Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

06. Thiền sư Khắc Văn Chơn Tịnh ở Phần Đàm

04/09/201102:42(Xem: 4488)
06. Thiền sư Khắc Văn Chơn Tịnh ở Phần Đàm

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 3
ĐỜI THỨMƯỜI BA SAU LỤC TỔ

6.THIỀN SƯ KHẮC VĂN CHƠN TỊNHỞPhần Đàm

Sư họ Trịnh, quê ở Văn Hương Thiểm Phủ. Họ Trịnh ởthế tục phần lớn làm công khanh. Sư sanh ra có những điềuquái lạ, mồ côi mẹ sớm, thờ dưỡng mẫu rất chí hiếumà không được thương. Dưỡng mẫu hà khắc Sư một cáchđau khổ, cha ông thương xót bảo đi du học bốn phương. Sưđến Bắc Tháp ở Phục Châu nghe kỳ túc Quảng Công thuyếtpháp, cảm động đến rơi lệ. Sư ở lại đây thờ QuảngCông làm thầy. Quảng Công cho Sư hiệu là Khắc Văn. Đếnnăm hai mươi lăm tuổi thi sở học, được xuất gia thọ giớicụ túc. Sư học kinh luận đều được thấu đáo. Sư đihọc các lớp giáo lý ở Kinh Lạc, nhân đi kinh hành tại hànhlang điện Long Môn thấy đắp tượng một vị Tỳ-kheo conmắt như ở trong định. Bỗng nhiên Sư tự mất, bảo ngườibạn rằng: Chỗ ta chất chứa như Ngô Đạo Tử vẽ ngườivật, tuy thật là khéo mà chẳng phải sống. Khi ấy, Sư bỏđi, nói: Ta sẽ sang phương Nam học đạo.

*

Niên hiệu Trị Bình năm thứ hai (1065), Sư an cư tại ĐạiQui. Ban đầu nghe vị Tăng tụng lời Vân Môn, "Tăng hỏi: Phậtpháp như trăng trong nước phải chăng, Vân Môn đáp: sóng xanhkhông đường thoát", Sư hoát nhiên có tỉnh. Khi ấy Thiềnsư Huệ Nam đang ở núi Hoàng Bá, Sư tìm đến đó, gặp ChơnGiác Duy Thắng làm Thủ tọa. Một hôm Huệ Nam nhắc lời cổđức: "niệm tán trên lầu chuông, trồng rau dưới chân giường",bảo chúng hạ ngữ. Duy Thắng nói: Cọp mạnh ngồi ngay lộ.Huệ Nam vui vẻ bèn thối viện để Duy Thắng trụ. Thiềnsư Huệ Nam về am Tích Thúy an trụ. Sư đến am ba phen mà lờinói chẳng hợp, tự nói: Lão này chỉ là Tăng tu hành khônghiểu lời nói của ta. Sư ra đi, đến Thúy Nham yết kiếnThiền sư Thuận. Thuận tri kiến rất cao mà thích nói sắnbìm, nên các nơi gọi là Thuận bà già.

Thuận hỏi Sư: - Vừa rời chỗ nào?

Sư thưa: - Hoàng Bá.

Thuận hỏi: - Am chủ được an vui chăng?

Sư thưa: - An vui.

Thuận hỏi: - Ông người xứ nào?

Sư thưa: - Quan Tây.

Thuận bảo: - Sao lời nói chẳng giống người Quan Tây?

Sư thưa: - Đi du học hồi nhỏ.

Thuận hỏi: - Làm Tăng tại đâu?

Sư thưa: - Xuất gia với Hòa thượng Quảng tại Bắc Tháp.Hòa thượng Quảng cùng Hòa thượng Tú đồng tham Song TuyềnÚc.

Thuận cười nói: - Thiền sư Khoảnh cùng Nột Tổ Ấn thamvấn hai vị đại lão này mà không hiểu ngữ thoại kia.Đến tôi hiện nay tham được chút ít thiền cần thấy haivị mà đã thiên hóa. Thuận lại hỏi: Tân trụ trì HoàngLong thế nào?

Sư thưa: - Khỏe mạnh.

Thuận nói: - Y chỉ hạ được một chuyển ngữ hay liền trụHoàng Long, về thiền còn chưa mộng thấy.

Sư nhân đây đại ngộ tông chỉ Lâm Tế, liền thấy chỗdùng của Huệ Nam, Sư bèn làm mấy bài tụng gởi về. HuệNam đọc qua rất tán thưởng. Sư trở về tham lễ.

Huệ Nam hỏi: - Từ chỗ nào lại?

Sư thưa: - Thúy Nham.

Huệ Nam bảo: - Vừa gặp Lão tăng không ở nhà.

Sư hỏi: - Chưa biết đi đâu?

Huệ Nam nói: - Phổ thỉnh ở Thiên Thai, vân du tại Nam Nhạc.

Sư thưa: - Nếu vậy học nhân cũng được đi tự tại.

Huệ Nam hỏi: - Giầy mang dưới chân được ở đâu?

Sư thưa: - Lô Sơn bảy trăm tiền mua được.

Huệ Nam bảo: - Đâu từng tự tại?

Sư chỉ thưa: - Đâu từng chẳng tự tại.

Huệ Nam kinh ngạc. Ở đây thời gian lâu, Sư từ giã đếndưới hội Thúy Nham Thuận.

*

Thiền sư Huệ Nam trụ Hoàng Long, Sư cùng đến đó.

Huệ Nam bảo: - "Vừa rồi sai thị giả cuốn rèm, hỏi y: Khi cuốn rèm lên thì thế nào? Y đáp: Xem thấy thiên hạ.Hỏi: Khi buông rèm xuống thì thế nào? Y đáp: Nướcrỉ chẳng thông. Hỏi: Khi chẳng cuốn chẳng buông thì thếnào? Y đáp không được." Ngươi thử đáp thay xem?

Sư thưa: - Hòa thượng thế thị giả xuống nhà Niết-bànmới được.

Huệ Nam gằn giọng nói: - Người Quan Tây quả không đầunão, bèn nhìn Tăng bên cạnh.

Sư chỉ vị Tăng ấy nói: - Chỉ vị Tăng này cũng chưa mộngthấy.

Huệ Nam cười to.

*

Sau khi Thiền sư Huệ Nam qui tịch, Sư dạo Hoành Nhạc, trởlại thủ chúng ở Ngưỡng Sơn. Đến niên hiệu Hy Ninh thứnăm (1072), Sư đến Cao An, Thái thú Tiền Công Dặc Tiên Hầura mắt Sư. Sư lại đến ra mắt Tiền Công, trong bình phongcó con chó chạy ùa ra sủa, Sư đứng tránh một bên.

Tiền Công giễu nói: - Thiền giả vẫn hay giáo hóa rắn cọpmà lại sợ chó sao?

Sư đáp: - Cọp trong núi dễ dẹp, rồng giữ nhà khó trừ.

Tiền Công khen rằng: - Thật danh chẳng dối.

Tiền Công mời Sư trụ Động Sơn, sau trụ Thọ Thánh.

Tại Động Sơn, Sư thượng đường dạy chúng: Dưới cửaĐộng Sơn có khi hòa bùn hợp nước, có khi vách đứng ngànnhẫn. Cả thảy các ông! Nghĩ nhằm chỗ hòa bùn hợp nướcthấy Động Sơn. Động Sơn chẳng ở chỗ hòa bùn hợp nước.Nghĩ nhằm chỗ vách đứng ngàn nhẫn thấy Động Sơn. ĐộngSơn chẳng ở chỗ vách đứng ngàn nhẫn. Nghĩ nhằm tất cảchỗ thấy Động Sơn. Động Sơn chẳng ở tất cả chỗ. Ôngchẳng cần thấy dây mũi của Động Sơn. Ở trong tay ĐộngSơn, toan ngủ mê nắm dây mũi kéo một cái, chỉ thấy conmắt định động lại chẳng biết nhau. Lại chẳng cần biếtĐộng Sơn, hãy biết chính mình là được.

*

Sư trụ trì được mười hai năm, chán sự ồn náo, xin nghỉviệc đi dạo Tam Ngô. Khi Sư đến Kim Lăng, Vương Kinh Côngmới về hưu ở tại Định Lâm, nghe Sư đến ra nghinh đón.Ông rất vui mừng đàm đạo trọn ngày.

Công hỏi: - Các kinh ở đầu đều có nêu thời, xứ, riêngkinh Viên Giác không thấy là sao?

Sư đáp: - Giáo lý đốn ngộ diễn bày là chỉ thẳng cho chúngsanh chỗ nhật dụng hiện tiền chẳng thuộc xưa nay. Hiệnnay Lão tăng cùng Tướng công đều nhập Đại Quang Minh tạng,du hí tam-muội lẫn làm chủ khách không can dự thời xứ.

Kinh Công rất vui, cùng em lập một ngôi chùa, thỉnh Sư làmTổ khai sơn thứ nhất.

*

Sư đăng tòa nói: Đại chúng! Một hội ngày nay cần biếtchăng? Là tịnh duyên thời tiết thành Phật của đại chúng.Hội hôm nay là do Thừa tướng Kinh Quốc Công cùng Phán PhủTả thừa cúng nhà, hiến vườn rừng làm chùa, thỉnh Sơntăng xiển dương Tổ ý. Quí vị lại hiểu chăng? Chỉ thẳngcho đại chúng tức tâm kiến tánh thành Phật. Đại chúngtin được chăng? Nếu tự tin được liền biết tánh mìnhxưa nay thành Phật. Dù có chưa tin cũng sẽ thành Phật. Chỉvì mê đã lâu, chợt mới nghe nói thật khó mà tin được.Tất cả thiện tri thức trong thiên hạ xưa nay, tất cả thiềnđạo, tất cả ngữ ngôn, đều là từ trong Phật tánh củathiện tri thức lưu xuất dựng lập. Song lưu xuất đó làngọn, Phật tánh là gốc. Gần đây Phật pháp đáng thương,phần nhiều bỏ gốc theo ngọn, bội chánh hợp tà. Chỉ nhậnngôn cú của cổ nhân làm thiền làm đạo, có gì giao thiệp.Dù cho Tổ Đạt-ma Tây sang cũng không thiền có thể nói, chỉcốt đại chúng tự chứng tự ngộ, tự thành Phật, tự dựnglập tất cả thiền đạo. Huống là thần thông biến hóa,chúng sanh vốn tự đầy đủ chẳng nhờ tìm bên ngoài. Hiệnnay phần nhiều người tìm cầu bên ngoài, bởi cội gốc tựkhông có chỗ ngộ, một bề làm khách đếm trân bảo cho người,trọn là hư vọng chẳng khỏi trôi lăn trong sanh tử. Đạichúng! Ngày nay hai Tướng công kiến lập đại đạo tràngnày, làm đại Phật sự, đưa chúng sanh ra khỏi khổ trôilăn sanh tử, bày hiện diệu tâm tịch diệt rộng lớn xưanay, khai phát thần thông đại quang minh tạng xưa nay. Chỉvì mê nên ở trong hàng phàm phu, ngộ thì chính nay là HiềnThánh. Đại chúng! Nói nhiều ắt cách đạo càng xa, làm tròcười cho hàng đạo nhân mắt sáng, trong chúng có người mắtsáng chăng? Thời nay Phật pháp lẫn lộn cốt phân tà chánhkhiến mọi người chẳng rơi vào tà kiến, làm con mắt chánhcho trời, người. Có chăng? Có chăng? Sư im lặng giây lâunói: Tôi trọn chẳng dám khinh các người, các người đềusẽ làm Phật. Sư xuống tòa.

*

Kinh Công rất vui. Ông kể đạo hạnh của Sư tâu về triều,vua ra chiếu ban hiệu cho Sư là Chơn Tịnh Thiền sư. Khôngbao lâu, Sư chán sự ồn náo trở về Cao An cất am dưới núiCửu Phong để tên là Đầu Lão. Học giả bốn phương kéođến. Được sáu năm, Sư lại ra trụ trì Qui Tông. Hai nămsau, Trương Thiên Giác gặp Sư ở Lô Sơn, cố thỉnh Sư trụtrì Phần Đàm. Không bao lâu, Sư lui về ở Vân Am.

*

Niên hiệu Sùng Ninh năm đầu (1102) ngày mùng một tháng mười,Sư mắc bệnh. Đến ngày rằm, bệnh Sư nhẹ. Hôm nay, Sư đemmọi dụng cụ cần thiết của Sư phân phối cho đệ tử hết.Giữa đêm mười sáu, Sư tắm gội rồi ngồi kiết già, chúngthỉnh thuyết pháp, Sư cười nói:

Năm nay bảy mươi tám

Bốn đại sắp rời rã

Gió lửa đã ly tán

Sắp đi còn gì nói.

Nói xong, Sư viên tịch, thọ bảy mươi tám tuổi.




8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn