06. Xâu Ngọc... Nước

29/11/201115:17(Xem: 7408)
06. Xâu Ngọc... Nước
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(6)

Xâu Ngọc... Nước

Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng

Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh

Có hòn non bộ hữu tình

Có hồ bán nguyệt in hình trời mây

Mưa nhè nhẹ, gió hây hây

Muôn chim đua hót ngất ngây lòng người.

Bên mành Công Chúa đang ngồi

Nụ cười trong trắng, tuổi đời ngây thơ

Cảnh vườn Thượng Uyển như mơ

Nhưng Nàng đưa mắt thờ ơ ngắm nhìn

Quá quen cảnh vật ngoài hiên

Nên Nàng mơ mộng về miền xa xôi

Thả hồn mơ cảnh lạ đời

Khác hơn mọi thứ ở nơi cung đình.

*

Hạt mưa lất phất qua mành

Rơi trên mái ngói men xanh hiên ngoài

Ðọng thành dòng nhỏ chảy dài

Buông từng giọt xuống rãnh nơi thềm nhà,

Giọt mưa rọi nắng vàng pha

Nở thành bóng nước như hoa tuyệt vời

Sắc mầu kỳ ảo rạng ngời

Giống muôn hạt ngọc hiếm nơi dương trần.

*

Mặt Công Chúa chợt sáng ngần

Nàng nhìn bóng nước nghĩ thầm: "Ðẹp thay!

Ta nhiều châu báu trong tay

Nhưng so với "ngọc nước" này kém xa

Ước gì ai tặng cho ta

Một tràng chuỗi kết toàn là ngọc đây

Ðeo lên trang điểm cổ này

Biết bao hạnh phúc dâng đầy tim côi!".

*

Khi mưa trên mái tạnh rồi

Nước ngưng lòng rãnh. Ôi thôi còn gì!

Bao hình bóng nước biến đi

Còn đâu ngọc quý! Còn chi mộng hờ!

Tâm hồn Công Chúa ngẩn ngơ

U buồn nét mặt! Thẫn thờ con tim!

Về phòng đóng cửa, im lìm,

Vội vàng cung nữ báo tin triều đình.

Ðức Vua, Hoàng Hậu hoảng kinh

Tưởng Nàng bệnh nặng, xót tình con yêu

Thường nâng niu, vốn nuông chiều

Nên cùng gạn hỏi đủ điều hồi lâu.

E dè Công Chúa cúi đầu

Lời hoa thỏ thẻ trình tâu ý mình

Muốn tràng "ngọc nước" đẹp xinh

Bồng bềnh trên rãnh, kết thành chuỗi đeo.

*

Vua vui vẻ nói: "Con yêu!

Ðó là bóng nước mưa chiều tạo ra

Tuy trông đẹp tựa ngọc ngà

Kết đâu thành chuỗi! Chỉ là giả thôi!

Ta nhiều ngọc hiếm trên đời

Cho con ngọc thật chứa nơi kho tàng!"

Vua sai mang ngọc cho Nàng

Nhưng nào Công Chúa có màng đến đâu

Chỉ đòi "ngọc nước" muôn mầu

Giờ đây thất vọng, âu sầu ngày đêm

Bệnh tình càng trở nặng thêm

Vua và Hoàng Hậu muộn phiền lo âu.

*

Thế rồi nhân một buổi chầu

Vua, Quan họp lại cùng nhau luận bàn

Làm sao chữa bệnh cho Nàng,

Triều thần lúng túng không phương kế nào.

Vua đòi thợ ngọc giỏi vào

Lệnh theo bóng nước sắc mầu long lanh

Mà làm ra ngọc đẹp xinh

Ðể xâu thành chuỗi đem trình lên Vua.

Bao nhiêu thợ giỏi chịu thua

Làm sao chuốt ngọc đẹp như bóng hình!

Vua mong Công Chúa chóng lành

Nghìn vàng treo thưởng tìm danh y về.

*

Rồi vào một buổi sáng kia

Có người thợ ngọc xin đi vào chầu

Già đời, trắng tóc, bạc râu

Sau khi nghe chuyện Cụ tâu đôi lời:

"Ðây là tâm bệnh mà thôi

Thuốc thang điều trị không đời nào xong

Bệnh tình Công Chúa trong cung

Hạ thần có cách. Chữa mong khỏi liền!"

Vua Cha mừng rỡ vô biên

Ði tìm Công Chúa báo tin: "Có người

Xâu được ngọc quý thật tài!"

Nàng nghe vội nở nụ cười. Mộng mơ.

*

Hôm sau được dịp trời mưa

Bao nhiêu "ngọc nước" trôi bờ rãnh hoa

Cụ già tâu với Vua Cha

Xin mời Công Chúa ghé ra trước thềm

Cụ thưa: "Tôi mắt kèm nhèm

Ngọc nào tốt xấu khó nhìn ra thay

Xin nhờ Công Chúa khéo tay

Lại thêm tinh mắt, ra đây lựa giùm!"

Long lanh bóng nước từng chùm

Trôi trên bờ rãnh chập chùng nối nhau

Tựa như ngọc quý muôn mầu

Tiếc thay chạm đến tan mau không ngờ!

Nàng Công Chúa tiếc ngẩn ngơ

Nhanh tay cố vớt hàng giờ uổng công.

Hồi lâu chán nản trong lòng

Xoay qua lên tiếng thưa cùng Vua Cha:

"Thứ này chẳng đáng ước mơ

Chỉ là hình dáng phô ra bên ngoài

Toàn là giả tạo mà thôi

Con không ưa thích nữa rồi! Thưa Cha!"

Nàng Công Chúa tỉnh ngộ ra

Thẹn thùng về chuyện vừa qua vô vàn.

*

Phật quay qua Ngài A Nan

Và cùng đại chúng khẽ ban lời vàng:

"Vật chi thể chất rõ ràng

Lại thêm hình tướng sẽ càng mau tan:

Bồng bềnh như bóng trôi ngang

Chập chờn như dải nắng vàng trong mưa

Mà nai khao khát thích ưa

Tưởng lầm là nước vội đua nhau dành!"

*

Sắc thân ngũ ấm chúng sanh

Nếu mà quán tưởng như vành nắng kia

Quán như bóng nước tan đi

Thoát vòng sanh tử! Còn chi luân hồi!

(phỏng theo bản văn xuôi

của Trí Hiền)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30233)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25245)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9753)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6054)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4097)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4873)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4488)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4081)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15267)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5345)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.