạch Vân cười bảo: - Phải là Đạo giả mới được.

Ban đầu Sư ra trụ trì chùa Tứ Diện, kế dời về BạchVân. Về già đến trụ Đông Sơn núi Ngũ Tổ.

Tăng hỏi:- Cầm gậy lãnh chúng Tổ lệnh đang hành, ngồicắt yếu tân, ý Sư thế nào?

Sư đáp:- Gió thu thổi sông Vị, lá rụng đầy Trường An.

Tăng thưa:- Tứ Diện không cửa núi non đẹp, ngày nay mớiđược chủ nhân về.

Sư bảo: - Ông nói đầu đường ở chỗ nào?

Tăng thưa: - Tại sao đối diện chẳng biết nhau?

Sư bảo: - Đáng mừng đến rồi.

Tăng hỏi: - Thế nào là một giọt nước Bạch Vân?

Sư đáp: - Giã gạo đập gai.

Tăng hỏi: - Người uống thì sao?

Sư đáp: - Bảo ông không chỗ để mắt.

Tăng hỏi: - Đầu lưỡi người trong thiên hạ bị Bạch Vânngồi cắt, đầu lưỡi Bạch Vân người nào ngồi cắt?

Sư đáp: - Thôn đông ông Vương Đại.

Sư thượng đường: Cổ nhân nói: "Nếu ta vì ông nói liềndứt mất lưỡi của ta, nếu chẳng nói với ông liền câmmất miệng của ta, hãy nói lại có chỗ vì người hay chăng?"Tứ Diện có khi nghĩ vì ông nuốt mất, chỉ bị răng trướccửa làm ngại, nghĩ vì ông mửa hết, lại bị cổ họng nhỏ,hãy nói lại có chỗ vì người hay không? Sư bèn nói: - TứDiện tự đến Liễu Hạ Huệ.

Sư thượng đường: Bạch Vân chẳng biết nói thiền, ba cửamở qua hai bên, có người động đến cây chốt, hai cánh quạtđông quạt tây.

Sư thượng đường: Một bề thế ấy đi, lộ vắng ngườithưa, một bề thế ấy đi, cô phụ thánh trước, bỏ hai lốinày Tổ Phật không thể gần, giả sử cùng Bạch Vân đồngsanh đồng tử cũng chưa xứng bình sanh. Sao vậy? Phụng Hoàngchẳng phải phàm phu vật, chẳng được ngô đồng thệ chẳngnương.

*

Tiểu tham Sư nhắc, Đức Sơn nói: "Đêm nay chẳng đáp thoại,người hỏi thoại ăn ba mươi gậy." Trong chúng thông đó rấtnhiều, hiểu đó chẳng ít. Hãy nói nhằm chỗ nào thấy ĐứcSơn? Có người nào chẳng tiếc tánh mạng thử ra nói xem?Nếu không, Sơn tăng vì đại chúng cùng Lão nhân Đức Sơnthấy nhau vậy. Đợi Đức Sơn nói: "đêm nay chẳng đáp thoại,người hỏi thoại ăn ba mươi gậy" chỉ nhằm Ngài nói: "cóthoại cũng chẳng hỏi, gậy cũng chẳng ăn". Các ông nói,lại ăn gậy Đức Sơn chăng? Đến trong đây phải là kẻấy mới được. Huống là ta hơn mười năm trên biển kiếmtìm, thấy mấy vị tôn túc tự cho là hiểu đúng. Khi đếntrong hội Phù Sơn liền là mở miệng chẳng được. Sau đếndưới cửa Bạch Vân, nhai vỡ được một hạt đậu đá liềnđượctrăm vị đầy đủ. Hãy nói một câu hạt đậu làm sao nói?Sư lại nói: Hoa nở màu gà my sớm thu, người nào hay nhuộmđỏ sợi tơ, có khi gió động cùng nương tựa, dường nhắmtrước thềm dấu chẳng thôi.

*

Sư thượng đường: Hôm qua Sơn tăng vào thành thấy một hàngrào trong là người gỗ, liền lại gần xem, hoặc thấy đẹpđẽ kỳ lạ, hoặc thấy xấu xa vô kể, chuyển động đingồi xanh vàng đỏ trắng mỗi mỗi thấy rõ, khi xem kỹ vốnlà miếng vải xanh bọc lại ở trong có người. Lão tăng khôngthể chịu nổi, bèn đến hỏi ông tên gì, kia nói: Hòa thượnggià xem là xong, hỏi tên làm gì? Đại chúng! Lão tăng bịkia hỏi một câu khiến cho không lời có thể đáp không lýcó thể bày. Lại có người vì Sơn tăng nói được chăng?Hôm qua trong ấy rơi cành, ngày nay trong đây nhổ gốc.

*

Sư dạy chúng: Chân như phàm thánh đều là lời mộng, Phậtvà chúng sanh đều là Tăng ngữ. Hoặc có người ra nói: LãoBàn Sơn ghê! Chỉ nói với y: Chẳng nhân Tử Bá hoa nở sớm,đâu được hoàng oanh đậu liễu tơ. Nếu lại hỏi rằng:Lão Ngũ Tổ ghê! Tự bảo: Vâng! Tỉnh tỉnh lấy.

*

Sư dạy chúng nhắc: Hòa thượng Đức Sơn nhân Tăng hỏi "chưThánh từ trước lấy pháp gì dạy người", Đức Sơn đáp: "tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người?" Tuyết Phongdo đây có tỉnh. Sau có vị Tăng hỏi Tuyết Phong: "Hòa thượngthấy Đức Sơn được cái gì liền thôi đi", Tuyết Phong nói: "ta khi ấy đi tay không về tay không". Ngày nay Bạch Vân nói: "Nhằm thấu chưa qua." Có người từ Đông Kinh lại, hỏi y: "chỗ nào lại", y lại nói: "Tô Châu lại", hỏi y: "Tô Châuviệc thế nào", y nói: "tất cả tầm thường". Tuy nhiên nhưthế, dối Bạch Vân chẳng được. Cớ sao? Chỉ vì ngữ âmmỗi nơi có khác. Cứu kính thế nào? Tô Châu ấu, Thiệu Básen.

*

Ba ông Phật hầu Sư, trên một cái nhà trạm nói thoại banđêm, đến khi trở về đèn đã tắt. Sư ở trong tối bảo:- Mỗi người hạ một chuyển ngữ.

Phật Giám thưa: - Phụng đẹp múa đêm vắng.

Phật Nhãn thưa: - Rắn sắt ngang đường xưa.

Phật Quả thưa: - Xem gót chân.

Sư bảo: - Diệt tông ta là Khắc Cần vậy.

*

Niên hiệu Sùng Ninh thứ ba (1104) ngày hai mươi lăm tháng sáu,Sư thượng đường từ chúng: Hòa thượng Triệu Châu có câurốt sau, các ông làm sao hội, thử ra nói xem? Nếu hội đượcchẳng ngại sống thích thú tự tại, bằng chưa được thế,việc tốt này làm sao nói? Sư im lặng giây lâu nói: Nói tứcnói rồi, chỉ là các ngươi chẳng biết. Cần hiểu chăng?Giàu hiềm ngàn miệng ít, nghèo hận một thân nhiều. Trântrọng! Sư trở về trượng thất tắm gội sạch sẽ, gầnsáng nằm kiết tường mà tịch.




8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn