17. Quả báo

29/11/201115:17(Xem: 6854)
17. Quả báo
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(17)
nhan-duyen-qua

Quả báo

Thuở xưa có một nàng dâu

Lẳng lơ, dâm đãng từ lâu trong làng

Ngoại tình nàng mãi mơ màng,

Mẹ chồng còn đó nên nàng âu lo,

Lập mưu, tính kế đắn đo

Làm sao trừ khử bà cho khỏi phiền.

Nàng dâu làm bộ lành hiền

Hết lòng hầu mẹ. Chồng liền cả tin

Trong lòng mừng rỡ vô biên

Nghĩ mình hiếu đễ nhất trên cõi đời.

*

Một ngày vợ khẽ lựa lời:

"Ta nên giúp mẹ thoát nơi bụi trần

Giúp bà siêu thoát linh hồn

Về vùng tiên cảnh hưởng muôn lộc trời

Hưởng bao hạnh phúc tuyệt vời

Vợ chồng ta mới là người con ngoan!"

*

Chồng tin vợ. Lầm kế gian.

Nhỏ to tính toán, cùng bàn: "Khó chi

Mình theo phương pháp Đạo kia

Đào hầm chất củi bốn bề hỏa thiêu

Thế là mẹ sẽ tiêu diêu

Về miền cực lạc bao nhiêu phước lành!"

Vợ chồng vội vã thi hành

Bày ra yến tiệc mời quanh họ hàng,

Tiệc tàn, họ trở về làng

Chỉ còn lại mẹ. Anh chàng thành tâm

Mời bà ngồi xích lại gần

Hầm sâu, lửa đỏ xô chân mẹ vào.

Chàng con khờ khạo biết bao

Nghĩ rằng chắc mẹ trời cao thác về,

Nàng dâu gian ác hả hê

Vợ chồng hoan hỉ ra về cùng nhau.

*

Nào ngờ ở dưới hầm sâu

Có nơi khoảng trống lửa đâu dội vào

Mẹ rơi xuống đó, may sao!

Thân già sống sót xiết bao nhiệm mầu,

Bám cây leo khỏi hầm sâu

Gian nan thân xác, buồn đau cõi lòng

Leo lên vất vả vô cùng

Tới nơi khuya khoắt, một vùng tối tăm

Đường về nhà quá xa xăm

Mẹ trèo lên nhánh cây nằm ẩn thân

Nghỉ đêm kín đáo vô ngần

Cây to rậm rạp nhiều tầng lá xanh.

*

Bỗng đâu có lũ gian manh

Vừa đi ăn trộm ở quanh trong vùng

Đến đây mỏi mệt tạm ngừng

Nằm lăn dưới gốc cây cùng nghỉ ngơi.

Mẹ la hoảng, tiếng động trời

Trộm kia đang ngủ, rụng rời hoảng kinh

Thoát thân ôm của trốn nhanh

Bạc vàng rớt lại cũng đành bỏ rơi.

*

Qua đêm, tới lúc sáng trời

Mẹ leo cây xuống tìm nơi lối về

Chợt nhìn thấy của rơi kia

Bà bèn nhặt lấy rồi đi về nhà.

Nàng dâu thấy mẹ hiện ra

Trong lòng kinh hãi tưởng bà hiển linh,

Anh chồng tưởng mẹ siêu sinh

Giờ đây trở lại thăm mình. Mừng thay!

Đón chào vồn vã nói ngay:

"Con nhờ có vợ chỉ bày cách thiêu

Chắc nay mẹ hưởng lộc nhiều

Con mừng đưa được mẹ yêu lên trời

Mừng nay mẹ ghé về chơi

Vợ con thật quả là người dâu ngoan!"

*

Mẹ nghe xong chợt bàng hoàng

Âm mưu hại mẹ do nàng dâu thôi!

Bà bèn nhỏ nhẹ đôi lời:

"Mẹ nay về được cõi trời nhờ dâu

Phép siêu thăng thật nhiệm màu!"

Bà moi trong túi đưa dâu bạc vàng:

"Ông bà con ở thiên đàng

Gửi con của cải mẹ mang giùm về

Ngọc ngà, châu báu ê hề

Mẹ thời yếu đuối chẳng bê được nhiều

Con nên làm phép hỏa thiêu

Về nơi tiên cảnh lấy nhiều của thêm!"

*

Nàng dâu nổi máu tham lên

Mê mờ con mắt, nghe liền tin ngay

Nhìn chồng khẽ nói mê say:

"Chàng cho phép thiếp mai này siêu thăng

Hỏa thiêu giống mẹ của chàng

Thiếp về tiên cảnh sẽ mang được nhiều

Bạc vàng của cải bao nhiêu

Thiếp mong gom hết ôm theo về nhà

Chúng mình thành đại phú gia

Cho đời nể mặt. Nghĩ mà sướng thay!"

*

Chồng nghe ưng ý theo ngay

Đào hầm, chất củi như ngày mẹ thiêu

Rồi âu yếm nói vợ yêu

Gieo mình lửa đỏ đúng theo phép mầu

Siêu thăng tiên cảnh cho mau

Kẻo ông bà đợi chờ lâu thêm phiền.

*

Ở đời quả báo theo liền

Hại người mưu độc trở nên hại mình

Nàng dâu dâm đãng ngoại tình

Tham lam, gian ác nay đành bỏ thân.

(phỏng theo bản văn xuôi

trích: Gương Nhân Quả)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 29990)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25159)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9727)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5830)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 3968)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4724)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4238)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3928)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 14931)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5320)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.