Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

42. Thiền sư Cảnh Sầm (Trường Sa)

03/09/201113:53(Xem: 4306)
42. Thiền sư Cảnh Sầm (Trường Sa)

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 1

ĐỜI THỨ TƯ SAU LỤC TỔ

B.Phái Hoài Nhượng

NỐIPHÁP NAM TUYỀN PHỔ NGUYỆN
42.THIỀN SƯ CẢNH SẦM(TrườngSa)

Saukhi đắc pháp nơi Nam Tuyền, Sư đến Lộc Uyển an trụ. Vềsau, Sư không ở một chỗ nhất định, chỉ tùy duyên tùycảnh giáo hóa độ sanh. Vì thế, người đương thời gọiSư là Hòa thượng Trường Sa.

Sưthượng đường dạy chúng:

- Nếuta một bề nêu cao tông giáo thì trong pháp đường này cỏmọc cao một trượng. Vì sự bất đắc dĩ, ta bảo các ngươirằng: Tột mười phương thế giới là mắt của Sa-môn, tộtmười phương thế giới là thân của Sa-môn, tột mười phươngthế giới là ánh sáng của mình, tột mười phương thế giớiở trong ánh sáng của mình, tột mười phương thế giới khôngcó người nào là chẳng phải chính mình. Ta thường nói vớicác ngươi: Chư Phật trong đời cùng chúng sanh khắp pháp giớilà ánh sáng Ma-ha Bát-nhã. Khi ánh sáng này chưa phát, cả thảycác ngươi đến nương nơi đâu? Khi ánh sáng này chưa phát,còn không có tăm dạng Phật và chúng sanh, thì chỗ nào cónúi sông thế giới?

Cóvị Tăng hỏi:- Thế nào là mắt Sa-môn?

Sưđáp:

- Dàidài ra chẳng đặng, thành Phật thành Tổ ra chẳng đặng,sáu đạo luân hồi ra chẳng đặng.

- Chẳngbiết ra cái gì chẳng đặng?

- Ngàythấy mặt trời, đêm thấy sao.

- Conkhông hội.

- NúiDiệu Cao sắc xanh lại xanh.

*

Sưsai một vị Tăng đến hỏi bạn đồng sư là Hòa thượngHiệp rằng:

- Hòathượng sau khi thấy Nam Tuyền rồi thế nào?

Hòathượng Hiệp lặng thinh.

Tănghỏi:- Hòa thượng trước khi chưa thấy Nam Tuyền thì sao?

Hòathượng Hiệp đáp:- Không thể lại riêng có.

VịTăng về thuật lại Sư nghe, Sư làm một bài kệ chỉ bày:

Bách trượng can đầu bất động nhân

Tuy nhiên đắc nhập vị vi chân

Bách trượng can đầu tu tấn bộ

Thập phương thế giới thị toàn thân.

Dịch:

Trăm trượng đầu sào vẫn đứng yên

Tuy là được nhập chẳng phải hiền

Ðầu sào trăm trượng cần vượt khỏi

Mười phương thế giới thảy thân mình.

*

Cóquan khách đến yết kiến, Sư gọi:- Thượng thơ!

Quankhách:- Dạ!

- Chẳngphải bổn mạng thượng thơ.

- Khôngthể rời người đối đáp hiện nay lại có chủ nhân thứhai.

- Gọithượng thơ là chí tôn được chăng?

- Thếlà khi chẳng đối, đâu không phải là chủ nhân của đệtử?

- Chẳngnhững khi đối và khi không đối, mà từ vô thủy kiếp đếngiờ cái ấy là cội gốc của sanh tử.

Sưlàm bài kệ:

Học đạo chi nhân bất thức chân

Chi vị tùng lai nhận thức thần

Vô thủy kiếp lai sanh tử bản

Si nhân hoán tác bản lai nhân.

Dịch:

Học đạo mà không hiểu lẽ chân

Bởi tại lâu rồi nhận thức thần

Gốc nguồn sanh tử vô thủy kiếp

Người ngu lại gọi chủ nhân ông.

*

TăngHạo Nguyệt hỏi:

- Nhữngvị thiện tri thức trong thiên hạ chứng được ba đức Niết-bànchưa?

Sưđáp:

- Ðólà Ðại đức hỏi trên quả Niết-bàn hay trong nhân Niết-bàn?

- Trênquả Niết-bàn.

- Nhữngthiện tri thức trong thiên hạ chưa chứng.

- Vìsao chưa chứng?

- Vìcông chưa bằng chư thánh.

- Côngchưa bằng chư thánh sao làm thiện tri thức.

- Thấyrõ Phật tánh cũng được gọi là thiện tri thức.

- Chẳngbiết công bằng chừng nào mới được chứng Niết-bàn?

Sưcó bài kệ:

Ma-ha Bát-nhã chiếu

Giải thoát thậm thâm pháp

Pháp thân tịch diệt thể

Tam nhất lý viên thường.

Dục thức công tề xứ

Thử danh thường tịch quang.

Dịch:

Trí tuệ lớn rộng soi

Pháp giải thoát sâu xa

Thể pháp thân vắng lặng

Ba một lý thường tròn.

Muốn biết chỗ công bằng

Ðây gọi thường tịch quang.

- Trênquả ba đức Niết-bàn đã nhờ chỉ dạy, thế nào là trongnhân Niết-bàn?

- Ðạiđức ấy.

- Trongkinh nói ý huyễn là có chăng?

- Ðạiđức nói gì?

- Thếlà ý huyễn tại không chăng?

- Ðạiđức nói gì?

- Thếlà ý huyễn tại chẳng có chẳng không chăng?

- Ðạiđức nói gì?

- Conba phen nhận định chẳng hợp ý huyễn, chưa biết Hòa thượngthế nào để rõ được ý huyễn trong kinh?

- Ðạiđức tin tất cả pháp không thể nghĩ bàn chăng?

- Lờithành thật của Phật đâu dám không tin.

- Ðạiđức nói tin, trong hai thứ tin là thứ tin nào?

- Theocon hiểu, trong hai thứ tin là tin duyên (tín duyên).

- Ygiáo môn nào được sanh tin duyên?

- Theokinh Hoa Nghiêm nói: "Bồ-tát lớn lấy trí tuệ không chướngkhông ngại tin tất cả cảnh giới thế gian là cảnh giớiNhư Lai." Lại, kinh Hoa Nghiêm nói: "Chư Phật Thế Tôn thảybiết thế pháp và Phật pháp tánh không sai khác, quyết địnhkhông hai." Cũng kinh Hoa Nghiêm nói: "Phật pháp thế gian pháp,nếu thấy chỗ chân thật của nó, tất cả không sai khác."

- Ðạiđức nêu chỗ tin duyên trong giáo môn rất có bằng cứ. NgheLão tăng vì Ðại đức nói rõ ý huyễn trong kinh:

Nhược nhân kiến huyễn bản lai chân

Thị tắc danh vi kiến Phật nhân

Viên thông pháp pháp vô sanh diệt

Vô diệt vô sanh thị Phật thân.

Dịch:

Nếu người thấy huyễn xưa nay chân

Thế ấy tức là thấy Phật nhân (người)

Suốt tròn các pháp không sanh diệt

Không diệt không sanh ấy Phật thân.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng nối tiếp người nào?

Sưđáp:- Tôi không có người được nối tiếp.

- Lạicó tham học không?

- Tôitự tham học.

- ÝHòa thượng thế nào?

Sưcó bài kệ:

Hư không vấn vạn tượng

Vạn tượng đáp hư không

Thùy nhân thân đắc văn

Mộc xoa quán giác đồng.

Dịch:

Hư không hỏi vạn tượng

Vạn tượng đáp hư không

Người nào gần được nghe

Trẻ con đầu hai chỏm

*

Cóvị Tăng hỏi:- "Sắc tức là không, không tức là sắc", lýnày thế nào?

Sưcó bài kệ:

Ngại xứ phi tường bích

Thông xứ vật hư không

Nhược nhân như thị giải

Tâm sắc bản lai đồng

Phật tánh đường đường hiển hiện

Trụ tánh hữu tình nan kiến

Nhược ngộ chúng sanh vô ngã

Ngã diện hà thù Phật diện.

Dịch:

Chỗ ngại chẳng tường vách

Chỗ thông đâu hư không

Nếu người tìm hiểu như thế

Tâm sắc xưa nay đồng

Phật tánh hiển hiện rõ ràng

Trụ tánh hữu tình khó thấy

Nếu ngộ chúng sanh vô ngã

Mặt ta mặt Phật khác gì.

Sư có bài kệ khuyến học:

Vạn trượng can đầu vị đắc hưu

Ðường đường hữu lộ thiểu nhân du

Thiền sư nguyện đạt Nam Tuyền khứ

Mãn mục thanh sơn vạn vạn thu.

Dịch:

Muôn trượng đầu sào chẳng được dừng

Sờ sờ đường cái ít người đi

Thiền sư muốn đạt Nam Tuyền lộ

Ðầy mắt núi xanh muôn muôn thu.

VìSư không có nơi trụ nhất định nên không biết tịch lúcnào và nơi nào.

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn