Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

56. Thiền sư Trùng Hiển ở Tuyết Đậu, Minh Châu

04/09/201102:42(Xem: 4761)
56. Thiền sư Trùng Hiển ở Tuyết Đậu, Minh Châu

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 2
ĐỜI THỨMƯỜI SAU LỤC TỔ

56.THIỀN SƯ TRÙNG HIỂNỞTuyết Đậu Minh Châu - (985 - 1058)

Sưhọ Lý ở phủ Toại Ninh theo Thượng nhân Nhơn Săn ở việnPhổ An xuất gia. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư dạo qua cácnơi giảng kinh luận, nghiên cứu giáo lý tột cùng. Sư thưahỏi lanh lẹ, biện luận thông suốt, các nơi đều nhận làpháp khí (món đồ chứa đạo pháp). Bước sang tham vấn Thiềntông, ban đầu Sư đến Trí Môn chùa Thiền sư Quang Tộ trụtrì.

Sưhỏi Trí Môn: "Chẳng khởi một niệm, tại sao có lỗi?" TríMôn gọi Sư lại gần. Trí Môn cầm phất tử nhằm vào miệngSư đánh. Sư toan mở miệng, Trí Môn lại đánh. Sư hoát nhiênkhai ngộ. Sư ở lại đây năm năm, nhận tột chỗ u huyền,mới đi tham vấn khắp nơi.

*

Sưđến Thiền sư Thông ở Động Sơn, Thông hỏi: "Con trâu củaQui Sơn là ý thế nào?" Sư đáp: "Làm tiêu bảng cho ngườisau." Thông toan nói, Sư lấy tọa cụ phủi một cái rồi đi.Thông gọi: "Hãy đến đây Thượng tọa!" Sư nói: "Chưa đếnnhà tham thiền."

*

ĐếnĐại Long, Sư làm tri khách. Một hôm, Sư hỏi: "Nói đó nínđó chẳng phải, chẳng nói chẳng nín lại sai, thảy phảithảy chẳng phải, nắm lấy đại dụng hiện tiền thời nhânbiết có, chưa biết Đại Long thế nào?" Đại Long đáp: "Ngươicó kiến giải như thế." Sư nói: "Ông già này ngói bể băngtiêu." Đại Long nói: "Tha ngươi ba mươi gậy." Sư lễ bái,trở lại chỗ chúng. Đại Long lại gọi: "Tăng vừa hỏi thoạiđến đây!" Sư bèn bước ra. Đại Long hỏi: "Lão tăng tạisao lại ngói bể băng tiêu?" Sư thưa: "Càng thấy bại khuyết."Đại Long đổi sắc, nói: "Không chịu được! không chịuđược!"

*

Sưlúc đầu trụ tại Thúy Phong, sau dời về Tuyết Đậu. Ngàykhai đường, Sư đến trước pháp tòa nhìn xem đại chúngnói:

- Nếuluận bổn phận thấy nhau, chẳng cần lên pháp tòa cao.

Sưbèn lấy tay vẽ một lằn, nói:

- Quívị nhìn theo ngón tay Sơn tăng, vô lượng cõi nước chư Phậtđồng thời hiện tiền, mỗi vị nên nhìn xem cho kỹ nếulà bờ mé chưa biết, chẳng khỏi mắc lầy dính nước.

Sưbèn lên tòa. Thượng thủ bạch chùy xong. Có vị Tăng mớibước ra, Sư nắm đứng lại, bảo:

- Chánhpháp nhãn tạng của Như Lai ủy thác tại ngày hôm nay. Buôngđi thì ngói gạch sanh quang, nắm đứng thì chân kim mất sắc.Quyền bính ở trong tay, giết tha tại lúc này. Ai có tạo tácthì cùng nhau chứng cứ?

Cóvị Tăng bước ra hỏi:

- Xalìa Tổ tịch Thúy Phong, đến đạo tràng Tuyết Đậu, chưabiết là một là hai?

Sưđáp:- Ngựa không ngàn dặm dối đuổi gió.

- Thếấy mây tan nhà trắng?

- Đầurồng đuôi rắn.

VịTăng khác hỏi:

- ĐứcSơn, Lâm Tế gậy hét đã bày, Hòa thượng vì người thếnào?

Sưđáp:- Nhảy ra một nước (nước cờ).

Tăngsuy nghĩ. Sư liền hét. Tăng thưa:

- Chưabiết chỉ thế ấy hay riêng còn có?

Sưđáp:- Bắn cọp giả, luống nhọc mỏi cánh.

- Thổiốc pháp đánh trống pháp quan quân đến hội, thế nào làphải?

- Giómát đến chưa thôi.

- Thếấy ắt được ngộ nơi Thầy?

- Mộtlời đã nói bốn ngựa khó theo.

Tănglễ bái. Sư bảo: "Nhảy qua một nước (nước cờ)."

Sưxem khắp đại chúng bảo:

- Trờingười khắp nhóm họp, phát minh cái việc gì? Đâu thể lầmlẫn phân chủ khách đuổi theo vấn đáp là đúng tông thừa.Môn phong quảng đại oai đức tự tại, sáng vượt xưa nay,nắm đứng càn khôn, ngàn thánh chỉ nơi "tự biết", năm thừađâu thể kiến lập. Sở dĩ trước lời ngộ ý chỉ vẫnlầm mối ngoái xem, qua lời nói ngộ được tông môn còn bịlầm hiện bày của tình thức.

Quívị cần biết tướng chân thật chăng? Chỉ là về trướckhông đeo dính, về sau bặt thân mình, tự nhiên tường quanghiện tiền, mỗi mỗi vách đứng ngàn nhẫn (một nhẫn haithước tây). Lại biện minh được hay không? Chưa biện thìbiện lấy, chưa minh thì minh lấy. Đã biện minh được, haycắt đứt dòng sanh tử, đồng ở ngôi Phật Tổ, diệu viênsiêu ngộ chính ở khi này, kham đền cái ơn chẳng đền, dùnggiúp giáo hóa pháp vô vi.

Tănghỏi:- Thế nào là cổi áo ngự bào mặc y nhơ xấu?

Sưđáp:- Duỗi tay chẳng duỗi tay.

- XinThầy phương tiện.

- Mắttrái móc gân, mắt mặt bươi thịt.

*

Sưthượng đường:

- Đạichúng! Trước cùng xướng đáp, cũng cần cái ấy mới được.Nếu chưa có con mắt chạy trên nước, đi trên đao, chẳngnhọc gì phải đề ra. Do đó nên nói, như đống lửa lớn,gần chạm thấy thì đốt cháy cửa mặt, cũng như cầm câybảo kiếm Thái A thủ thế, đi ngang qua trước liền tan thânmất mạng.

Sưlại nói: Thủ thế Thái A nhà Tổ lạnh, ngàn dặm cần nêndứt vạn đoan, chớ chờ điện lạnh ngang đầu xẹt.

Sưlại bảo: Xem! Xem! Liền xuống tòa.

*

Sưthượng đường, có vị Tăng hỏi:

- Thếnào là Duy-ma một phen làm thinh?

Sưđáp:- Hàn Sơn hỏi Thập Đắc.

- Thếấy là vào cửa bất nhị?

Sư:Hư!

Sưlại bảo:

Duy-ma đại sĩ khứ hà tùng

Thiên cổ linh nhân vọng mạc cùng

Bất nhị pháp môn hưu cánh vấn

Dạ lai minh nguyệt thướng cô phong.

Dịch:

Đại sĩ Duy-ma đi không nơi

Ngàn xưa lắm kẻ trông vời vời,

Pháp môn bất nhị thôi chớ hỏi

Đêm về trăng sáng trên đảnh đồi.

Sư thượng đường nói:

Xuân sơn điệp loạn thanh

Xuân thủy dạng hư bích

Liêu liêu thiên địa gian

Độc lập vọng hà cực.

Núi xuân chồng chất xanh

Nước xanh lóng lánh biếc

Thênh thang bầu trời không

Đứng riêng trông nào tột.

*

Sưthượng đường:

- Chỗruộng đất ẩn mật Phật Tổ còn chẳng dám gần, vì saogiở chân chẳng lên? Thần thông du hí quỉ thần không thểlường, vì sao để chân xuống chẳng được? Thẳng cho mườichữ tung hoành sáng đánh ba ngàn chiều đánh tám trăm.

*

Thịgiả của Bảo Hoa đến tham vấn Sư. Sư hỏi Bảo Hoa có baonhiêu chúng. Thị giả thưa: Chẳng nhọc Hòa thượng như thế.Sư bảo: Ta hỏi rành rẽ, ngươi nhảy chạy làm gì? Thị giảthưa: Cũng chẳng được bỏ qua. Sư bảo: Thật là sư tửcon. Uống trà xong, Sư nắm đứng thị giả, hỏi: Vừa rồitại sao vô lễ? Thị giả suy nghĩ, Sư cho một tát tai, bảo:Đi về thuật rõ lại cho Bảo Hoa.

*

Sưlàm bài tụng Đạo Quí Như Ngu:

Vũ quá hàn vân hiểu bán khai

Sổ phong như họa bích thôi ngôi

Không Sanh bất giải nham trung tọa

Mặc đắc thiên hoa động địa lai.

Dịch:

Mưa qua mây lạnh trời rạng đông

Dãy núi sắp bày cao ngất xanh

Không Sanh chẳng hiểu ngồi trong núi

Lặng lẽ bao giờ thiên hoa rơi.

[KhôngSanh: chỉ cho ngài Tu-bồ-đề.}

*

Lạicó bài tụng Danh Thật Vô Đương:

Ngọc chuyển châu hồi Phật Tổ ngôn

Tinh thông du thị ô tâm điền

Lão Lư chỉ giải trường xuân mễ

Hà đắc phong lưu vạn cổ truyền?

Dịch:

Chuyển ngọc xoay châu Phật Tổ bàn

Tinh thông vốn lại nhớp tâm điền

Ông Lư chỉ giỏi nghề giã gạo

Sao được danh truyền mãi muôn đời?

[ÔngLư: Đức Lục Tổ khi mới đến Huỳnh Mai vẫn còn là ngườicư sĩ, nên gọi Ngài là Lư hành giả. Ngài chuyên giã gạođến ngộ đạo. Vì họ thế tục của Ngài là Lư nên gọilà Ông Lư.]

Mộthôm Sư dạo núi nhìn xem bốn phía, bảo thị giả: ngày nàolại đến ở đây.

Thịgiả cầu xin kệ di chúc. Sư bảo: bình sanh chỉ lo nói quánhiều.

Hômsau, Sư đem giày dép y hậu chia cho đồ chúng, nói: ngày bảytháng bảy lại thấy nhau.

Đúngngày mùng bảy tháng bảy, Sư tắm gội xong, nằm đầu xâyvề phía bắc an nhiên thị tịch. Nhằm năm Hoàng Hựu thứtư (1058) nhà Tống, Sư thọ bảy mươi ba tuổi, năm mươi tuổihạ. Vua sắc thụy là Minh Giác Đại sư.



8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn