20. Cò và Cua

29/11/201115:17(Xem: 6696)
20. Cò và Cua
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(20)

Cò và Cua

co-va-cua-2

Vườn Trúc Lâm buổi đẹp trời

Phật ngồi thuyết pháp, răn đời chuyện hay:

*

Một trong tiền kiếp trước đây

Ta là Thần ở trên cây cao vời

Cây to, mọc đã lâu đời

Giữa hai đầm nước ngay nơi ven rừng

Một đầm nhỏ, nước lưng chừng

Chàng Cua và lũ cá chung họp bầy,

Đầm kia rộng rãi đẹp thay

Lá sen phủ kín, nước đầy, xanh tươi.

Một năm hạn hán khắp nơi

Nước trong đầm nhỏ bốc hơi cạn dần

Nhưng bên đầm lớn ở gần

Nước nhờ sen phủ mười phần còn nguyên.

*

Cò kia đi dạo phía trên

Thấy bầy cá nhỏ Cò liền dừng chân

Trong lòng tính toán phân vân

Nghĩ mưu lừa cá, bắt dần lên ăn.

Cò bèn tỏ vẻ quan tâm

Nói cùng bầy cá: "Nước đầm mau vơi

Các em rồi chết khô thôi

Khổ thân! Tội nghiệp! Mau rời khỏi đây!"

Cá nghe hoảng hốt cả bầy

Xin Cò tìm cách ra tay cứu mình.

Cò bèn lên giọng nghĩa tình:

"Đầm sen là chỗ an bình trú chân

Di cư qua đấy cũng gần

Mỏ dài anh giúp quắp dần từng em!"

Cua nghe vội vã la lên:

"Coi chừng kẻo mắc bẫy tên Cò này

Thật là chuyện lạ xưa nay

Giống Cò nào có thương bầy chúng ta

Đói lòng nó đến thôi mà!"

Cò bèn trổ giọng ba hoa nhân từ:

"Các em muốn rõ thực hư

Cử ngay đại diện anh đưa đi liền

Qua chơi cho biết đầm sen

Bơi xong thỏa thích anh đem trở về

Anh đây tử tế khỏi chê

Giúp người hoạn nạn có nề hà chi,

Các em chớ có hồ nghi

Thoát mau khỏi chốn hiểm nguy kịp thời!"

Cá nghe, bàn tán chọn người

Cá già được cử đi chơi thăm dò.

Cá già về, ca tụng Cò:

"Anh chàng thật tốt! Chớ lo ngại gì!

Đầm sen rộng rãi đẹp ghê

Bồng lai, tiên cảnh khó bề sánh ngang!"

Thế là bầy cá vội vàng

Tranh nhau xin được dời sang đầm này.

Cuộc di cư dễ dàng thay

Anh Cò bụng đói giúp ngay cho mà

Quắp từng em cá đưa qua

Gốc cây cổ thụ nhả ra rỉa mồi

Chỉ còn vứt lại xương thôi

Tàn đời lũ cá tin lời gian manh!

*

Đến khi hết cá bơi quanh

Trong đầm còn lại một mình chàng Cua

Khôn ngoan, thủ đoạn có thừa

Cua vừa thắc mắc, lại vừa nghĩ suy:

"Mình rời đầm cạn ra đi

Phải lo đối phó, phòng khi mắc lừa".

Cò ta vồn vã hỏi Cua:

"Bạn Cua có muốn ta đưa giúp nào?"

Cua nghi ngại: "Đưa làm sao?"

Cò ta dụ dỗ: "Quắp vào mỏ thôi

Cũng như đưa cá vừa rồi!"

Cua bèn than vãn: "Vỏ tôi cứng còng

Lại trơn tuồn tuột thấy không

Mỏ dài anh quắp khó lòng lắm thay

Sợ rơi xuống đất tan thây

Chi bằng tôi bám nhẹ ngay cổ này

Cổ anh rất khỏe xưa nay

Mọi người vẫn phục là tay anh hùng!"

Thịt Cua mùi chợt thơm lừng

Thêm lời nịnh hót tưng bừng sướng tai

Cò vươn ngay chiếc cổ dài

Cua bèn bám cổ. Cả hai đi liền.

Khi gần tới cạnh đầm sen

Ăn quen lối cũ Cò bèn dừng chân.

Cua nghi, hỏi giọng băn khoăn:

"Sao anh ngừng lại? Phải chăng mệt rồi?"

Loay hoay tìm cách trả lời

Cò đang nghĩ quẩn, Cua thời nhìn quanh

Thấy ngay xương cá rành rành

Gốc cây cổ thụ chất thành đống to.

Cua nhanh nhẹn bóp cổ Cò

Hai càng chắc nịch xiết cho rụng rời,

Cua la: "Mày chết Cò ơi!

Lừa tao sao nổi! Tao đời nào thua!"

Cò đau đớn khẽ van Cua:

"Đầm sen gần tới! Tôi đưa đi liền!"

Cua ra lệnh: "Đi mau lên!

Giở trò bịp bợm chết liền nghe em!"

Cò đưa Cua tới đầm sen

Cổ dài vươn xuống ngang trên mặt đầm

Để Cua xuống nước cho gần

Để Cò mau thoát khỏi phần đớn đau

Nào ngờ Cua có tha đâu

Hai càng xiết mạnh cứa sâu cổ dài

Cổ Cò đứt đoạn làm hai

Tàn đời xảo trá! Hết loài gian manh!

*

Thần cây rõ chuyện ngọn ngành

Răn đời: "Thâm độc có thành công đâu

Rước vào kết quả thảm sầu

Ác giả, ác báo từ lâu vậy mà!"

(phỏng theo bản văn xuôi

của Nguyễn Thế Vinh)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30026)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25173)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9730)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5836)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4040)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4803)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4249)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4004)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15143)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5332)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.