12. Người Mẹ

29/11/201115:17(Xem: 6252)
12. Người Mẹ
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(12)

Người Mẹ

Nắng hồng rực rỡ trời mây

Chim muông ríu rít, cỏ cây rộn ràng

Hào quang chói lọi ánh vàng

Theo chân Ðức Phật lên đàng sáng nay

Ngài đi khất thực trong ngày

Tìm cơ giáo hóa những ai lầm đường.

*

Nhà kia kín cổng cao tường

Ðế Ðô là chủ, giàu sang nhất vùng

Tham lam, ích kỷ vô cùng,

Hôm nay chủ vắng. Chó trông chừng nhà,

Nhe nanh hăm dọa người qua

Mắt ngầu hung dữ như là cuồng điên.

*

Phật ngừng khất thực trước hiên

Chó lao vội đến sủa lên, cắn Ngài

"Hãy im!" Ngài nói khoan thai

Chó bèn lui lại để rồi chồm lên

Phật đưa tay đỡ thản nhiên

Ðón hai chân trước xong liền nói ngay:

"Ngươi là Mẹ chủ nhà này!

Chớ nên nóng giận. Ta đây rõ rồi

Kiếp xưa hung ác hại người

Quanh năm lừa lọc, suốt đời tham lam

Cửa nhà, châu báu, bạc vàng

Mưu mô thâu góp vô vàn bất lương

Chết rồi còn vấn còn vương

Luyến lưu trần thế, tiếc thương gia tài

Lựa ngay kiếp Chó đầu thai

Trở về nhà cũ giữ hoài của kia

Còn tham lam nữa làm chi!

Phải lo tu tỉnh ngay đi từ giờ!".

*

Oai phong Ðức Phật vô bờ

Lời vàng nhiếp phục. Chó như ngộ liền

Ăn năn, hối cải, lặng im

Gục đầu, lệ tủi dâng lên ngập tràn

Phật bèn lui bước nhẹ nhàng,

Chó từ khi đó chẳng màng giữ canh

Lui vào một xó quẩn quanh

Bỏ ăn, bỏ sủa, mặc tình chủ gia.

Ðế Ðô dò hỏi người nhà

Mới hay chuyện Phật ghé qua bữa nào

Ðế Ðô căm tức biết bao

Chạy đi tìm Phật hỗn hào hét la.

*

Phật ôn tồn dạy: "Nghe ta!

Chó này kiếp trước chính là Mẹ ngươi

Tham lam, độc ác, hại người

Nên nay muốn trở về nơi chốn này

Hóa làm kiếp Chó khổ thay

Quẩn quanh giữ của đọa đầy tấm thân!"

Ðế Ðô bực bội vô ngần

Nghĩ lời vu khống, mười phần chẳng tin.

Phật thêm: "Ngươi hãy về liền

Dưới gầm Chó ngủ đào lên có vàng

Mẹ ngươi chôn dấu kỹ càng

Chết rồi chẳng kịp trối trăn câu nào!"

*

Ðế Ðô kinh ngạc xiết bao

Lòng tham tan biến! Nỗi đau dâng tràn

Niềm tin đạo pháp dần lan

Về nhà đào bới, thấy vàng dấu chôn

Chao ơi tan nát tâm hồn!

Ðế Ðô ôm Chó lệ tuôn tràn trề

Ăn năn cuộc sống u mê

Giờ đây sám hối quay về đường ngay

Quỳ xin Ðức Phật chỉ bày

Cứu cho Mẹ khỏi cảnh đầy khổ đau.

*

Từ bi Phật dạy đôi câu:

"Mẹ ngươi nghiệp chướng từ lâu nặng nề

Ngươi mau mau hãy tìm về

Nương nhờ Tam Bảo quy y tức thì

Lại thêm ngũ giới thọ trì

Tiền này bố thí, của kia cúng dường

Chân thành sám hối trong lòng

Mẹ yêu hồi hướng mới mong phước lành!

Ta từng chỉ dạy chúng sanh

Con đường giải thoát tự mình phải theo

Ở đời sướng khổ mình gieo

Nhân nào quả nấy chớ kêu ai cùng!"

*

Ðế Ðô chợt hiểu. Vui mừng!

Làm theo lời Phật một lòng thiết tha.

Thời gian thấm thoắt trôi qua

Một hôm Chó duỗi mình ra lìa trần

Trút hơi thỏa mãn vô ngần

Tâm hồn thanh thản! Xác thân nhẹ nhàng!

*

Hôm sau trong giấc mộng vàng

Ðế Ðô thấy một Bà dang tay cười

Trên nền mây trắng giữa trời

Gật đầu vui sướng, nói lời dịu êm:

"Mẹ gây lầm lỗi triền miên

Chó kia là Mẹ đọa miền khổ đau

Nhờ ơn Phật độ nhiệm mầu

Nhờ con hiếu thảo trước sau tâm thành

Ngày nay Mẹ được vãng sanh

Vào nơi thế giới an lành thảnh thơi!

Chớ quên nhân quả ở đời

Luật Trời đã định! Nhớ lời nghe con!

Gắng công tu học cho tròn

Mẹ dù vĩnh biệt mãi còn an vui!"

(phỏng theo bản văn xuôi

của Ðức Thương)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30280)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25280)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9804)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6086)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4131)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4890)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4515)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4084)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15300)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5362)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.