Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

15. Thiền sư Thanh Liễu Chơn Yết ở Trường Lô Chơn Châu

04/09/201102:42(Xem: 4281)
15. Thiền sư Thanh Liễu Chơn Yết ở Trường Lô Chơn Châu

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 3
ĐỜI THỨMƯỜI BỐN SAU LỤC TỔ

15.THIỀN SƯ THANH LIỄU CHƠN YẾT
ỞTrường Lô Chơn Châu

Sư họ Ung, quê ở Tả Miên. Lúc còn bồng nách cha mẹ đemvào chùa thấy tượng Phật, Sư vui mừng chớp mắt nhướngmày. Đến mười tám tuổi, Sư thi kinh Pháp Hoa được độlàm Tăng. Sư đến Thành đô chùa Đại Từ học tập kinh luận,lãnh hội được đại ý. Sư ra đất Thục đến Miến Hánvào thất Thiền sư Tử Thuần ở Đơn Hà.

Đơn Hà hỏi: - Thế nào là chính mình trước không kiếp?

Sư suy nghĩ để đáp. Đơn Hà bảo: - Ngươi còn ồn hãy đi.

Một hôm, Sư lên ngọn Bát Vu bỗng nhiên khế ngộ, thẳngvề đứng hầu.

Đơn Hà tát bảo: - Sẽ bảo ông biết có. Sư vui vẻ lễ bái.

Hôm sau, Đơn Hà thượng đường nói: - Nhật soi Cô Phong biếc,nguyệt đến nước khe trong, Tổ sư huyền diệu quyết, chớhướng tất lòng an. Liền xuống tòa.

Sư tiến đến trước thưa: - Ngày nay đăng tòa lại chẳnglừa được con.

Đơn Hà hỏi: - Ngươi thử nhắc lại ngày nay ta đăng tòaxem? Sư im lặng giây lâu.

Đơn Hà bảo: - Sẽ nói ông khắp đất.

Sư liền đi ra.

*

Sau Sư đi dạo Ngũ Đài Sơn, Kinh Sư, Phù Biện, thẳng đếnTrường Lô yết kiến Tổ Chiếu, qua một lời nói khế hợp.Tổ Chiếu cho làm thị giả, qua một năm liền chia phần giáohóa, không bao lâu Tổ cáo bệnh dưỡng già, giao phần giáohóa lại Sư. Học giả qui tụ như trước. Đến cuối niênhiệu Kiến Viêm (1127), Sư đến Tứ Minh, trụ Phổ Đà, ThiênPhong ở Thai Châu, Tuyết Phong ở Mân. Vua ra chiếu mời Sưtrụ trì chùa Dục Vương, kế chùa Long Tường ở Ôn Châu,chùa Từ Ninh Cảnh Sơn ở Hàn Châu. Hoàng thái hậu mời khaisơn chùa Sùng Tiên ở Cao Ninh.

*

Sư thượng đường: Tôi ở chỗ Tiên sư ngay một tát so sánhđều dứt, tìm chỗ mở miệng không thể được. Hiện naylại có người sống vui chẳng cùng thế ấy chăng? Nếu không,hàm sắt mang yên mỗi người tự đeo.

Sư thượng đường: Trên đảnh Cô Phong qua cây cầu độcmộc, đi thẳng thế ấy vẫn là chỗ chân cao chân thấp củathời nhân. Nếu thấy được triệt chẳng ra khỏi cửa màthâu khắp mười phương, chưa vào cửa mà thường ở trongthất. Nếu kia chưa như thế, nhân trời mát bửa một gốccủi.

*

Sư thượng đường: Bên khóe miệng lên meo trắng, mới đượcvào cửa; khắp chân thối nát đi, mới biết có việc trongcửa. Lại phải biết có cái chẳng ra cửa. Sư bảo: - Gọicái gì là cửa?

Có vị Tăng hỏi: - Chư Phật ba đời nhằm trong đống lửaxoay bánh xe đại pháp, lại quả thật đấy chăng?

Sư cười to bảo: - Tôi lại nghi đấy.

Tăng thưa: - Hòa thượng vì sao lại nghi?

Sư đáp: - Hoa đồng thơm đầy đất, chim rừng chẳng biếtthơm.

Tăng thưa: - Chẳng rơi phong thể lại nhận chuyển thân haykhông?

Sư đáp: - Chỗ đi người đá chẳng đồng công.

Tăng thưa: - Hướng thượng việc thế nào?

Sư đáp: - Diệu ở trước hòn bọt, há che mắt ngàn thánh.Tăng lễ bái.

*

Một hôm, Sư vào nhà trù xem làm bún, chợt thùng thông lủngđáy. Chúng đều la hoảng: - Uổng lắm!

Sư bảo: - Thùng thông lủng đáy tự nên vui mừng, vì sao lạiphiền não?

Chúng thưa: - Hòa thượng thì được.

Sư nói: - Quả thật đáng tiếc một thùng bún.

*

Sư thượng đường: Rêu phong lối cũ chẳng rơi hư ngưng,mù phủ rừng xanh nhận bày phong yếu, kim móc kín đáo, aibảo ông chài về tổ, chỉ thế thừa đương, chính là bìnhthường sống thích lại có người đủ con mắt thấu cổngchăng? Sư im lặng giây lâu nói: - Dù cho sớm nghe liền trởvề, đâu bằng từ lâu chẳng ra cửa.

*

Sư thượng đường: Chợt mưa chợt tạnh chợt lạnh chợtnóng, cái của Sơn tăng thì Sơn tăng tự biết, cái của quívị thì quí vị tự nói. Hãy nói miệng của Tuyết Phong (Sư)trừ ngoài ăn cơm cần làm gì?

*

Sư hỏi vị Tăng: - Trên điện Lưu-ly Ngọc nữ phóng thoi đểrõ bên việc gì?

Tăng thưa: - Hồi hỗ chẳng đương cơ.

Sư bảo: - Lại có đứt nối hay không?

Tăng thưa: - Xưa nay chưa từng gián đoạn.

Sư bảo: - Chính khi chẳng từng gián đoạn là sao?

Tăng trân trọng rồi đi ra.

*

Sư thượng đường: Thân không huyễn hóa tức pháp thân. Sưmúa bảo: - Thấy chăng? Thấy chăng? Thế ấy thấy được "qua cầu thôn rượu quí". Sư múa bảo: - Thấy chăng? Thấychăng? Thế ấy chẳng thấy "cách bờ hoa rừng thơm".

*

Sư thượng đường: Lại có người không bị huyền diệuô nhiễm chăng? Sư im lặng giây lâu nói: - Một điểm nàynghiêng nước bốn biển, đã là rửa đi chẳng rơi.

Tăng hỏi: - Thế nào là chính mình trước không kiếp?

Sư đáp: - Ngựa trắng vào hoa lau.

*

Sư thượng đường: Tột nhiệm tan gốc, thể diệu mất tông,một câu đứt dòng, sâu huyền cùng tột, bởi vì chỗ kínkim vàng chẳng bày sáng nhọn chỉ ngọc xuyên qua thầm bàysắc lạ. Tuy nhiên như thế vẫn là xen lẫn hai sáng, hãy nóichỗ khéo vụng chẳng đến làm sao hiểu nhau? Sư im lặng giâylâu nói: - Mây thưa soi thấu xanh mờ nhạt, cây núi thấp caokhóa biếc sâu.

Sư thượng đường: Chuyển công đến vị là người nhằmđi, ngọc ẩn Kinh Sơn quí. Chuyển vị đến công là ngườitrở lại, lò hồng mảnh tuyết xuân. Công vị đều chuyển,khắp thân chẳng kẹt, buông tay quên áo, gái đá đêm lênmáy, thất kín không người quét. Chính khi ấy bặt khí tứcmột câu làm sao hiểu nhau? Sư im lặng giây lâu nói: - Vềcội gió rơi lá, soi tột trăng đầm không.

Sư tịch tại chùa Sùng Tiên ở Cao Ninh. Vua sắc thụy là NgộKhông.




8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn