04. Bán Nghèo

29/11/201115:17(Xem: 6149)
04. Bán Nghèo
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(4)

BÁN NGHÈO

Ở bên Ấn Độ thời xưa

Có ông trưởng giả rất ư là giàu

Nhưng mà keo kiệt hàng đầu

Cho vay nặng lãi, nào đâu thương người,

Tính tình hung ác nhất đời

Ai không trả nổi nợ thời khổ thân

Ông sai ngay đám gia nhân

Tới nơi đánh đập bạo tàn chẳng tha.

Ngay người giúp việc trong nhà

Thời ông cũng xử thật là tệ thay

Có bà lão bộc nhà này

Việc làm quần quật luôn tay sớm chiều

Mỗi khi làm hỏng ít nhiều

Thời ông đánh mắng đủ điều chẳng nương,

Áo quần rách rưới tang thương

Cháo cơm thiếu thốn thất thường liên miên

Tuổi già, sức yếu, phận hèn

Lão bà tủi nhục buồn phiền than thân.

Một hôm bà lão dừng chân

Mang bình múc nước ngay gần mé sông

Đọa đày, đau khổ chất chồng

Khiến bà rơi lệ trong lòng nát tan

Muốn lìa ngay cõi nhân gian

Nhảy sông tự vận giải oan kiếp này.

Chợt đâu có một ông thầy

Đến bên, bà cũng chẳng hay biết gì

Thấy bà than khóc tỉ tê

Thầy tu thương cảm kiếm bề hỏi han

Bà liền kể lể than van

Phận mình nghèo khó gian nan đủ điều.

Thầy tu: "Tội nghiệp bà nhiều

Sao không bán quách cái nghèo đó đi

Lâu nay ôm giữ làm chi!"

Ngạc nhiên bà lão tức thì hỏi ngay:

"Sao thầy nói lạ lùng thay

Cái nghèo khốn khổ thế này ai mua?"

Thầy tu: "Tôi chẳng nói đùa!"

Thấy thầy chân thật, hiền từ, đáng tin

Bà già tuy rất ngạc nhiên

Cũng lên tiếng hỏi thăm liền quản chi:

"Thầy ơi! Thầy có kế gì

Giúp tôi bán cái nghèo đi cho rồi

Ơn thầy tôi nhớ suốt đời!"

Thầy tu: "Nếu vậy thì tôi bảo gì

Bà làm cho đúng từng ly

Mới mong bán cái nghèo đi dễ dàng,

Dòng sông kia gợn sóng vàng

Bà nên xuống tắm kỹ càng rồi lên

Sạch thân, trút hết ưu phiền

Tránh xa bệnh tật lại thêm yêu đời!"

*

Bà già vội vã vâng lời

Xuống sông tắm rửa, lên rồi thưa ngay:

"Thầy ơi làm cách nào đây

Để mà bán cái nghèo này êm xuôi?"

Thầy tu: "Bố thí cho người!

Khi tay bố thí tâm thời hết tham

Tham lam, keo kiệt là nhân

Gây ra nghèo khổ cơ hàn đời nay,

Bà tham nhiều kiếp trước đây

Kiếp này quả báo nên bây giờ nghèo!"

Bà già kinh ngạc khẽ kêu:

"Trời ơi! Tôi hiện tiêu điều xác xơ

Của đâu bố thí bây giờ,

Cái bình là của chủ đưa sáng này

Sai mang múc nước về ngay

Nếu cần bố thí tôi đây tiếc gì

Biếu luôn bình nước này đi

Mặc cho chủ đánh! Quản chi thân già!

Quen rồi bao chuyện xót xa

Sợ chi! Liều mạng! Chết là cùng thôi!"

Thầy tu: "Nếu vậy được rồi

Của mang bố thí quý nơi lòng thành

Bà đi múc nước đầy bình

Tìm nơi nước sạch múc nhanh mang về!"

Nghe lời bà vội vã đi

Múc đầy nước sạch lòng thì vui thay

Đem lên cung kính biếu thầy

Thầy tu hoan hỉ đưa tay nhận liền

Sau khi chú nguyện im lìm

Thầy lên tiếng dạy: "Bà nên tu hành

Ăn chay, niệm Phật tâm thành

Giờ gây công đức, quả lành mai sau!"

Rồi thầy hỏi: "Bà ngủ đâu

Nơi ăn chốn ở chỗ nào sạch không?"

Bà thưa: "Tôi khổ vô cùng

Ngủ lăn ngủ lóc giáp vòng quanh đây,

Khi nhà bếp, lúc cối xay

Bạ đâu ngủ đó qua ngày mà thôi!"

Thầy tu: "Bà nhớ lời tôi

Giữ cho thanh tịnh thảnh thơi cõi lòng

Lo tròn bổn phận cho xong

Đừng gieo oán hận vào trong tâm mình,

Lựa khi vắng vẻ đêm thanh

Cả nhà ngủ hết, lén nhanh mọi người

Lên nhà trên, vào trong ngồi

Xếp bằng niệm Phật trước nơi bàn thờ

Tâm đừng nghĩ ngợi vẩn vơ

Tập trung tư tưởng để mà cầu kinh

Sẽ mau hưởng được phước lành!"

Bà già hoan hỉ quay nhanh trở về

Lời thầy khuyên mãi khắc ghi

Thế rồi một tối làm y lời này.

*

Dinh cơ trưởng giả sáng nay

Gia nhân mở cửa thấy ngay bà già

Lên đây lén lút tối qua

Bây giờ ngồi chết thật là bình yên,

Mọi người hô hoán ầm lên

Báo tin trưởng giả đến liền để coi

Chủ nhà vội chạy tới nơi

Thấy bà già chết, tức thời quát la:

"Cột chân kéo xác này ra

Bỏ vào rừng để quạ tha làm mồi

Để đây ghê tởm quá trời!"

Gia nhân sợ hãi vâng lời chủ kia

Cột chân xác chết kéo đi

Nhưng ra khỏi ngõ tức thì ngừng tay

Đắp cho bà tấm vải dày

Rồi cùng khiêng xác đưa ngay vào rừng.

*

Ai ngờ bà lão bần cùng

Chết rồi thần thức lên từng trời cao

Cõi trời Đao Lợi sinh vào

Do thầy chú nguyện với bao tâm thành,

Do bà cố gắng tự mình

Suốt đời niệm Phật. Hiển linh tuyệt vời.

Mới hay giá trị con người

Không do vật chất, do nơi tinh thần,

Bà già nghèo khổ tấm thân

Bán nghèo với giá vô ngần quý thay

Làm thiên tử kể từ đây

Hưởng nhiều phước báu, gương này soi chung.

(phỏng theo bản văn xuôi của T.P)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30026)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25173)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9729)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5836)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4031)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4793)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4248)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3993)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15125)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5326)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.