25. Vua Rắn Núi Phổ Đà

29/11/201115:17(Xem: 6548)
25. Vua Rắn Núi Phổ Đà
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(25)

VUA RẮN NÚI PHỔ ĐÀ

Thuở xưa đức Quán Thế Âm

Chọn nơi đây chốn sơn lâm tuyệt vời

Mở mang Phật pháp giúp đời

Đạo tràng xây dựng cho người tu tâm,

Núi tên là Phổ Đà Sơn

Có vua rắn nọ vẫn thường ở đây

Họ hàng nhà rắn đông thay

Và riêng vua rắn lâu nay tu hành

Nghìn năm tu luyện tinh anh

Phép thần thông giỏi nổi danh xa gần.

Rắn thua đức Quán Thế Âm

Sau khi đấu phép thần thông tranh tài

Mới đành chịu nhượng bộ ngài

Cho ngài mượn núi làm nơi đạo tràng,

Rắn lo ngại cho họ hàng

Bị người giết hại nguy nan vô cùng.

Đức Quán Âm: "Hãy an lòng

Họ hàng nhà rắn hiện trong núi này

Cứ yên cư ngụ nơi đây

Người và rắn sống chung đầy tình thương

Ai làm hại phải bồi thường

Mạng đem thường mạng khó đường tránh qua,

Quyền vua rắn xử chẳng tha

Sẽ niêm yết bảng gần xa khắp vùng

Và loan báo rõ lệnh chung

Để người gìn giữ tránh đường sát sinh!"

Thế là trên ngọn núi xanh

Đạo tràng nghiêm túc lập thành nơi đây

Đã qua bao tháng cùng ngày

Hành hương khách ghé núi này thật đông

Người và rắn sống yên lòng

Người không hại rắn, rắn không cắn người.

Nhiều chùa xây cất khắp nơi

Tăng, ni, Phật tử vang lời cầu kinh.

*

Vùng này có chú Tiểu Đinh

Thường hay chơi nghịch phá quanh xóm làng

Tổ chim tìm đập tan hoang

Chuồn chuồn, châu chấu, bướm vàng chẳng tha.

Hôm nay chú trốn mẹ cha

Lén leo lên núi nhởn nha một mình

Dạo quanh tìm dịp sát sinh

Đến khi đói bụng ghé nhanh vào chùa

Xin ăn uống lúc ban trưa

No nê lại chạy rỡn đùa khắp nơi

Khi gần lúc xế chiều rồi

Đến con đường nọ chú ngồi nhìn quanh

Chợt đâu thấy dưới cỏ xanh

Có con rắn nhỏ bò nhanh tìm đường

Trốn bò cạp lớn kinh hoàng

Đang nhanh chân rượt phía đằng sau đuôi

May thay tới lạch suối rồi

Rắn lao mình xuống vội bơi qua bờ,

Nước ngăn bò cạp bất ngờ

Nó đâu biết lội đứng đờ người ra

Đành quay lui, khó vượt qua,

Tiểu Đinh tinh nghịch nghĩ ra mưu liền

Lượm cành cây rớt kề bên

Bắc cầu qua lạch ngang trên đôi bờ

Chú bò cạp chẳng chần chờ

Bò qua rượt đuổi rắn như điên cuồng

Tấm thân rắn nhỏ thảm thương

Trốn không thoát kịp trăm đường đớn đau

Bị bò cạp cắn hồi lâu

Quằn người ra chết, còn đâu nẻo về,

Tiểu Đinh vui thích thoả thuê

Reo lên khoái chí vừa đi vừa cười.

*

Núi rừng khuất bóng mặt trời

Tiểu Đinh vội vã tìm nơi ngủ nhờ

Ghé vào chùa. Thật bất ngờ

Vừa trông thấy mặt là sư giật mình

Lắc đầu hỏi, giọng thất kinh:

"Trông con nét mặt quả tình nguy thay

Bao nhiêu ám khí phủ đầy

Chắc con khó sống qua ngày mai đâu,

Nói cho thầy biết thật mau

Gần đây con có phạm vào tội chi

Sinh linh có giết hại gì

Khiến cho phúc đức mất đi thảm sầu?"

Tiểu Đinh hốt hoảng lắc đầu

Sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu, thưa thầy

Rằng mình tinh nghịch mới đây

Giúp bò cạp giết rắn ngay trên đồi.

Sư vừa nghe nói dứt lời

Tức thời hốt hoảng kêu trời, khẽ than:

"Thật khó khăn! Thật nguy nan!

Thế nào vua rắn cũng làm hại ngay

Đòi con thường mạng, thảm thay

Khó mà trốn thoát nạn này được đâu!"

Tiểu Đinh sợ hãi van cầu

Xin sư chỉ cách nhiệm mầu cứu nguy.

Cúi đầu sư vội nghĩ suy

Hồi lâu lên tiếng từ bi giúp người:

"Chỉ còn cách tụng kinh thôi

May ra công đức do nơi lòng thành

Tạo ra một chút duyên lành

Cứu con thoát khỏi tội tình nghiệp oan!"

Sư bèn thả quả chuông vàng

Nới dây, hạ thấp xuống ngang hiên ngoài

Lệnh cho chú nhỏ vào ngồi

Khuyên luôn niệm Phật đồng thời cầu kinh,

Chuông vàng sư hạ xuống nhanh

Che cho chú nhỏ giấu mình bên trong,

Bên ngoài sư dốc một lòng

Mở kinh ngồi tụng vô cùng nghiêm trang

Khơi đèn, thắp nến, đốt nhang

Lạ thay khi mở kinh vàng ra xem

Không nhìn thấy chữ! Ngạc nhiên!

Trang kinh trắng xoá báo điềm tai ương

Mõ thời im tiếng chẳng vang

Dùi càng gõ mạnh mõ càng lặng câm

Sư lòng hoảng hốt vô ngần

Miệng luôn niệm Phật dốc tâm khẩn cầu.

Bỗng nhiên vua rắn từ đâu

Hiện ra giận giữ, cái đầu lắc lư

Đến ngay bên cạnh chỗ sư

Quấn chung quanh quả chuông xưa ba vòng

Vang lên tiếng rít hãi hùng

Và rồi sau đó lạnh lùng buông ra

Biến vào bóng tối nhạt nhoà

Ngoài song chánh điện trăng tà khuất mây.

Sư liền vội chạy đến ngay

Kéo chuông lên ngó trong đây thế nào

Thật là kinh khủng biết bao

Tiểu Đinh đã biến chốn nao mất rồi

Chỉ còn một vũng máu thôi

Dính quanh mớ tóc của người trẻ thơ.

Nhắm nghiền cặp mắt hiền từ

Sư lên tiếng niệm Phật A Di Đà

Một mình lẩm bẩm xót xa:

"Chót gây nghiệp dữ khó mà thoát đây

Nhân nào quả nấy xưa nay

Dễ gieo nhân ác, khó gây quả lành!"

Với tâm từ, với lòng thành

Ba ngày liên tiếp sư dành tụng kinh

Cầu cho chú nhỏ Tiểu Đinh

Linh hồn sớm được siêu sinh trọn bề.

(phỏng theo bản văn xuôi của PHẠM NGỌC KHUÊ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 31083)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25440)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10008)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6123)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4199)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4914)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4586)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4139)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15428)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5438)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.