06. Vàng Ngọc

29/11/201115:17(Xem: 6736)
06. Vàng Ngọc
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(6)

VÀNG NGỌC

Phật thời còn tại thế gian

Có ông vua nọ ngọc vàng đầy kho

Chất cao như ngọn núi to

Một ngày vua muốn phát cho mọi người

Đem ra bố thí khắp nơi

Cái tâm phước thiện tuyệt vời biết bao!

Mỗi người lần lượt theo vào

Bốc ra một nắm số châu báu này,

Bao người đã ghé lại đây

Núi châu báu nọ vẫn đầy, vẫn cao.

Nhà vua này đã từ lâu

Phước duyên chất chứa trước sau nhiều rồi,

Phật Đà biết đã tới thời

Thuận chiều hóa độ cho người thiện tâm

Phật thành Phạm Chí hóa thân

Đến thăm vua nọ, dừng chân, thốt lời:

"Tôi từ xa ghé tới nơi

Xin vua ngọc báu để tôi mang về

Đổi thành vật liệu chốn quê

Làm nhà để ở tiện bề ấm êm".

Rất vui lòng vua nói liền:

"Ngọc vàng có sẵn đây xin ông dùng!".

Người xin bốc một nắm xong

Vừa đi bảy bước đã vòng lại ngay

Ngọc vàng trả lại chốn đây

Nhà vua thấy chuyện lạ này hỏi luôn,

Người xin kể lể nguồn cơn:

"Cất nhà tuy đủ nhưng còn phần tôi

Năm sau đã cưới vợ rồi

Cho nên vẫn thiếu nên tôi trả về!".

Nhà vua: "Nếu vậy khó chi

Lấy thêm ba nắm mang đi là vừa!"

Người xin đã chẳng chối từ

Bốc thêm ba nắm rất ư đẹp lòng

Mới đi bảy bước vừa xong

Người xin lại vội vã vòng lại đây

Báu châu trả lại vua ngay

Khiến vua lại hỏi, vẫn đầy ngạc nhiên.

Người xin: "Đủ cưới vợ hiền

Nhưng còn ruộng đất, lại thêm trâu bò

Thêm gia nhân cũng phải lo

Phần này đâu có đủ cho mọi bề

Thật tình tôi chẳng dám chê

Cho nên trả lại! Xin về làm chi!"

Nhà vua: "Nào có khó gì

Lấy thêm bảy nắm nữa đi xin mời!"

Người xin lấy bảy nắm rồi

Mới đi bảy bước ông thời quay lui

Báu châu vẫn trả lại thôi

Khiến vua kinh ngạc thốt lời hỏi thăm.

Người xin cất tiếng than van:

"Tôi còn bao chuyện khó khăn tại nhà

Nào lo phụng dưỡng mẹ già,

Nào lo chăm sóc cho cha tật nguyền,

Nào lo kỵ giỗ liên miên

Lại thêm giao tiếp thường xuyên họ hàng,

Còn bè bạn, còn xóm làng

Số này không đủ! Nên mang trả về!"

Vua hoan hỉ nói: "Vậy thì

Biếu ông tất cả núi kia ngọc vàng

Chắc là thừa thãi mọi đàng?"

Người xin châu báu vội vàng nhận ngay.

*

Bước lên núi báu vui thay

Nhưng rồi trở xuống, giọng đầy ưu tư:

"Muôn vàn cảm tạ nhà vua

Tôi không nhận nữa, xin đưa trả ngài!"

Vua kinh ngạc: "Có gì sai?

Của tôi hiến tặng cho ai cần dùng!"

Người xin nhẹ thốt tiếng lòng:

"Hôm nay tôi đến để mong của này

Mưu cầu sự sống hàng ngày

Nhưng nay xét lại mới hay một điều

Thời gian sống chẳng bao nhiêu

Sáng còn, tối đã mất tiêu đi rồi

Vô thường muôn vật ở đời

Khó mà lưu giữ mãi nơi tay mình,

Núi châu báu cũng tan tành

Bản thân hưởng lợi mong manh sớm chiều

Ham càng lắm, muốn càng nhiều

Bao nhiêu thèm khát, bấy nhiêu đọa đày

Chi bằng dục vọng dứt ngay

Và cầu đạo giải thoát đầy tinh anh

Trau dồi đức tính cho mình

Và cho xã hội, gia đình mãi thôi

Hướng về mục đích tuyệt vời

Từ bi, trí tuệ theo nơi đạo mầu

Cho nên tôi chẳng ham cầu

Chẳng cầu vàng ngọc và châu báu này!"

*

Vua nghe liền tỉnh ngộ ngay

Lời vàng tỏ rạng sáng đầy trong tâm

Bấy giờ Phật mới hiện thân

Hào quang rực rỡ sáng ngần khắp nơi

Nhà vua cùng các bầy tôi

Vui mừng xin được nghe lời Phật ban

Xin quy y với đạo vàng,

Xin theo ngũ giới, bình an tâm hồn.

(phỏng theo bản văn xuôi của VIÊN MINH)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30081)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25199)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9743)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5916)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4092)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4862)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4264)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4078)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15241)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5339)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.