14. Thầy Thuốc Giỏi

29/11/201115:17(Xem: 5928)
14. Thầy Thuốc Giỏi
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(14)

THẦY THUỐC GIỎI

Khi ngoài ba chục tuổi đầu

Phật đi truyền bá đạo mầu cho dân

Trên đường hoá độ một lần

Phật vào nhà nọ vô ngần giàu sang,

Chủ nhà thấy Phật nghiêm trang

Lại thêm tướng mạo rỡ ràng, uy nghi

Sinh lòng ái mộ tức thì

Muốn đem con gái gả đi cho ngài.

Phật nghe, từ chối nhẹ lời

Rồi ngài giáo hóa cho nơi chủ nhà.

*

Người đẹp tên Ma Đăng Già

Con "cưng" gia chủ tỏ ra bất bình

Nghĩ rằng Phật đã khinh mình

Cho rằng tự ái quả tình tổn thương

Nhủ lòng: "Ta sẽ tìm đường

Trả thù người dám coi thường thân ta!"

Thế rồi cô lên xe hoa

Kết hôn với kẻ thật là quyền uy

Đại vương thống trị xứ kia

Dân thì đông đúc, nước thì bao la.

Nhiều năm chờ đợi trôi qua

Hôm nay tin báo cho Ma Đăng Già:

"Người ta thấy bóng Phật Đà

Trên đường hoá độ sẽ qua vùng này!"

Ma Đăng Già mừng rỡ thay

Bàn mưu tính kế ra tay trả thù

Thuê phường ăn nói chanh chua

Chửi thuê, chửi mướn từ xưa lắm lời

Gom về chờ ở một nơi

"Dàn chào" đức Phật khi người qua đây.

Phật Đà xuất hiện! Lành thay!

Đi hầu sau Phật là thầy A Nan

Hai thầy trò vẻ nghiêm trang

Lặng đi qua những con đường đông dân,

Chợt nghe vang tiếng dữ dằn

Bao lời chửi bới tục tằn thốt lên

Chửi thuê hai đám hai bên

Cố tình làm nhục cho tên tuổi ngài.

Phật Đà nhẹ bước khoan thai

Điềm nhiên gác bỏ ngoài tai, chẳng màng

Chỉ riêng tôn giả A Nan

Nghe lời thô tục tối tăm mặt mày

Bèn thưa: "Mình lánh xa ngay

Nơi đây tệ bạc, chốn này xấu xa

Qua thành phố khác đón ta

Tràn đầy lòng kính, chan hòa tình thân!"

*

Phật bèn hỏi: "Này A Nan

Những thành phố khác ân cần đón ta

Tại sao dân chúng thiết tha

Đón thầy trò lúc ghé qua trong vùng?"

A Nan: "Dân chúng đón mừng

Vì nghe được Pháp nên từng hiểu ra

Lại thêm trí tuệ cao xa

Biết phân lành, dữ để mà tu thân!"

Phật bèn hỏi: "Này A Nan

Vùng này sao lại dữ dằn đón ta

Thật là bạc đãi quá mà?"

A Nan: "Bạch Phật! chẳng qua trong vùng

Dân cư khắp cả nói chung

Chưa nghe được Pháp, chưa từng hiểu ra

Vô minh trùm lấp mọi nhà

Nào phân phải, trái để mà gắng tu!"

Phật liền giảng: "Ví dụ như

Nếu thầy thuốc nọ rất ư là tài

Thương dân, chữa bệnh cho người

Lẽ nào lại yết bảng nơi nhà mình

Nhận riêng người nhẹ bệnh tình

Hoặc là chữa chạy người lành mạnh thôi,

Còn ai bệnh nặng quá rồi

Thời thầy miễn tiếp mặc người thương đau,

Chẳng ai tàn nhẫn vậy đâu!

Như Lai cũng thế, trước sau tận tình

Ra đời để giúp chúng sinh

Những người bị bóng vô minh che mờ

Nào phân thiện, ác đôi bờ

Nay gây nghiệp dữ, mai chờ niềm đau.

Những người bệnh nặng mong cầu

Cầu thầy thuốc giỏi chữa mau cho lành

Thì nơi đây các chúng sinh

Từ lâu mê muội quả tình cần ta

Cũng tương tự như vậy mà

Cần ta giáo hóa chỉ ra con đường

Đưa qua tới chốn thơm hương

Thoát vòng sinh tử, tìm nương Niết Bàn

Nơi đây khổ ải gian nan

Thầy trò mình bỏ ai làm thay đây?"

"Bạch Thế Tôn nhưng chỗ này

Thế Tôn nói Pháp uổng thay mọi điều

Ai thèm nghe! Ai muốn theo!

Dân tuy bệnh nặng chẳng yêu cầu thầy

Dù thầy giỏi, dù thuốc hay

Cũng đều vô ích, bó tay đầu hàng!"

Phật bèn dạy: "Này A Nan

Ai càng bệnh nặng lại càng đáng thương

Thân, tâm họ chẳng bình thường

Hành vi, ngôn ngữ hay vương sai lầm

Khi thô tục, lúc dữ dằn

Nên thầy thuốc phải tận tâm vô cùng

Đừng xao xuyến, chớ ngại ngùng

Hết lòng cứu chữa mới mong bệnh lành,

Khi dân khỏi hết bệnh tình

Chẳng cần nhờ nữa, chúng mình sẽ đi!"

*

Lời vàng chan chứa từ bi

Như khơi nguồn cội lương tri con người,

Đám du đãng lén nghe lời

Đột nhiên thức tỉnh, tức thời ngộ ra

Từ lâu lầm bước nẻo tà

Giờ đây hối hận thật là xót xa

Cùng quỳ xin lỗi Phật Đà:

"Xin ngài lưu lại để mà giúp dân

Chúng con tựa đám bệnh nhân

Đang cơn hấp hối rất cần lương y!"

Thời gian thấm thoắt trôi đi

Đạo vàng rạng ánh từ bi khắp vùng.

Một ngày Phật lại lên đường

Thầy A Nan vẫn tháp tùng phía sau

Tìm nơi truyền bá đạo mầu

Bà con lũ lượt kéo nhau tiễn ngài

Như là con bệnh lâu đời

Tiễn đưa thầy thuốc đại tài cứu dân.

(phỏng theo bản văn xuôi của THÍCH NỮ NHƯ THỦY)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30047)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25176)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9731)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5838)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4058)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4824)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4252)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4033)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15171)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5334)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.