Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

53. Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương

04/09/201102:42(Xem: 4204)
53. Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 2
ĐỜI THỨMƯỜI SAU LỤC TỔ

53.THIỀN SƯ THIỆN CHIÊUỞPhần Dương - (947 - 1024)

Sưhọ Du quê ở Thái Nguyên. Thuở bé, Sư bẩm tánh thâm trầm,ít chịu trang sức, có trí tuệ lớn, tất cả văn tự khôngdo thầy dạy mà tự thông hiểu. Năm mười bốn tuổi, chamẹ lần lượt qua đời, sống trong cảnh cô quả, Sư pháttâm xuất gia. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư quảy gói du phương.Đến nơi nào, Sư dừng lại thời gian ngắn, không thích ngắmsơn ngoạn cảnh, chỉ vì mở sáng mắt đạo mà thôi. Sư đãtham vấn qua bảy mươi mốt vị tôn đức, rốt sau mới đếnThủ Sơn Thiền sư Niệm.

ThủSơn lên tòa. Sư ra hỏi:- Bá Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thếnào?

ThủSơn đáp:- Áo rồng vừa phất toàn thể hiện.

Sưhỏi:- Ý Thầy thế nào?

ThủSơn đáp:- Chỗ tượng vương đi bặt dấu chồn.

Quacâu nói này, Sư đại ngộ liền đảnh lễ, rồi thưa:

- Muônxưa đầm biếc nguyệt trong không, ba phen gạn lọc mới đượcbiết (vạn cổ bích đàm không giới nguyệt, tái tam lao lộcthủy ưng tri). Sư dừng lại đây hầu hạ thời gian rất lâu.

*

Sau,Sư từ tạ Thủ Sơn ra đi, đến khoảng Hành Tương Thái thúTrường Sa là Trương Mậu Tông dùng đủ cách cố thỉnh đượcSư ở lại. Song, Sư vẫn một bề từ chối, ban đêm lén trốnđi. Đến Tương Miện, Thái thú Lưu Công Xướng tám phen thỉnhtrụ trì Động Sơn, Sư lặng lẽ chẳng đáp.

Niênhiệu Thuần Hóa năm thứ tư (993) Thủ Sơn đã viên tịch,Tăng và cư sĩ ở Tây Hà họp lại hơn ngàn người đồngtâm cử Sa-môn Khế Thông đến thỉnh Sư trụ trì viện TháiTử chùa Thái Bình ở Phần Dương. Sư đóng cửa nằm yênkhông tiếp, Khế Thông xô cửa vào thưa:

- Phậtpháp là việc lớn, lui ở yên một chỗ là giữ tiết nhỏ.Hòa thượng Phong Huyệt sợ ứng với lời sấm ký lo tôngchỉ diệt mất, may còn có Tiên sư nối nắm. Nay Tiên sư đãtịch, Thầy là người có khả năng gánh vác đại pháp củaNhư Lai, mà cam nằm ngủ yên sao? Sư hoảng sợ, đứng dậynắm tay Khế Thông bảo:

- Nếukhông phải Thầy, tôi làm gì được nghe lời này. Chỉnh tranghành lý, tôi cùng đi vậy.

Đếnnơi, Sư ở yên đến ba mươi năm không ra khỏi cổng ngoài.Thời nhân kính mộ không dám gọi tên, đồng kêu là PhầnDương.

*

Sưthượngđường:

- Dướicửa Phần Dương có con sư tử Tây Hà ngồi xổm tại cửa.Có người đến nó liền cắn chết. Vậy có phương tiệngì vào được cửa Phần Dương, thấy được người PhầnDương. Nếu thấy được người Phần Dương kham cùng Phật,Tổ làm thầy, chẳng thấy được người Phần Dương trọnlà kẻ chết đứng. Hiện nay có người vào được chăng?Cần vui vẻ vào, khỏi phải cô phụ bình sanh. Nếu không phảilà khách Long Môn, tối kỵ sẽ bị điểm trán. Cái gì làkhách Long Môn một loạt chỉ ra.

Sưđưa gậy lên, nói: lui mau! lui mau! trân trọng.

*

Tănghỏi:- Thế nào là câu tiếp sơ cơ?

Sưđáp:- Ngươi là Tăng đi hành khước.

- Thếnào là câu biện nạp tăng (Thiền sinh)?

- PhươngTây mặt trời mọc giờ mẹo.

- Thếnào là câu chánh lệnh hành?

- Ngàndặm đem đến trình mặt xưa.

- Thếnào là câu lập càn khôn?

- Bắccâu-lô châu hạt gạo dài, người ăn không sân không hỉ.

Sưlại nói:

- Chỉđem bốn chuyển ngữ này nghiệm nạp tăng (Thiền sinh) trongthiên hạ, vừa thấy ngươi đi đến liền nghiệm được rồi.

*

Sưthượng đường:

- Phàmmột câu nói phải đủ ba huyền môn, một huyền môn phảiđủ ba yếu. Cái gì là câu ba huyền ba yếu? Khéo hội làtốt, mỗi người tự suy nghĩ, lại được ổn đáng hay chưa?Cổ đức xưa đi hành khước nghe một nhân duyên mà chưa liễungộ, thì ăn uống không biết ngon, nằm ngủ chẳng yên, gấprút giải quyết chớ cho là việc nhỏ. Vì vậy mà Đại Giáclão nhân vì một đại sự nhân duyên xuất hiện ra đời.Xét ra các ngài từ trước đến nay đi hành khước, chẳngphải vì du sơn ngoạn thủy, xem những vẻ đẹp của châuphủ, thọ dụng manh áo chén cơm, đều vì tâm thánh chưa thông.Do đó, mà ruổi rong hành khước, quyết trạch chỗ sâu kíntruyền bá phô trương, rộng hỏi các bậc tiên tri (đã liễungộ) gần gũi những vị cao đức. Bởi vì muốn tiếp nốingọn đèn Phật tâm, kế thừa chư Tổ làm rạng rỡ hạt giống thánh để tiếp dẫn kẻ hậu la, tự lợi và lợi thavậy.

Hiệnnay có người thương lượng chăng? Có thì bước ra cùng toànthể thương lượng.

Cóvị Tăng ra hỏi:- Thế nào là chỗ gắng sức của con?

Sưđáp:- Gia Châu đánh voi lớn.

- Thếnào là chỗ chuyển thân của con?

- Thiểmphủ tấm trâu sắt.

- Thếnào là chỗ thân thiết của con?

- TâyHà đùa sư tử.

Sưlại nói:

- Nếungười hội được ba câu này là đã biện được ba huyền,lại còn ba yếu ngữ cần phải tiến lấy, không thể rảnhrang, cùng đại chúng tụng ra:

Tam huyền tam yếu sự nan phân

Đắc ý vong ngôn đạo dị thân

Nhất cú minh minh cai vạn tượng

Trùng dương cửu nhật cúc hoa tân.

Dịch:

Ba huyền ba yếu việc khó phân

Được ý quên lời đạo dễ gần

Một câu rành rõ gồm vạn tượng

Trùng dương ngày chín cúc hoa tươi.

*

Vìở Tịnh Phần quá lạnh nên Sư cho bãi giờ tham vấn ban đêm.Có vị Tăng lạ chống gậy đi đến bảo Sư rằng: "Trong hộicó sáu vị Đại sĩ, tại sao không nói pháp?" Nói xong Tăngấy đi mất, Sư mật ký một bài tụng:

Hồ tăng kim tích quang

Vị pháp đáo Phần Dương

Lục nhân thành đại khí

Khuyến thỉnh vị phu dương.

Dịch:

Tăng hồ cầm gậy vàng

Vì pháp đến Phần Dương

Sáu người thành pháp khí

Nhắc thỉnh vì tuyên dương.

*

Sưthượng đường:

- Phàmmột câu nói phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phảiđủ ba yếu. Có chiếu có dụng, hoặc trước chiếu sau dụng,hoặc trước dụng sau chiếu, hoặc chiếu dụng đồng thờihoặc chiếu dụng chẳng đồng thời. Trước chiếu sau dụng,vẫn cần cùng ngươi thương lượng. Trước dụng sau chiếu,ngươi phải là cá nhân mới được. Chiếu dụng đồng thờingươi làm sao ngang nhau? Chiếu dụng chẳng đồng thời, ngươilàm sao dồn lại?

*

Tănghỏi:- Thế nào là nguồn đại đạo?

Sưđáp:- Đào đất tìm trời.

- Saođược như vậy?

- Chẳngbiết u huyền.

- Thếnào là khách trong khách?

- Chấptay trước am hỏi Thế Tôn.

- Thếnào là khách trong chủ?

- Đốidiện không bạn bè.

- Thếnào chủ trong khách?

- Hàngmây ngang trên biển, tuốt kiếm quậy Long Môn.

- Thếnào là chủ trong chủ?

- Bađầu sáu tay giở trời đất, nổi giận Na Tra đập chuôngvua.

*

Sưthượng đường:

- Phần Dương có ba quyết,

Nạp tăng khó biện biệt.

Lại nghĩ hỏi thế nào?

Cây gậy trên đầu bổ.

Khiấy có vị Tăng ra hỏi:- Thế nào là ba quyết?

Sưliền đập. Tăng ấy lễ bái.

Sưbảo:- Cùng ngươi một lúc tụng ra:

Đệ nhất quyết:

Tiếp dẫn vô thời tiết,

Xảo ngôn bất năng thuyên

Vân đính thanh thiên nguyệt.

Đệ nhị quyết:

Thơ quang biện hiền triết

Vấn đáp lợi sanh tâm

Bạt khước nhãn trung tiết.

Đệ tam quyết:

Tây quốc Hồ nhân thuyết

Tế thủy quá Tân La

Bắc địa dụng tấn thiết.

Dịch

Thứ nhất quyết:

Tiếp dẫn không thời tiết,

Lời khéo không thể bày

Mây che trời trong nguyệt.

Thứ hai quyết:

Phóng quang biện hiền triết

Hỏi đáp tâm lợi sanh

Nhổ ra đinh trong mắt.

Thứ ba quyết:

Cõi tây người Hồ thuyết

Sông Tế sang Triều Tiên

Đất Bắc dùng sắt thép.

Sưlại hỏi:

- Lạicó người hội chăng? Hội được hãy ra báo tin tức, cầnbiết xa gần. Chớ ghi ngôn ghi ngữ thế ấy, thì hiện đờicó gì lợi ích. Đứng lâu, trân trọng.

*

Tănghỏi:

- Ngườichân chánh tu hành chẳng thấy lỗi thế gian, chưa biết chẳngthấy lỗi gì?

Sưđáp:

- Tuyếtchôn đêm trăng sâu ba thước, trên đất thuyền đi muôn dặmtrình.

- Hòathượng là tâm hạnh gì?

- Lạilà tâm hạnh của ngươi.

- Thếnào là gia phong của Hòa thượng?

- Bahuyền mở đạo chánh, một câu phá tà tông.

- Thếnào là kế sống của Hòa thượng?

- Bìnhthường tay chẳng nắm, cúng dường Tăng ngũ hồ.

- Chưabiết ăn cái gì?

- Cơmthiên hòa đà chưa thịnh soạn. Một vị canh ngon no liền thôi.

Sưthượng đường:

- Ngườithuyết pháp phải đủ mười trí Đồng chân. Nếu chẳng đủmười trí đồng chân thì tà chánh chẳng rành, Tăng tục khóphân, không thể vì trời người làm mắt sáng để quyếtđoán phải quấy. Như chim bay trong hư không mà gãy cánh, nhưbắn tên mà dây cung đứt. Vì dây cung đứt nên bắn khôngtrúng đích. Vì cánh gãy nên chim không thể bay trong không.Dây cung chắc, đôi cánh cứng thì đích và hư không đềuđạt được. Thế nào là mười trí đồng chân, sẽ cùngcác Thượng tọa nêu ra: một đồng nhất chất, hai đồngđại sự, ba tổng đồng tham, bốn đồng chân trí, năm đồngbiến phổ, sáu đồng cụ túc, bảy đồng đắc thất, támđồng sanh sát, chín đồng âm hẩu, mười đồng đắc nhập.

Cùngngười nào đồng đắc nhập? Cùng ai đồng âm hẩu? Thếnào là đồng sanh sát? Những vật gì đồng đắc thất? Cáigì đồng cụ túc? Là cái gì đồng biến phổ? Người nàođồng chân trí? Ai hay tổng đồng tham? Cái gì đồng đạisự? Vật gì đồng nhất chất? Có người nào điểm ra đượcchăng? Điểm ra được thì chẳng tiếc lòng từ bi. Điểmra chẳng được thì chưa có con mắt của kẻ tham học. Cầnphải biện lấy. Cốt biết thị phi, mặt mày thấy còn chẳngđược. Đứng lâu, trân trọng.

*

PhủLong-Đức Y Lý Hầu cùng Sư có tình quen xưa, thỉnh Sư trụtrì chùa Thừa Thiên, sai sứ đi ba lần mà Sư vẫn không đến.Sứ giả bị phạt. Y Lý Hầu lại sai sứ đi một phen nữa.Sứ giả đến thưa: "Quyết thỉnh Thầy đồng đi, nếu Thầykhông đi tôi liều chết mà thôi." Sư cười bảo: "Bởi nghiệpgià bệnh không thể xuống núi, giả sử đi phải có trướcsau, tại sao quyết đồng?" Sứ thưa: "Thầy chịu thì trướcsau, tùy lựa chọn."

Sưbảo chúng sửa soạn hành lý xong, Sư gọi chúng lại bảo: "Lão tăng đi có người nào theo được?" Có vị Tăng ra thưa: "Con theo được." Sư hỏi: "Một ngày ngươi đi được bao nhiêudặm?" Tăng thưa: "Năm mươi dặm." Sư bảo: "Ngươi theo ta chẳngđược." Lại có vị ra thưa: "Con theo được." Sư hỏi: "Mộtngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?" Tăng thưa: "Bảy mươidặm." Sư bảo: "Ngươi theo ta cũng chẳng được." Thị giảra thưa: "Con theo được, chỉ Hòa thượng đến đâu thì conđến đó." Sư bảo: "Ngươi theo Lão tăng được."

Nóixong, Sư bảo sứ giả: "Ta đi trước nghe!" Sư dừng lại rồitịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo, Sư thọ bảy mươitám tuổi.



8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn