Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

35. Thiền sư Linh Hựu (Qui Sơn)

03/09/201113:53(Xem: 3919)
35. Thiền sư Linh Hựu (Qui Sơn)

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 1

ĐỜI THỨ TƯ SAU LỤC TỔ

B.Phái Hoài Nhượng

35.THIỀN SƯ LINH HỰU
QuiSơn - (771 - 853)

Sưhọ Triệu, quê ở Trường Khê, Phước Châu. Năm mười lămtuổi, Sư từ thân xuất gia theo Luật sư Pháp Thường ở chùaKiến Thiện tại bản quận thế phát. Sau, Sư đến chùa LongHưng ở Hàng Châu thọ giới. Sư học kinh, luật Ðại thừa,Tiểu thừa rất uyên thâm.

Nămhai mươi ba tuổi, Sư đến Giang Tây tham học với Bá TrượngHoài Hải. Bá Trượng vừa thấy Sư liền nhận cho nhập chúng.Trong chúng, Sư là người được cử đứng hàng đầu.

Mộthôm, Sư đứng hầu Bá Trượng. Bá Trượng hỏi:- Ai?

Sưthưa:- Con. Linh Hựu!

BáTrượng bảo:- Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?

Sưvạch ra, thưa:- Không lửa.

BáTrượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa,đưa lên chỉ Sư, bảo:

- Ngươibảo không, cái này là cái gì?

Sưdo đây phát ngộ, lễ tạ trình bày chỗ giải ngộ của mình.

BáTrượng bảo:

- Ðâylà con đường rẽ tạm thời. Kinh nói: "Muốn thấy Phật tánhphải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến nhưmê chợt ngộ, như quên được nhớ, mới tỉnh vật của mìnhkhông từ bên ngoài được." Cho nên Tổ sư bảo: "Ngộ rồiđồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp." Chỉ là khôngtâm hư vọng phàm thánh v.v..., xưa nay tâm pháp nguyên tự đầyđủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.

*

Sưtheo Bá Trượng làm việc trong núi, Bá Trượng hỏi:

- Ðemđược lửa đến chăng?

- Ðemđược.

- Ởchỗ nào?

Sưcầm một cành cây thổi vài cái, đem trao cho Bá Trượng.

BáTrượng bảo:- Như trùng đục cây.

*

TưMã Ðầu-đà [là một Thiền sư thông cả địa lý và tướngsố.] từ Hồ Nam đến yết kiến Bá Trượng, thưa:

- QuiSơn là thắng cảnh nên lập đại đạo tràng kết tập bạnpháp.

BáTrượng hỏi:- Lão tăng muốn đến Qui Sơn nên chăng?

- QuiSơn kỳ tuyệt có thể họp một ngàn năm trăm chúng, nhưngchẳng phải chỗ Hòa thượng ở.

- Saovậy?

- Hòathượng là người xương, núi kia là núi thịt, dù có ở,đồ đệ chẳng đầy một ngàn.

- Trongchúng ta có người ở được chăng?

- Ðợixem qua mới biết.

BáTrượng sai thị giả gọi đệ nhất tọa đến, tức Thiềnsư Hoa Lâm, hỏi:

- Ngườinày thế nào?

Ðầu-đàbảo Hoa Lâm tằng hắng một tiếng, đi vài bước, thưa:

- Ngườinày không được.

BáTrượng sai thị giả gọi Ðiển tọa đến, tức Sư Linh Hựu.

Ðầu-đàthưa: - Ðây chính là chủ Qui Sơn.

Tốilại, Bá Trượng gọi Sư vào thất dặn dò:

- Tahóa duyên tại đây, ngươi sẽ ở thắng cảnh Qui Sơn đểnối tiếp tông môn của ta và rộng độ kẻ hậu học.

*

HoaLâm nghe tin này đến thưa:

- Conlà thượng thủ, tại sao Linh Hựu được trụ trì?

BáTrượng bảo:

- Nếuai hay ngay trong chúng này nói được một câu xuất cách, sẽcho trụ trì.

BáTrượng liền chỉ tịnh bình hỏi:

- Chẳngđược kêu là tịnh bình, ngươi kêu là gì?

HoaLâm thưa:- Không thể kêu là cây lủng vậy.

BáTrượng lại hỏi Sư.

Sưđạp nhào tịnh bình rồi đi ra.

BáTrượng cười bảo:- Ðệ nhất tọa thối lui núi này.

BáTrượng bèn sai Sư đến Qui Sơn.

*

NonQui cao vót không có bóng người lai vãng, là hang ổ của cọpsói. Sư đến đây cất một am tranh, hằng ngày lượm tráilật, trái dẻ làm thức ăn nuôi sống.

Ðãbảy năm qua, một hôm Sư tự nghĩ: Ðạo cốt tiếp vật lợisanh, ở một mình chẳng phải. Sư bèn đi lần xuống núi,thấy cọp sói, Sư bảo: "Nếu ta có duyên với núi này, cácngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đâythì các ngươi cứ ăn thịt ta đi." Sư nói xong, các loài thúdữ đều đi tứ tán, Sư trở về am yên ở như trước.

Khôngbao lâu, dân cư dưới chân núi từ từ hay biết, họ rủ nhaukéo lên núi cất một ngôi chùa cho Sư. Sau này, Liên soái LýCảnh Nhượng tâu vua xin ban hiệu chùa, vua ban hiệu là ÐồngKhánh. Kế đến, có Thượng tọa Ðại An và một số chúngtừ Bá Trượng đến phụ tá Sư. Ðại An nói: "Tôi sẽ làmđiển tọa cho Hòa thượng." Số chúng lần lần lên đếncả ngàn. Tướng quốc Bùi Hưu cũng thường tới lui thưa hỏichỗ huyền ảo.

*

Sưthượng đường dạy chúng:

- Phàmtâm của người học đạo phải ngay thẳng chân thật khôngdối gạt, không tâm hạnh sau lưng trước mặt, lừa phỉnh,trong tất cả giờ thấy nghe bình thường không có chiều uốn,cũng chẳng phải nhắm mắt bịt tai, chỉ lòng chẳng chạytheo vật là được. Từ trước chư thánh chỉ nói: bên nhơbợn là lỗi lầm. Nếu không như thế, lòng nhiều nghĩ áclà việc tình kiến tưởng tập. Ví như nước mùa thu lóngđứng trong trẻo lặng lẽ không động không ngại, gọi ngườinày là Ðạo nhân, cũng gọi là người vô sự.

Khiấy, có vị Tăng hỏi:- Người được đốn ngộ có tu chăng?

Sưbảo:

- Nếungười khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùngkhông tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuytừ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưngvẫn còn tập khí (thói quen) nhiều kiếp từ vô thủy chưacó thể chóng sạch, nên dạy hắn trừ sạch dòng thức tạonghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không nói có một phápriêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lý,nghe và lý sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm,hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫnđược ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tómlại, "chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửamuôn hạnh chẳng bỏ một pháp" (thật tế lý địa bất thọnhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp). Nếuđược như vậy, là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàmthánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tứcPhật như như.

*

Thiềnsư Huệ Tịch (Ngưỡng Sơn) hỏi:

- Trămngàn muôn cảnh đồng thời đến, phải làm sao?

Sưđáp:

- Xanhchẳng phải là vàng, dài chẳng phải là ngắn, các pháp mỗipháp ở địa vị của nó, chẳng can hệ đến việc của ta.

- Thếnào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ đến?

Sưchỉ lồng đèn bảo:- Lồng đèn rất tốt.

- Ðâuchỉ cái ấy là phải sao?

- Cáiấy là cái gì?

- Lồngđèn rất tốt.

- Hẳnlà chẳng thấy.

*

Sưcùng chúng đi hái trà. Sư bảo Huệ Tịch:

- Trọnngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hãyhiện bản hình cho ta thấy coi.

HuệTịch liền đập cây trà.

Sưbảo:- Con chỉ được cái dụng của nó, chẳng được cáithể của nó.

HuệTịch thưa:- Chưa biết Hòa thượng thế nào?

Sưim lặng.

- Hòathượng chỉ được cái thể của nó, không được cái dụngcủa nó.

- Chocon hai chục gậy.

*

Sưngồi, Huệ Tịch đi vào, Sư bảo:

- Tịchcon! hãy nói mau chớ vào ấm giới.

HuệTịch thưa:- Huệ Tịch tin cũng chẳng lập.

- Contin rồi chẳng lập hay chẳng tin chẳng lập?

- Chỉlà Huệ Tịch lại tin cái gì?

- Nếuthế ấy chỉ là định tánh Thanh văn.

- HuệTịch Phật cũng chẳng lập.

*

Sưngủ vừa thức giấc. Huệ Tịch đến hỏi thăm. Sư liềnxây mặt vào vách. Huệ Tịch thưa:

- Hòathượng đâu được như vậy.

Sưtrỗi dậy bảo:

- Vừarồi ta nằm một điềm chiêm bao, con thử vì ta đem lại xem.

HuệTịch lấy thau múc một thau nước đem lại cho Sư rửa mặt.Sư rửa mặt xong, giây lát Trí Nhàn (Hương Nghiêm) đến hỏithăm, Sư bảo:

- Vừarồi ta nằm một điềm chiêm bao, Huệ Tịch vì ta đem lạixem xong, ngươi lại đem cho ta xem.

TríNhàn liền đi rót một chung trà bưng đến.

Sưbảo:- Hai con thấy hiểu còn hơn Xá-lợi-phất.

*

Sưhỏi Vân Nham (Ðàm Thạnh):

- Nghehuynh ở Dược Sơn lâu lắm phải chăng?

- Phải.

- TướngDược Sơn đại nhân thế nào?

- Saukhi Niết-bàn mới có.

- Saukhi Niết-bàn mới có thế nào?

- Nướcrưới chẳng dính.

VânNham hỏi lại Sư:- Bá Trượng đại nhân tướng thế nào?

- Chữngchạc vòi vọi, sáng suốt rực rỡ, trước tiếng chẳng phảitiếng, sau sắc chẳng phải sắc, con muỗi đậu trên trâusắt, không có chỗ huynh cắm mỏ.

*

ThấyTrí Nhàn, Huệ Tịch làm bánh, Sư bảo:

- BáTrượng Tiên sư đương thời thân được đạo lý này.

HuệTịch, Trí Nhàn nhìn nhau nói:

- Ngườinào đáp được lời này?

Sưbảo:- Có một người đáp được.

HuệTịch thưa:- Người nào?

Sưchỉ con trâu bảo:- Nói! nói!

HuệTịch chạy lấy một bó cỏ đem lại. Trí Nhàn lấy thùngmúc một thùng nước đem lại để trước con trâu. Con trâuđang ăn, Sư bảo:

- Chogì? cho gì? Chẳng cho gì? chẳng cho gì?

HuệTịch, Trí Nhàn đồng lễ Sư. Sư bảo:

- Hoặckhi sáng, hoặc khi tối.

*

Mộthôm, Sư thúc chúng trình ngữ, bảo:

- Ngoàithanh sắc cho ta cùng thấy.

Thượngtọa Giám Huyền trình ngữ:

- Chẳngtừ ra đây, người ấy không mắt.

Sưchẳng nhận.

HuệTịch ba phen trình ngữ:

Lầnđầu: - Thấy lấy, chẳng thấy lấy.

Sưbảo:- Nhỏ như chót lông, lạnh tợ sương tuyết.

Lầnthứ hai: - Ngoài thanh sắc, ai cầu thấy nhau?

Sưbảo:- Chỉ kẹt Thanh văn, bên ngoài giường hẹp.

Lầnthứ ba: - Như hai gương chiếu nhau, ở trong không hình tượng.

Sưbảo:

- Ngữnày chánh, ta phải ngươi chẳng phải, sớm lập hình tượngrồi vậy.

HuệTịch hỏi lại Sư:

- Continh thần tối tăm, đối đáp vụng về, chẳng biết Hòa thượnghồi còn ở với Sư ông Bá Trượng trình ngữ thế nào?

Sưbảo:

- Tahồi ở với Tiên sư Bá Trượng trình ngữ như vầy: "Nhưtrăm ngàn gương sáng soi sáng hình bóng, chiếu nhau cõi cõibụi bụi mỗi mỗi chẳng lầm lẫn."

HuệTịch lễ bái.

*

Sưthượng đường bảo chúng:

- Saukhi Lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bêntrái viết năm chữ "Qui Sơn Tăng Linh Hựu". Khi ấy gọilà Qui Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọilà Qui Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng?

Sưtruyền bá Thiền giáo hơn bốn mươi năm, người đạt đượclý thú không thể kể hết, đệ tử được nhập thất (đượctruyền tâm) được bốn mươi mốt người.

Ðờèường niên hiệu Ðại Trung năm thứ bảy (853 T.L.), ngàymùng chín tháng giêng, Sư tắm gội xong, ngồi kiết già vuivẻ thị tịch. Sư thọ tám mươi ba tuổi, sáu mươi bốn tuổihạ.

Vuaban hiệu Ðại Viên Thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh.

Sưcó trước tác tập Qui Sơn Cảnh Sách rất được lưu hànhtrong thiền môn.

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn