07. Vui Trong Ðau Khổ

29/11/201115:17(Xem: 5896)
07. Vui Trong Ðau Khổ
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(7)

Vui TrongÐau Khổ

Một hôm thuyết pháp trở về

Phật cùng đệ tử đang đi trên đường

Chợt đâu thấy một anh chàng

Lùa bầy bò chạy nghênh ngang reo hò.

Ðàn bò vừa được ăn no

Vui chân nhảy nhót đủ trò trước sau

Rỡn đùa, kêu rống, chen nhau

Ðể rồi lấn ép húc đầu, máu văng

Thêm đòn vọt của người chăn

Bò kêu đau đớn, lưng hằn vết roi.

*

Chỉ đàn bò, Phật ban lời:

"Anh chàng hàng thịt thảnh thơi chăn bò

Hàng ngày lùa chúng ra vô

Tìm nơi cỏ tốt tha hồ bò ăn

Ðàn bò có tới ba ngàn

Con nào béo tốt là chàng lựa ra

Phanh thây, xẻ thịt, lột da

Ðem qua chợ bán gần xa kiếm lời.

Nửa đàn bò bị giết rồi

Những con còn lại có đời nào hay

Phận mình biết sẽ sao đây

Thản nhiên vui vẻ đua bầy rỡn nhau."

*

"Ðời người có khác gì đâu

Biết bao nhiêu kẻ vùi sâu thân mình

Tham lam dục lạc thường tình

Bạc tiền chất chứa, lợi danh mưu cầu

Trăm phương nghìn kế hại nhau

Nào hay cuộc sống trước sau vô thường

Mong manh như một giọt sương

Long lanh ngọn cỏ bên đường gió lay!"

*

"Cạnh bên sự sống hàng ngày

Tuổi già, cái chết kề ngay đó rồi

Từng giờ từng phút lặng trôi

Con người lại tiến gần nơi mộ phần

Như dòng nước nhỏ nhẹ tuôn

Soi mòn bờ đất dần dần sụp tan,

Giống như bể cá thênh thang

Nước theo khe nứt nhẹ nhàng thoát đi

Cá còn sống được lâu chi?

Con người nào có nghĩ gì sâu xa

Ðể mà hay biết thân ta

Cái tôi "bản ngã" chỉ là tạm thôi!"

(phỏng theo bản văn xuôi
của Hồng Mai)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30904)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25380)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9979)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6115)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4196)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4908)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4574)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4135)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15414)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5407)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.