10. Con Chó Ðói

29/11/201115:17(Xem: 5605)
10. Con Chó Ðói
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(10)

Con Chó Ðói

Phật khi còn tại thế gian

Có Vua hung ác, bạo tàn, hại dân

Nghe Ngài thuyết pháp ở gần

Vua theo dân chúng ân cần tới lui

Xin Ngài kể một chuyện vui

Lại vừa hữu ích cho đời dài lâu.

Phật bèn kể lại chuyện sau

Chuyện "Con Chó Ðói" xiết bao lạ thường.

*

Thuở xưa có vị Quốc Vương

Hung tàn, bạo ngược chẳng thương dân mình

Mọi người khốn đốn, điêu linh,

Khiến Ông Ðế Thích hiện hình trần gian

Dắt theo quỷ dữ vô vàn,

Ông thành một bác thợ săn hiền lành

Quỷ thành ra Chó khôn lanh

Xác thân to lớn, tính tình dữ hung

Thợ săn dắt Chó vào cung

Ðể xin được yết kiến cùng Quốc Vương.

*

Chó kia tỏ vẻ khác thường

Tru lên dữ dội như đương bất bình

Lâu đài cung điện rung rinh

Quốc Vương nghe tiếng thất kinh, rụng rời

Ðòi ông thợ tới trước ngai

Tâu trình cho rõ để Ngài được hay.

Thợ săn cung kính tỏ bày:

"Muôn tâu Bệ Hạ Chó này đói ăn

Là tru lên tiếng dữ dằn!"

Ngài truyền cho Chó thức ăn thật nhiều.

Mang bao nhiêu, hết bấy nhiêu!

Chó còn vẫn đói! Còn kêu! Còn đòi!

Ðến khi ăn sạch kho rồi

Chó tru ầm ĩ, đền đài rung rinh

Tưởng chừng như xập cung đình

Quốc Vương nhốn nháo sợ mình lâm nguy

Hỏi ông thợ có cách gì

Làm cho Chó đói im đi tức thời?

*

Thợ săn nghiêm nghị đáp lời:

"Thịt người nó ghét nó thời thích ăn!"

Quốc Vương: "Chó ghét ai chăng?"

"Hôn quân, bạo chúa!", thợ săn trả lời,

"Khi dân no ấm nơi nơi

Chó này lặng tiếng, im hơi, ngoan hiền".

Quốc Vương chợt tỉnh ngộ liền

Ăn năn hối cải lòng riêng dâng tràn

Hối về việc ác từng làm

Khiến dân điêu đứng gian nan, khốn cùng.

*

Phật vừa kể dứt chuyện xong

Mặt Vua tái ngắt, trong lòng xốn xang.

Phật bèn khuyên nhủ nhẹ nhàng:

"Ngày nào nghe chó tru vang trong triều

Nhà Vua hãy nhớ những điều

Trong câu chuyện kể buổi chiều hôm nay

Cách làm cho chó im ngay

Ta tin Bệ Hạ đã hay biết rồi!"

(phỏng theo bản văn xuôi

của Hoàng Minh)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 29988)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25158)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9727)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5830)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 3967)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4724)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4237)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3927)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 14924)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5318)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.