Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

12. Thiền sư Tuyên Giám ở Đức Sơn

03/09/201113:53(Xem: 5169)
12. Thiền sư Tuyên Giám ở Đức Sơn

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 2
ĐỜI THỨNĂM SAU LỤC TỔ

B.Phái Hoài Nhượng

12.ĐỨC SƠN TUYÊN GIÁM(780-865)

Sưhọ Chu quê ở Kiếm Nam, Giản Châu, xuất gia lúc hai mươituổi, cũng năm ấy thọ giới cụ túc. Sư nghiên cứu tinhthâm Luật tạng, thông suốt chỉ thú các kinh thuộc Tánh tôngvà Tướng tông. Vì thường giảng kinh Kim Cang Bát-nhã, nênthời nhân gọi Sư là Chu Kim Cang. Sư thường nói với đồnghọc: "Một sợi lông nuốt bể cả, tánh bể không thiếu;hạt cải nhỏ ném trên mũi nhọn, mũi nhọn chẳng động,học cùng không học chỉ có ta biết thôi."

Nghephương Nam Thiền tông thạnh hành, Sư bất bình nói: "Kẻ xuấtgia muôn kiếp học oai nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnhcủa Phật, chẳng còn được thành Phật. Những kẻ ma ởphương Nam dám nói "trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật".Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết những giốngấy để đền ơn Phật." Sư bèn khăn gói lên đường mangtheo bộ Thanh Long sớ sao, ra khỏi đất Thục, nhắm Lễ Dươngtiến bước.

Trênđường, Sư gặp một bà già bán bánh, bèn dừng nghỉ chânvà bảo bà lấy ít cái bánh điểm tâm. Bà già chỉ gánh củaSư hỏi: Gói ấy là sách vở gì? Sư bảo: "Thanh Long sớsao." Bà hỏi: "Thầy thường giảng kinh gì?" Sư đáp: "KinhKim Cang." Bà nói: "Tôi có một câu hỏi, nếu Thầy đáp được,tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp chẳng được,mời Thầy đi nơi khác". Sư chịu. Bà hỏi: "Kinh Kim Cang nói "quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc,vị lai tâm bất khả đắc", xin hỏi Thượng tọa điểm tâmnào?" Sư đáp không được, bèn hỏi đường lên Long Đàm.

*

ĐếnPháp đường (nhà nói pháp) gặp Long Đàm, Sư nói: "Lâu naynghe danh Long Đàm, đi đến nơi Đàm (đầm) chẳng thấy, màLong (rồng) cũng không hiện." Sùng Tín bảo: "Ngươi đã gầnđến Long Đàm." Sư không đáp được, liền dừng lại đây.

*

Mộtđêm, Sư đứng hầu. Sùng Tín bảo: "Đêm khuya sao chẳng xuống?"Sư kính chào bước ra, lại trở vào, thưa: "Bên ngoài tốiđen." Sùng Tín thắp đèn cầy đưa Sư. Sư toan tiếp lấy,Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó, Sư đại ngộ, liền lễbái. Sùng Tín hỏi: "Ngươi thấy cái gì?" Sư thưa: "Từ nayvề sau chẳng còn nghi lời nói chư lão Hòa thượng trong thiênhạ."

Hômsau, Sùng Tín lên tòa bảo chúng:

- Trongchúng đây có một gã răng như kiếm bén, miệng tợ chậumáu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núicao vót dựng lập đạo của ta.

*

Sưđem bộ sớ sao chất đống trước pháp đường (nhà nói pháp)nổi lửa đốt, nói:

- Tộtcùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném tronghư không; hết sạch các trọng yếu ở đời in một nhỏ nướcgieo trong hồ lớn. Sư lễ từ Sùng Tín đi du phương.

*

ĐếnQui Sơn, Sư vào pháp đường từ phía tây đi qua phía đông,lại từ phía đông sang phía tây, hỏi: "Có chăng? Có chăng?"Qui Sơn ngồi lặng lẽ không ngó tới. Sư nói: "không, không",liền đi thẳng ra cửa tự nói: "Tuy nhiên như thế cũng chẳngđặng thô xuất." Sư bèn đầy đủ oai nghi đi trở vào. Vừabước ra cửa, Sư đưa tọa cụ lên, gọi: "Hòa- thượng",Qui Sơn toan nắm phất tử, Sư liền hét, phủi áo ra đi.

Chiều,Qui Sơn hỏi Thủ tọa: "Vị Tăng mới đến khi sáng còn ởchăng?" Thủ tọa thưa: "Ngay khi đó, y trở ra pháp đườngmang giày cỏ đi luôn." Qui Sơn bảo: "Gã ấy về sau, lên tậnngọn núi cao, cất am cỏ ở, để rồi quở Phật mắng Tổ."

Sưdừng lại Lễ Dương 30 năm. Gặp lúc Đường Võ Tôn phếgiáo, Sư tị nạn ở một mình trong thạch thất tại Phù Sơn.Đến thời Đại Trung năm đầu (847), Thái thú tên Tiết ĐìnhVọng tái trùng tu tịnh xá Đức Sơn để hiệu là Cổ đứcThiền viện, tìm kiếm những vị đạo hạnh trụ trì. Nghetiếng Sư, Đình Vọng nhiều phen đến thỉnh, Sư chẳng chịuxuống núi. Đình Vọng lập kế, lấy trà, muối đến phaovu Sư phạm cấm pháp, điệu Sư về Châu chiêm lễ. Đình Vọngcố thỉnh cho được Sư ở Đức Sơn. Sau cùng Sư chấp nhận.Ở đây, Sư xiển dương Tông phong rất thạnh.

*

Sưthượng đường bảo chúng:

- Nơimình vô sự thì chớ vọng cầu, vọng cầu mà được cũngchẳng phải được. Các ông chỉ vô sự nơi tâm, vô tâm nơisự thì hư (rỗng) mà linh (lanh lẹ), không mà diệu.

Nếucó nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối.Còn có mảy may nghĩ nhớ, là nghiệp nhân tam đồ. Bất chợtsanh tình (vọng khởi) là muôn kiếp bị khóa kín (địa ngục).Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệthình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó, màkhông bị lụy sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn?Cả hai đều là vô ích.

*

Sưthượng đường bảo:

- Hômnay tối không được thưa hỏi, ai thưa hỏi sẽ ăn ba mươigậy. Khi ấy có một vị Tăng bước ra lễ bái, Sư liền đánh.Tăng ấy thưa:

- Conchưa thốt ra lời hỏi, vì sao Hòa thượng đánh con?

Sưhỏi:- Ông là người xứ nào?

- Conngười Tân La (Triều Tiên).

Sưbảo:- Ông khi chưa xuống thuyền đã đáng ăn ba mươi gậyrồi.

*

LongNha hỏi:

- Khicon cầm kiếm Mạc Da toan chặt đầu Thầy thì sao?

Sưđưa cổ đến trước. Long Nha nói: "Rơi." Sư cuời hả!hả! Sau, Long Nha đến Động Sơn, thuật lại việc ấy. ĐộngSơn hỏi: "Đức Sơn nói thế nào?" Long Nha thưa: "Đức Sơnkhông nói." Động Sơn bảo: "Chớ nói Đức Sơn không nói,hãy đem đầu Đức Sơn trình Lão tăng xem?" Long Nha biết lỗixin sám hối.

Cóngười đem việc ấy thuật lại Sư, Sư bảo: "Ông già ĐộngSơn không biết tốt xấu, gã ấy đã chết được bao lâu,cứu được chỗ dụng gì?"

*

Sưthượng đường bảo: "Hỏi tức có lỗi, chẳng hỏi lạitrái." Có vị Tăng bước ra lễ bái. Sư liền đánh. Tăng thưa: "Con mới lễ bái vì sao Hòa thượng đánh?" Sư bảo: "Đợingươi mở miệng làm gì kịp."

*

Sưsai thị giả gọi Nghĩa Tồn, Nghĩa Tồn đến, Sư bảo: "Tabảo kêu Nghĩa Tồn, ngươi đến làm gì?" Nghĩa Tồn khôngđáp được.

*

Sưthấy vị Tăng đến, liền đóng cửa. Vị Tăng gõ cửa. Sưhỏi: "ai?" Tăng thưa: "sư tử con". Sư mở cửa. Tăng lễ bái.Sư liền leo lên cổ cỡi, nói: "Súc sanh này từ xứ nào đến?"

*

TuyếtPhong Nghĩa Tồn hỏi: "Tông thừa từ trước, riêng con có phầnchăng?" Sư đánh một gậy, bảo: "Nói gì?" Nghĩa Tồn thưa: "Chẳng hội." Hôm sau, giờ thưa hỏi, Sư nói: "Tông của takhông cầu lời, thật không có một pháp dạy người." TuyếtPhong nhân câu này được tỉnh.

*

Sưdạy chúng:

- Cácông từ sáng đến chiều có việc gì? chẳng cần trình môilừa, mỏ ngựa hỏi Lão già Đức Sơn sao? Ta chẳng sợ cácông, chưa biết các ông có những nghi vấn gì?

Gầnđây trong thời kỳ mạt pháp, có rất nhiều bọn quỉ thầnở nhà bên nói rằng "ta là Thiền sư". Chẳng biết học đượcbao nhiêu thiền đạo, nói tương tợ cho Lão tăng nghe? Cácông! Những lão trọc ở mọi nơi dạy các ông tu hành thànhPhật, chạy bên ngoài thành được bao nhiêu ông Phật? Cácông nếu không thể học, lại chạy tìm cái gì? Nếu có họccác ông thử đem cái học được trình cho Lão tăng xem? Mộtcâu chẳng tương đương phải ăn một gậy đau điếng mớiđược.

Cácông bị những lão trọc mọi nơi dùng ma mị làm bệnh, nóita là người tu hành, làm ra hình thức in tuồng bộ mặt ngườiđắc đạo. Chớ có nhận dụng tâm như thế, muôn kiếp ngànđời luân hồi trong tam giới đều là "Có tâm". Vì cớ sao?Vì tâm sanh thì các thứ pháp sanh. Nếu khéo một niệm chẳngsanh thì hằng thoát khỏi sanh tử, chẳng bị sanh tử tróibuộc, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, lại còn có việcgì?

*

Nhângiả! ta thấy các ông phát tâm đến trong hội những lão trọchọc Phật pháp, gánh vác chẳng tiếc thân mạng, rốt cuộccác ông đều bị đâm đui mắt, đoạn đứt mạng căn. Cóvài ba trăm kẻ tương tợ dâm nữ, nói: "ta làm hóa chủ dựnglập pháp tràng, vì người sau mở mắt cho họ". Kẻ ấy tựcứu được chăng?

Nhângiả! nói tu hành như thế, các ông đâu chẳng nghe Lão Hồ(ông già Ấn Độ, chỉ Phật) trải ba kiếp A-tăng-kỳ tu hànhmà nay còn đâu? Sau tám mươi (80) năm chết mất, cùng cácông có khác gì?

Cácông chớ cuồng! Khuyên các ông không gì hơn THÔI HẾT đi,VÔ SỰ đi. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộcnhà ma, là kẻ tục phá giới.

Cácông thấy Đức Sơn ra đời năm năm, mười năm, đồng nghĩtụ họp nhau đến nạn vấn, mong ta đớ lưỡi không lời.Các ông thật là bọn lâu la. Sao nay chẳng để cây dùi xoiphủng đãy đựng, xuất đầu hay chẳng xuất đầu là tốt,ta cần hỏi thật các ông, chớ lầm.

*

Nhângiả! Các ông chạy lăng xăng bên nhà ngoài, nói ?ta hiểu thiền,hiểu đạo?; chỉ ngực, chỉ sườn, khen ngợi, trịnh trọng.Những cái ấy cần phải mửa hết mới được Vô Sự.

Cácông chỉ cần ngoài không mắc thanh sắc, trong không hiểu biếtnăng sở. Vì thể không phàm thánh, lại học cái gì? Dù họcđược trăm ngàn diệu nghĩa, chỉ là con quỉ ăn ghẻ bướu,thảy đều là tinh mị. Ta trong ấy rỗng thênh, nói có chẳngphải có, nói không chẳng phải không, nói phàm chẳng phàm,nói thánh chẳng thánh, tất cả chỗ để y chẳng được,mà làm thầy muôn pháp, cái ấy ta chẳng dám chê y.

Sởdĩ Lão Hồ (Phật) mửa ra bao nhiêu phương tiện đàm dãi dạycác ông VÔ SỰ đi, chớ nhằm bên ngoài tìm. Các ông lạichẳng nhận, muốn được gom góp những ngôn cú thù thắng,dồn trong hông trong ngực, nói lời khéo léo, lấy đầu lưỡibiện đến quần vải, cốt mong cho người biết, nói ta làThiền sư, mong có chỗ xuất đầu lộ diện. Nếu có kiếngiải như thế là con quỉ ở xương trôn, có ngày sẽ vàođịa ngục Bạt thiệt. Đến đó rồi, tìm người nói ta làThiền sư đi!

Kẻkhách trong nhà thiền vừa bị người hỏi đến việc bổnphận, miệng in cây cọc, liền trở lại nói với họ Bồ-đềNiết-bàn chân như giải thoát, dẫn rộng trong ba tạng, nóigiáo là thiền là đạo, dối gạt người chung quanh, có gìlà dính dáng, chê bai tiên Tổ của ta.

Chỗthấy của lão Đức Sơn này chẳng phải thế, trong ấy Phậtcũng không, pháp cũng không; Đạt-ma là ông già Hồ tanh hôi,Bồ-tát thập địa là kẻ gánh phẩn, Đẳng giác Diệu giáclà kẻ phàm phu phá giới, Bồ-đề Niết-bàn là cây cọc cộtlừa, mười hai phần giáo là bộ sổ của quỉ thần là giấylau ghẻ, Tứ quả Tam hiền Sơ tâm Thập địa là quỉ giữmồ xưa, tự cứu được chăng? Phật là cục phân của ônggià Hồ (Ấn).

*

Nhângiả! chớ lầm thân mặc áo ghẻ bướu, học việc gì? Ăncơm no rồi, nói chân như Niết-bàn, ngoài da lại có máu chăng?Cần phải có ý khí trượng phu mới được.

Cácông chớ mến thánh, thánh là danh từ rỗng. Đến tam giớimười phương thế gian, nếu có một hạt bụi, một pháp thậtđể cho các ông nhận lấy, sanh hiểu gìn giữ quí trọng,trọn rơi vào thiên ma ngoại đạo, ấy là có học được,cũng là bọn tinh mị dã hồ nương cỏ dựa cây.

Cácông! khoảng này không có một pháp cho các ông giải hội,tự mình cũng chẳng hội thiền. Ta cũng chẳng phải thiệntri thức, mọi việc đều không hiểu, chỉ biết đi ỉa điđái, ăn cơm mặc áo, còn có việc gì?

LãoĐức Sơn này khuyên các ông chi bằng giữ bổn phận đi, sớmthôi dứt đi, chớ học cuồng loạn, mỗi người gánh tửthi một cách linh hoạt đi. Các lão trọc trong miệng ưa ănđàm dãi của người, nói "ta là người vào tam giới tu hạnhuẩn tích, nuôi lớn thai thánh, nguyện thành quả Phật". Nhữngbọn như thế, Lão Đức Sơn này thấy như tên độc bắn vàotim, kim châm vào mắt, đã cô phụ tiên Tổ, làm lụy Tôngđồ của ta. Họ nói "ta là kẻ xuất gia", như thế ăn tiêucủa thí chủ mười phương, thật sự một giọt nước cũngchẳng tiêu đặng, còn chẳng dám đi trên đất quốc vương,cha mẹ không nuôi món ngon vật lạ, đâu phải là không việc.Chớ lầm dụng tâm, vua Diêm-la sẽ thăm hỏi ngươi, sẽ xỏmũi ngươi trói vào cột trụ để đền lại nợ trước. Chớbảo Lão tăng chẳng nói.

Cácông thật là có phước gặp Đức Sơn ra đời, vì các ôngcởi dây trói buộc, thoát khỏi lồng giam, gỡ khỏi lưng ngựa,được làm người tốt, tam giới lục đạo bắt ông chẳngđược. Lại không có pháp khác. Cái sáng rỡ rỗng rang khôngngại tự tại ấy, chẳng phải vật do các ông trang nghiêmđược. Từ Phật đến Tổ đều truyền pháp này mà đượcxuất ly. Một Đại tạng kinh chỉ là chỉnh lý các ông hiệnthời.

Cácông chớ nhằm chỗ khác tìm kiếm, cho đến Đạt-ma _ vịTăng nước Hồ con mắt xanh nhỏ_ đến xứ này cũng chỉ dạycác ông Vô Sự đi, dạy các ông chớ tạo tác, mặc áo ăncơm, đi ỉa đi đái, lại không có sanh tử đáng sợ, cũngkhông Niết-bàn nên được, không Bồ-đề để chứng, chỉlà tầm thường một người Vô Sự.

Nhấtlà, chớ khoanh tay làm Thiền sư, tìm chỗ xuất đầu, dùnglời khéo léo lừa gạt kẻ hậu sanh, muốn được ngườigọi mình là Trưởng lão, trên phần của chính mình khôngchút dính dáng, vẫn là tâm thức lăng xăng ngày đêm tác quáichẳng dừng, tán thán trịnh trọng ta là tông đồ của MãĐại sư ở Giang Tây. Lão Đức Sơn này chẳng phải thế.

Nàyhết thảy các ông! ta thấy Hòa thượng Thạch Đầu ông giàkhông biết tốt xấu, sở dĩ mă?g các đồ đệ: ?các ngươichớ mắc nơi thanh sắc, danh ngôn, cú nghĩa, cảnh trí, cơquan, đạo lý thiện ác, phàm thánh, thủ xả, phan duyên, nhiễmtịnh, minh ám, hữu vô, trong các cái đáng nghĩ, được thếmới phải là người Vô Sự. Phật cũng chẳng bằng ngươi,Tổ cũng chẳng bằng ngươi.?

*

Nhângiả! chớ chạy mòn gót chân các ông, không có thiền đạonào khác có thể học. Nếu có học được, tức là hai đầuba cổ, là kiến giải của ngoại đạo. Cũng không có thầnthông biến hóa thật. Nếu ông nói thần thông là thánh thìchư thiên, long thần, tiên, ngoại đạo được ngũ thần thôngvà tu-la cũng có thần thông lý ưng là Phật sao?

Ởtrên đảnh núi một mình, ngày ăn một bữa, ngồi mãi chẳngnằm, sáu thời lễ tụng, vẫn còn hồ nghi sanh tử. Lão Hồ(Phật) có nói: "các hạnh vô thường là pháp sanh diệt". Nếunói nhập định ngưng thần tịnh lự mà được, bọn Ni-kiền-tửv.v? các thầy ngoại đạo cũng nhập được đại định támmuôn kiếp, đâu chẳng phải là Phật ư? Phải biết rõ tàkiến tinh mị.

*

Nhângiả! Lão Hồ chẳng phải Thánh. Phật là cục cứt của LãoHồ. Cần thiết nhân giả biện rành tốt xấu, chớ mắc nhânngã thì khỏi bị chư thánh cột, Bồ-đề cột, giải thoát,thù thắng, danh ngôn, diệu nghĩa nhận chìm, trói buộc. Vìcớ sao? - Vì một niệm vọng tâm chẳng sạch tức là sanhtử tiếp nối.

Nhângiả! thời giờ chẳng đợi người, chớ để trôi qua thángngày, thời gian đáng tiếc. Lão tăng chẳng mong các ông làmkẻ tớ gánh vác ruộng nhà. Nếu các ông chấp nhận thì tinlấy, nếu chẳng chấp nhận thì mỗi người có một cái bátmang lên vai mà đi. Lão tăng cũng chẳng cần các ông.

Cáclão trọc ở mọi nơi, một người chiếm cứ một xứ, nóithiền nói đạo, các ông mau đi học lấy chép lấy. Ta trongđây không có một pháp cho các ông.

Nhângiả! hỏi lấy học lấy để làm tri giải, Lão tăng khôngthể vào địa ngục Bạt thiệt. Nếu có một hạt bụi, mộtpháp chỉ dạy cho người, nói rằng có Phật có pháp, có tamgiới để ra, đều là dã hồ tinh mị.

*

Chưnhân giả! muốn được biết chăng? Chỉ là cái rỗng không,còn không có một mảy bụi có thể được, nơi nơi thanh tịnh,sáng rỡ rỗng suốt, trong ngoài đều sáng suốt, vô sự, vôy, không chỗ nương gá thì có việc gì? Lão tăng từ sanh đếntử chỉ là Lão tỳ-kheo, tuy sanh trong tam giới mà không cấunhiễm, còn muốn được ra khỏi chỗ nào? Dù có chỗ đi,cũng là lồng bẫy, ma sẽ có cơ hội thuận tiện.

Nhângiả! chớ dụng thân tâm, vì không thể được, chỉ cầntrong tất cả thời chớ kẹt nơi thanh sắc, cốt phải nhữnghành lý từ trước một lúc ném hết, chóng thoát xiềng xích,hằng lìa cái (ngũ cái) triền (thập triền). Một niệm khôngsanh thì mé trước mé sau dứt, không nghĩ không nhớ, khôngmột pháp hợp tình.

*

Nhângiả! làm sao cắm mỏ xuống, các ông nhiều tri giải, đãtừng biết mặt mày y chăng? Kẻ xuất gia, cho đến bậc Bồ-tátthập địa mãn tâm tìm dấu vết của y cũng chẳng được.Do đó, chư thiên hoan hỉ, địa thần đỡ chân, mười phươngchư Phật khen ngợi, ma vương khóc lóc. Vì cớ sao? Bởi cáirỗng không này hoạt bát rạng ngời, không cội gốc, khôngchỗ nơi. Nếu người đến được trong ấy, con mắt đứngchớp đều không liên hệ.

*

Nhângiả! chớ cầu Phật, Phật là kẻ giặc đại sát nhân lừabao nhiêu người rơi vào hầm ma dâm. Chớ cầu Văn-thù PhổHiền, là kẻ tớ ruộng nhà. Đáng tiếc, là bậc trượngphu đường đường mà uống thuốc độc của người. Bèntoan làm Thiền sư, trước mặt thấy thần thấy quỉ, vềsau cuồng loạn chạy sang nhà bên tìm Sư bà đập ngói bóicho. Bị các lão trọc vô tri, xủ quẻ bảo lễ quỉ Tổ sư,quỉ Phật, quỉ Bồ-đề Niết-bàn. Kẻ dâm nữ nhỏ ấy chẳnghội, liền hỏi "thế nào là ý Tổ sư từ tây sang", lão trọckia liền đánh giường thiền làm cảnh, hoặc dựng phất tử,bảo "trời trong tốt, mưa tốt, lồng đèn tốt", lời lẽkhéo léo gượng làm tiết mục, có huyền lộ, điểu đạo,xè tay. Nếu nhận những lời nói như thế, khác nào đem bátbáu đựng đồ dơ, như đem phẩn làm hương chiên-đàn.

*

Nhângiả! kia đã là trượng phu, ta cũng vậy, khiếp nhược vớiai? Mà trọn ngày đến các lão trọc mọi nơi nhận lấy đàmdãi của họ, trọn không biết hổ thẹn, khổ thay! khổ thay!làm cuồng loạn ngươi, nhân quả rõ ràng sẽ làm thân trâukéo cày mang bừa.

Hoặckẻ tròng mắt chợt hiện, khí lực chẳng thêm, dùng gậyto đập xương sống ông, ăn cướp áo cơm của Phật, nói "ta tu hành xong".

*

Sưdạy chúng:

- Cókhi cỡi đầu cọp nắm đuôi cọp, câu thứ nhất rõ tôngchỉ, khi không nói thấy bày cơ phong, như đồng điện chớp.

*

Sưcó bệnh, Tăng hỏi: "Lại có cái chẳng bệnh chăng?" Sư đáp: "Có"

Tănghỏi: "Thế nào là cái chẳng bệnh?" Sư bảo: "Ôi da! Ôi da!"

Sưlại bảo chúng:

- Chụpkhông tìm tiếng luống nhọc tâm thần các ngươi; mộng tỉnh,tỉnh rồi trọn không có việc gì.

Nóixong, Sư ngồi yên mà tịch. Nhằm đời Đường niên hiệuHàm Thông năm thứ sáu (865), ngày mùng ba tháng chạp năm ẤtDậu. Sư thọ tám mươi sáu tuổi. Vua sắc thụy Kiến TánhĐại sư.

*

LỜIDỊCH GIẢ

Chúngtôi cố tránh né không dám lạm bàn những ngôn ngữ và hànhđộng của chư Thiền đức. Bởi lẽ không muốn độc giảnhai lại những bã xác mía khô, để mỗi độc giả tự thưởngthức vị cam lồ của chính mình phát minh.

Nhưng,qua ngôn ngữ của ngài Đức Sơn, nếu chúng tôi không bàne có nhiều độc giả hiểu lệch lạc, khiến bản nguyệncủa chúng tôi không đạt được, mà có thể trái lại làkhác. Do đó, chúng tôi có ít lời bình như sau:

ĐứcSơn là một ngôi sao sáng trong Thiền môn vào thời Đườngmạt. Những Thiền sinh đến tham vấn đa số được Ngài choăn gậy. Mỗi khi thượng đường dạy chúng, Ngài thườngdùng những ngôn ngữ táo bạo, mà người ta gọi là "mắngPhật mạ Tổ".

Vìsao Đức Sơn có hành động ngôn ngữ ấy? Bởi lẽ, Ngài quáNHIỆT TÌNH, nói theo danh từ nhà Thiền có "tâm lão bà". Chúngta thấy, khi Ngài cất gánh kinh lên vai sang phương Nam, khôngvì tìm hiểu thiền, mà cốt "tiêu diệt chúng ma quái (Thiềntông) để báo ân Phật". Tâm niệm ấy, đã nói lên Ngài làsứ giả của Luật, Giáo. Luật, Giáo là lý tưởng tối thượngđời Ngài phải phụng thờ. Như vậy, Ngài sang phương Namvới NHIỆT TÌNH hộ pháp "tồi tà phụ chánh" (dẹp tà giúpchánh).

Saukhi gặp Long Đàm, lý tưởng tối thượng của Ngài tôn thờđã trở thành hình ảnh chết, là cặn bã của người xưa.Chí nguyện "tồi tà phụ chánh" của Ngài đã tan biến nhưmây khói, hay ngược lại chính Ngài tự thấy mình là nguời "phụ tà tồi chánh" (giúp tà dẹp chánh). Đột biến bấtthần ấy, khiến Ngài mang gánh kinh ra trước pháp đườngthiêu sạch.

Cóngồi nhà giam mới biết thương những người bị giam, đólà NHIỆT TÌNH của Đức Sơn qua giai đoạn hai.

Thiền,Đạo là cái linh minh hiện hữu nơi mình. Song vừa khởi tâmtìm nó liền mất, mong thấy nó đã chẳng hiện. Nó khôngphải những văn tự khô cằn, cũng không phải ngôn ngữ sanhdiệt. Bám vào văn tự, vào ngôn ngữ để cầu Thiền cầuĐạo thật là đại sai lầm. Bỏ mình đi cầu Thiền cầuĐạo nơi người, thật là việc "cỡi trâu tìm trâu", "bính đinh cầu hỏa".

Nhưng,nhà giam văn tự ngôn ngữ, dây xiềng cầu cạnh bên ngoàiđã và đang giam giữ xiềng xích bao nhiêu người có thiệnchí học đạo. Do đó, với NHIỆT TÌNH của Đức Sơn phảiđập tan nó bằng gậy, mạt sát chúng bằng lời, hầu mongcổi trói cho mọi người. Đúng như lời bình của Vân Mônsau này "chỉ có Đức Sơn mới hay khen ngợi Phật, Tổ".

Phật,Tổ cố lập mọi phương tiện để phá chấp cho chúng ta.Chúng ta không mượn phương tiện ấy để gột sạch vọngchấp của mình, trái lại bám lấy phương tiện cho là cứukính, thật là tự lấy dây trói mình. Khi đã bị trói rồi,chạy cầu người khác mở trói. Đó là từ sai lầm này sangsai lầm khác, cả đời lẩn quẩn làm sao thoát được!

Aiđã có "tâm lão bà" trông thấy thế mà chẳng thương? Huốngnữa Đức Sơn là một nạn nhân vừa thoát nạn, trông thấybạn đồng hành của mình đang bị bao vây, làm sao không cónhững cái đánh tóe lửa, những lời mắng tét tai, lấy làmphương tiện cứu cấp.

Chonên, đọc Đức Sơn, chúng ta đừng khó chịu bởi ngôn ngữvà hành động của Ngài, vì biết đó là phương tiện cấpbách, cũng đừng bắt chước ngôn ngữ ấy để phỉ bángTam Bảo mà phải đọa địa ngục. Chúng ta cần phải họcNHIỆT TÌNH của Đức Sơn, và cốt nhận ra chỗ chí yếu màNgài muốn chỉ dạy.

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn