Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

22. Thiền sư Văn Chuẩn ở Phần Đàm

04/09/201102:42(Xem: 4494)
22. Thiền sư Văn Chuẩn ở Phần Đàm

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 3
ĐỜI THỨMƯỜI BỐN SAU LỤC TỔ

22.THIỀN SƯ VĂN CHUẨNỞPhần Đàm - (1061 - 1115)

Sư họ Lương, quê ở Đường Cố phủ Hưng Nguyên. Thuở trongnôi thấy tượng Phật, Sư liền cười, đến đồng tử Sưchẳng ưa nghe rượu thịt. Sa-môn Hư Phổ ở chùa Kim Sơn đếnnhà khất thực, Sư ở trước cửa ứng đối như người lớn.Lúc bấy giờ mới tám tuổi, Sư xin từ cha mẹ theo Hư Phổvề chùa.

*

Kinh lược Thiểm Tây là Phạm Công đến chùa Hư Phổ, Phổtuổi già ứng đối lơ là. Sư đứng hầu bên cạnh giảithích rõ ràng tới lui có qui củ, Phạm Công muốn dẫn Sưvề Thiểm Tây, Sư từ rằng: Lên núi để cầu ngọc vào biểnđể tìm châu, mỗi người có chí của mình. Người học đạocó bản hạnh, việc đẹp ở đời không phải là chỗ tâmthích. Phạm Công thầm khen lời này, liền cho xuất gia làmTăng.

Sư đến nương Thiền sư Thừa ở Lương Sơn. Thừa quở rằng:Khu ô chưa thọ giới dám học Phật thừa. Sư vòng tay thưa:- Đàn tràng là giới chăng? Xà-lê phạm hạnh và ba phen yết-malà giới chăng?

Thừa kinh ngạc. Sư cười thưa: - Tuy nhiên đâu dám không vânglời dạy. Sư bèn đến Luật sư Đường An thọ giới cụtúc. Sư dạo khắp các nơi giảng dạy tại Thành đô. Phápsư Đàm Diễn thích chỗ anh tài của Sư vỗ về bảo: Ônglà pháp thuyền sau này. Phương Nam có các bậc khai sĩ nhưChơn Như ở Đại Qui, Chơn Tịnh ở Cửu Phong, nên đến đócầu đạo. Sư lễ bái vâng dạy, cùng đồng học đến ĐạiQui, trụ tại đây khá lâu mà không khế ngộ.

Sư đến Cửu Phong yết kiến Chơn Tịnh. Chơn Tịnh hỏi: -Ở đâu đến?

Sư thưa:- Hưng Nguyên phủ đến.

Chơn Tịnh hỏi:- Vừa rời chỗ nào?

Sư thưa:- Đại Qui.

Chơn Tịnh hỏi:- Hạ ở đâu?

Sư thưa:- Qui Sơn.

Chơn Tịnh xòe tay nói:- Tay ta sao giống tay Phật.

Sư mờ mịt không biết. Chơn Tịnh quở: - Mới đến câu câukhông sai lầm một mảy tơ linh minh thiên chân, vừa nói đếntay Phật liền thành cách ngại, bệnh tại chỗ nào?

Sư thưa:- Chẳng hiểu.

Chơn Tịnh bảo:- Tất cả hiện thành lại bảo ai hiểu?

Sư ở đây hầu hạ hơn mười năm. Một hôm Sư cầm cây gậyvạch mặt hồ cho trống giặt y, nhân đây đại ngộ, chạyđến Chơn Tịnh thuật sở ngộ.

Chơn Tịnh quở:- Trong đây lại dám dùng gai sậy ư?

Từ đây, Sư càng ẩn giấu mà danh càng bày.

Tiết chế Lý Cảnh Chơn thú Dự Chương mến đức Sư thỉnhkhai pháp ở Vân Nham. Chưa bao lâu, Phạm Công mời Sư đếnPhần Đàm. Sư lời lẽ như tên bay nước lũ, cơ phong nhưđiện chớp, Thiền tăng sợ mà kính. Dưới sự hướng dẫncủa Sư có cả ngàn người. Sư tự hiệu là Trạm Đường.

Có vị Tăng mới đến yết kiến liền trải tọa cụ. Sưbảo:- Chưa hỏi việc người, Thượng tọa vừa rời chỗnào?

Tăng thưa:- Qui Tông ở Lô Sơn.

Sư hỏi:- Qui Tông chỗ nào?

Tăng thưa:- Hạ!

Sư bảo:- Trong hang ếch làm kế sống.

Tăng thưa:- Hòa thượng sao không lãnh thoại?

Sư bảo:- Ông đâu chẳng phải từ Qui Tông lại.

Tăng thưa:- Phải.

Sư bảo:- Kẻ trước lừa sau ngựa.

Sư hỏi đệ nhị tòa:- Vừa ở chỗ nào đến?

Tăng thưa:- Viên Châu.

Sư hỏi:- Hạ ở đâu?

Tăng thưa:- Ngưỡng Sơn.

Sư hỏi:- Lại thấy tiểu Thích-ca chăng?

Tăng thưa:- Thấy.

Sư hỏi:- Lỗ mũi dài hay ngắn?

Tăng suy nghĩ. Sư bảo: - Ông thầy quê, lời nói đã rơi.

*

Sư hỏi vị Tăng: - Ông đến làm gì?

Tăng thưa: - Con đến vấn an Hòa thượng.

Sư bảo: - Mây bay đầu núi nhàn biết mấy, nước chảy dướikhe rất nhộn nhàng.

Tăng thưa: - Hòa thượng chớ lừa người.

Sư bảo: - Mã Đại sư vì sao từ gót chân ông đi qua?

Tăng không đáp được. Sư bảo: - Lại là Xà-lê lừa lãoTăng.

*

Sư ở Phần Ninh gặp Hòa thượng Tử Tâm, Tử Tâm hỏi:- Ôngtrở về trong núi này chăng?

Sư thưa: - Cần đến lễ bái Sư huynh.

Tử Tâm bảo: - Khi ông đến khéo xem phương tiện.

Sư thưa: - Cớ sao?

Tử Tâm bảo: - Con đường Hoàng Long ta trơn.

Sư hỏi: - Đã té nhào bao nhiêu người?

Tử Tâm bảo: - Ông chưa đến Hoàng Long gót chân trước đãrít.

Sư thưa: - Hòa thượng đâu được đóng cửa tiếp nhau.

Tử Tâm lại hỏi: - Lão Chuẩn nuôi nhiều Tăng thế này chỉlà tụ đầu cãi lẽ rồi ăn cơm, ông cứu kính đem cái gìvì người?

Sư thưa: - Nhân gió thổi lửa.

Tử Tâm bảo: - Nhiễu loạn làm gì?

Sư thưa: - Từ đây có chút ít.

Sư hỏi lại: - Trong núi Hòa thượng nuôi bao nhiêu chúng?

Tử Tâm nói: - Bốn trăm người toàn là Thiền tăng tinh xảo.

Sư thưa: - Trong hang sư tử không thú khác.

Tử Tâm bảo: - Khi ông đến cũng phải chiếu cố.

Sư thưa: - Cũng đợi khi đến.

Tử Tâm hỏi: - Khi đến làm sao?

Sư thưa: - Kêu lại rửa chân.

Tử Tâm bảo: - Ông thầy đất Xuyên mở miệng to thế.

Sư thưa: - Thượng tọa Chuẩn từ lâu như thế.

Tử Tâm nói: - Ba mươi năm đùa cỡi ngựa.

Thấy Tăng xem kinh, Sư hỏi: - Xem kinh gì?

Tăng thưa: - Kinh Kim Cang.

Sư bảo: - Trong kinh nói "Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp?phải chăng"

Tăng thưa: - Phải.

Sư bảo: - Tại sao núi Vân Cư cao, núi Bảo Phong thấp?

Tăng thưa: - Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp.

Sư bảo: - Ông chỉ làm được kẻ tôi tớ Tọa chủ.

Tăng thưa: - Hòa thượng lại thế nào?

Sư bảo: - Hãy buông lỗ mũi ông để thở.

*

Sư hỏi vị Tăng: - An vui chăng?

Tăng thưa: - Vô sự.

Sư bảo: - Ông còn có việc lớn.

Tăng hỏi: - Chưa biết con còn có việc gì?

Sư bảo: - Gần đây Kim Cang ở Thượng Lam cùng Thổ Địaở Thiên Ninh đánh nhau.

Tăng không nói được. Sư bảo: - Nguyên lai vô sự.

*

Một hôm Sư thượng đường: Bảo Phong một đêm ngủ khôngsuy tính, ngày nay thượng đường moi bụng móc ngực thảysuy nghĩ chẳng ra, mà nay đến giờ việc bức ngặt phải racửa gấp, liền đưa cây gậy nói: Thượng tọa Chuẩn gầnđây làm được cán cây phất tử, hãy tạm đem cúng dườngđại chúng, bèn ném xuống nói: Gốc tre lá móc dây gai cột,dạng tựa thiên nhiên riêng một nhà.

*

Niên hiệu Chánh Hòa thứ năm (1115) mùa hạ tháng sáu, Sư bịbệnh. Thủ tọa đến hỏi thăm: - Ngày gần đây thân thểHòa thượng thế nào?

Sư bảo: - Lừa què leo vách.

Thủ tọa thưa: - Hòa thượng cũng nên uống thuốc.

Sư bảo: - Cây mục bắc cầu.

Thủ tọa thưa: - Cũng biết Hòa thượng chẳng chịu kiêngmiệng.

Sư hỏi: - Ông làm sao?

Thủ tọa suy nghĩ để nói. Sư bảo: - Ông cũng cần phảiuống thuốc.

Đến ngày hai mươi hai tháng bảy, Sư nói kệ rồi tịch, thọnăm mươi lăm tuổi, ba mươi lăm tuổi hạ.

Thừa tướng Trương Vô Tận làm lời bia, Giản Nghị HồngCâu phụ chép Ngữ lục.




8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn