Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

20. Thiền sư Toàn Khoát ở Nham Đầu

03/09/201113:53(Xem: 4581)
20. Thiền sư Toàn Khoát ở Nham Đầu

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 2
ĐỜI THỨSÁU SAU LỤC TỔ

20.THIỀN SƯ TOÀN KHOÁTỞNham Đầu - (828-887)

Sưhọ Kha quê ở Tuyền Châu. Thuở thiếu thời, Sư theo NghịCộng ở Thanh Nguyên xuất gia. Sau Sư đến Trường An ở chùaBảo Thọ thọ giới cụ túc và học tập các bộ kinh luật.

Sưdạo khắp các thiền uyển, kết bạn cùng Tuyết Phong NghĩaTồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Từ núi Đại Từ sang Lâm Tế, LâmTế đã qui tịch, đến yết kiến Ngưỡng Sơn.

Vừavào cửa, Sư đưa cao tọa cụ, thưa: Hòa thượng. NgưỡngSơn cầm phất tử toan giở lên. Sư thưa: Chẳng ngại tay khéo.

*

Đếntham yết Đức Sơn, Sư cầm tọa cụ lên pháp đường nhìnxem. Đức Sơn hỏi: Làm gì? Sư quát tháo. Đức Sơn hỏi: Lãotăng có lỗi gì? Sư thưa: Lưỡng trùng công án. Sư trở xuốngnhà tham thiền. Đức Sơn nói: Cái ông thầy in tuồng ngườihành khước.

Hômsau lên thưa hỏi, Đức Sơn hỏi: Xà-lê phải vị Tăng mớiđến hôm qua chăng? Sư thưa: Phải. Đức Sơn bảo: Ở đâuhọc được cái rỗng ấy? Sư thưa: Toàn Khoát trọn chẳngtự dối. Đức Sơn bảo: Về sau chẳng được cô phụ Lãotăng.

Hômkhác đến tham, Sư vào cửa phương trượng đứng nghiêng mìnhhỏi: Là phàm là thánh? Đức Sơn hét! Sư lễ bái.

Cóngười đem việc ấy thuật lại cho Động Sơn nghe. ĐộngSơn nói: Nếu chẳng phải Thượng tọa Khoát rất khó thừađương. Sư nghe được lời này bèn nói: Ông già Động Sơnchẳng biết tốt xấu lầm buông lời, ta đương thời mộttay đưa lên một tay bắt.

*

TuyếtPhong ở Đức Sơn làm phạn đầu (trưởng ban trai phạn). Mộthôm cơm trễ, Đức Sơn ôm bát đến pháp đường. Tuyết Phongphơi khăn lau, trông thấy Đức Sơn bèn nói: Ông già này, chuôngchưa kêu trống chưa đánh mà ôm bát đi đâu?

ĐứcSơn trở về phương trượng. Tuyết Phong thuật việc này choSư nghe. Sư bảo: Cả thảy Đức Sơn chẳng hội câu rốt sau.

ĐứcSơn nghe, sai thị giả gọi Sư đến phương trượng, hỏi:Ông chẳng chấp nhận Lão tăng sao? Sư thưa nhỏ ý ấy.

Đếnhôm sau, Đức Sơn thượng đường có vẻ khác thường. Sưđến trước nhà tăng vỗ tay cười to, nói: Rất mừng! ô?ggià Đường đầu hội được câu rốt sau, người trong thiênhạ không bì được ông, tuy nhiên cũng chỉ sống được banăm (quả nhiên ba năm sau Đức Sơn tịch).

*

Mộthôm, Sư cùng Tuyết Phong, Khâm Sơn ba người họp nhau, bỗngdưng Tuyết Phong chỉ một chén nước. Khâm Sơn nói: Nướctrong, trăng hiện. Tuyết Phong nói: Nước trong, trăng chẳnghiện. Sư đá chén nước rồi đi.

Từ đó về sau, Khâm Sơn đến Động Sơn.

Sư và Tuyết Phong nối pháp Đức Sơn.

*

Sưcùng Tuyết Phong đến từ Đức Sơn. Đức Sơn hỏi: Đi vềđâu? Sư thưa: Tạm từ Hòa thượng hạ sơn. Đức Sơn hỏi:Con về sau làm gì? Sư thưa: Chẳng quên. Đức Sơn hỏi: Connương vào đâu nói lời này? Sư thưa: Đâu chẳng nghe ?trívượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bă?g thầy kémthầy nửa đức?. Đức Sơn bảo: Đúng thế! đúng thế! phảikhéo hộ trì. Hai vị lễ bái rồi lui.

TuyếtPhong về Mân Xuyên ở gộp Tuyết Phong trên núi Tượng Cốt.Sư cất am ở núi Ngọa Long Động Đình. Đồ chúng tấp nậpkéo đến.

*

Tănghỏi:- Không thầy lại có chỗ xuất thân chăng?

Sưđáp:- Trước tiếng lông xưa nát.

- Kẻđường đường đến thì sao?

- Đâmlủng con mắt.

- Thếnào là ý Tổ sư từ Ấn sang?

- Dờingọn núi Lô đi, ta sẽ vì ông nói.

*

Sưcùng La Sơn đi xem nền tháp. Đi giữa đường La Sơn gọi:Hòa thượng! Sư xoay đầu hỏi: Làm gì? La Sơn đưa tay chỉnói: Trong ấy có miếng đất tốt. Sư quở: Kẻ bán dưa ởQua Châu. Lại đi khoảng ít dặm, La Sơn lễ bái hỏi: Hòathượng đâu chẳng phải ở Động Sơn ba mươi năm mà chẳngchấp nhận Động Sơn ư? Sư đáp: Phải. La Sơn lại hỏi:Hòa thượng đâu chẳng phải nối pháp Đức Sơn mà chẳngchấp nhận Đức Sơn chăng? Sư đáp: Phải. La Sơn hỏi tiếp:Chẳng chấp nhận Đức Sơn thì miễn hỏi, còn Động Sơncó khuyết điểm gì? Sư làm thinh giây lâu đáp: Động Sơnlà ông Phật đẹp, chỉ là không hào quang.

*

Sưhỏi vị Tăng mới đến:- Ở đâu đến?

Tăngthưa:- Ở Tây Kinh đến.

- Sautrận giặc Hoàng Sào lại lượm được kiếm chăng?

- Lượmđược.

Sưđưa cổ làm thế nhận chặt. Tăng nói: Đầu thầy rơi. Sưcười to.

*

Sưdạy chúng:

- Phàmviệc trong đại tổng cương tông phải biết cú. Nếu chẳngbiết cú khó hội được câu nói. Cái gì là cú? Khi trămviệc chẳng suy nghĩ, gọi là chánh cú, cũng gọi là cư đảnh(ở trên đảnh), là được trụ, là rõ ràng, là tỉnh tỉnh,là chắc thật, là khi Phật chưa sanh, là đắc địa, là cùngkhi ấy sẽ cùng khi ấy v.v? Phá tất cả thị phi mới cùngtiện, chẳng cùng tiện lăn trùng trục dưới đất. Nếu nhìnchẳng thấu liền bị người đâm đui mắt. Chỗ con mắt nhìnlờ mờ in tuồng con dê bị giết mà chưa chết. Cổ nhân nói "hôn trầm chẳng tốt, cần chuyển được mới nên". Chạmđến liền chuyển mới cùng tiện, chẳng cùng tiện. Thịcú cũng chặt phi cú cũng chặt, tự nhiên lăn trùng trục,tự nhiên trước mắt hiện rõ ràng, no tràn hông. Chẳng hiểuchối bỏ, chẳng hiểu nhai nát. Đâu chẳng nghe nói "chốibỏ vật là trên, theo vật là dưới". Vừa khởi tí xíu tìnhliền rơi xuống đất. Nếu là nhai nát thì heo chó mắt đỏngầu.

Nếucó người hỏi thế nào là thiền, nên đáp với y: "bịt lỗđít lại, mới có ít phần hơi hám, mới biết cạn sâu lớplớp?"

Huynhđệ! thấy cùng chăng? nói thế hội chăng? Chớ có trọn ngàyrầm rĩ, sẽ không có ngày xong. Muốn được dễ hội cầnbiết ở trước thanh sắc chẳng bị muôn cảnh làm hoặc loạn,tự nhiên hiện rõ ràng, tự nhiên vô sự. Tiến tới trướcthanh sắc mà vẫn thản nhiên, in tuồng một đống lửa lớn,chạm đến liền cháy, lại còn có việc gì? Đâu không nghenói "chẳng phải trần chẳng xâm phạm ta, mà khi ta vô tâmnó cháy".

*

Saunày có người hoặc hỏi Phật, hỏi pháp, hỏi đạo, hỏithiền, Sư đều hư lên một tiếng. Sư thường bảo chúng:Khi Lão già này đi, sẽ rống lên một tiếng rồi đi.

*

ĐờiĐường sau thời Quang Khải, Trung Nguyên giặc cướp dấy lên,chúng Tăng đều đi tránh nơi khác. Sư vẫn an nhiên ở đây.Một hôm giặc đến, chúng trách Sư không có gì dâng biếu,bèn đâm Sư. Sư thần sắc không đổi, chỉ rống lên mộttiếng rồi chết. Tiếng ấy vang xa đến mười dặm.

Sưtịch nhằm năm Quang Khải thứ ba (887) ngày mùng tám thángtư.

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn