28. Năm Giọt Mật

29/11/201115:17(Xem: 6054)
28. Năm Giọt Mật
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(28)

NĂM GIỌT MẬT

Ngày xưa có kẻ tử tù

Một ngày vượt ngục chạy như điên cuồng

Trốn cho mau, vội tìm đường,

Phía sau lính gác rộn ràng rượt theo

Xua hai voi dữ hiểm nghèo

Vòi vươn dài thượt, miệng kêu vang ầm,

Trong cơn hốt hoảng tâm thần

Chẳng may chàng lại sa chân dọc đường

Rơi vào miệng giếng thảm thương

Giếng sâu hun hút khiến chàng hoảng kinh

Vung tay quờ quạng quanh mình

Thấy cây buông rễ rung rinh lưng chừng

Chàng ôm thật chặt, vui mừng

Phen này tưởng thoát. Tìm đường trèo lên

Nào ngờ ngay miệng giếng trên

Hai con voi dữ đến bên kiếm người

Rống vang náo động đất trời

Cỏ cây giẫm đạp tơi bời thị uy,

Chàng tù hãi sợ kể chi

Tính đường tụt xuống đáy kia cho rồi

Nhưng khi nhìn xuống, chao ơi!

Ba con rồng lớn uốn người dưới sâu

Giơ nanh, múa vuốt, vươn đầu

Phun tia lửa nóng, phun mầu đỏ thiêu

Muốn bay lên chỗ dây leo

Nuốt chàng vượt ngục đang trèo nơi đây.

*

Chàng bèn bám chặt rễ cây

Tưởng rằng lủng lẳng thế này tạm yên

Ác sao ngay ở phía trên

Hai con chuột cống cắn liền đầu dây

Một đen, một trắng to thay

Đua nhau gậm nhấm rễ này mải mê.

Nhìn quanh thành giếng cận kề

Chợt trong hang hốc bốn bề nhô ra

Bốn con rắn độc hít hà

Ngóc đầu thè lưỡi mổ qua thân người.

Chàng toan leo tuốt lên thôi

Mong tìm đường thoát khỏi nơi chốn này

Nhưng đuối sức, lại yếu tay

Miệng khô,cổ cháy, thân đầy mồ hôi

Anh chàng ngửa mặt thốt lời:

"Trời ơi sao nỡ hại tôi thế này!"

Chừng như sắp tắt thở ngay

Trong cơn tuyệt vọng dâng đầy tim côi

Anh chàng há miệng lấy hơi

Thở vào một chút khí trời thênh thang,

Một bầy ong chợt bay ngang

Làm rơi mật xuống miệng chàng ngọt thơm

Đủ năm giọt mật vàng ươm

Chàng bèn nhắp mật vào luôn miệng chàng

Ngọt ngào, thơm phức, mơ màng

Thế là mê tít tâm can mất rồi

Và trong giây phút tuyệt vời

Đã quên đi mất giếng khơi hiểm nghèo

Quên đi tình cảnh cheo leo

Quên đi tính mạng đang treo chỉ mành.

*

Ngẫm trong kiếp sống mong manh

Đủ năm lạc thú vây quanh chẳng rời:

Tiền tài quyến rũ con người

Từng gây bạc bẽo từ thời xa xưa;

Aí tình, sắc dục đong đưa

Tấm gương kim cổ đã thừa đớn đau;

Miếng mồi danh vọng đua nhau

Như bong bóng nước tan mau mặt hồ;

Chuyện ăn uống mãi ham lo

Từng gây nhục nhã ra cho bao người;

Chuyện ham ngủ nghỉ thảnh thơi

Chăm lo thân xác tức thời mau quên

Tấm thân "tứ đại" chẳng bền

Sớm tan như giọt sương trên cỏ làn.

Chúng sinh "ngũ dục" mãi ham

Như ham năm giọt mật tan miệng người

Thơm ngon, quyến rũ tuyệt vời

Khiến người quên mất cuộc đời hiểm nguy

Khổ đau quên mất còn chi

Nhớ đâu đường đạo từ bi mà về.

(phỏng theo bản văn xuôi trong TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 29985)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25156)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9727)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5830)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 3967)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4722)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4236)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3927)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 14914)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5317)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.